Dận Tường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Dận Tường
胤祥
Hoàng tử Đại Thanh
Yinxiang.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫuTriệu Giai thị
Tên đầy đủÁi Tân Giác La·Dận Tường
(愛新覺羅·胤祥)
Ái Tân Giác La·Doãn Tường
(愛新覺羅·允祥)
Thụy hiệuDi Hiền Thân vương
(怡賢親王)
Thân phụThanh Thánh Tổ
Thân mẫuKính Mẫn Hoàng quý phi
Sinh(1686-11-17)17 tháng 11, 1686
Mất18 tháng 6, 1730(1730-06-18) (43 tuổi)
An tángDi vương mộ (怡王墓)

Ái Tân Giác La·Dận Tường (chữ Hán: 爱新觉罗·胤祥; 17 tháng 11, năm 1686 - 18 tháng 6, năm 1730), là vị Hoàng tử thứ 13 (tính trong số các Hoàng tử còn sống đến tuổi trưởng thành) của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Hoàng đế.

Ông được biết đến là người anh em thân thiết nhất của Thế Tông Ung Chính Đế. Với lối sống nghĩa hiệp và cương trực của mình, ông được người đời tôn xưng là Hiệp vương (俠王). Sau khi Ung Chính Đế đăng cơ, ông giữ chức vụ Nghị chính Đại thần, vì anh trai mà tận tâm tận lực củng cố chính quyền triều Ung Chính. Vì những đóng góp ấy, ông được ban phong hiệu Di Thân vương (怡親王), trở thành một trong Thiết mạo tử vương của triều Thanh.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Niên thiếu tài giỏi[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử Dận Tường sinh năm Khang Hi thứ 25 (1686), mẹ là Kính Mẫn Hoàng quý phi Chương Giai thị, xuất thân Tương Hoàng kỳ Bao y. Mẹ của ông không có địa vị cao, lại mất sớm khi ông mới chỉ 14 tuổi, do đó ông được nuôi dưỡng bởi Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu - mẹ của Dận Chân, Hoàng tứ tử của Khang Hi Đế, tức Ung Chính Đế. Vì vậy, Dận Tường đã có một mối quan hệ gần gũi với Dận Chân ngay từ nhỏ. Dận Tường có hai người em gái ruột là Hòa Thạc Ôn Khác Công chúa (和碩溫恪公主) và Hòa Thạc Đôn Khác Công chúa (和碩敦恪公主).

Từ năm Khang Hi thứ 37 (1698), tháng 7, Dận Tường hộ giá Khang Hi Đế đến bái yết lăng tẩm Thịnh Kinh, đến Khang Hi thứ 47 (1708), bất kì khi nào Khang Hi Đế xa giá đều có Dận Tường đi theo, cho thấy Hoàng đế đối với đứa con trai này tương đối tín nhiệm[1]. Khoảng năm thứ 41 (1702), Khang Hi Đế Nam tuần, có Hoàng thái tử Dận Nhưng, Hoàng tứ tử Dận Chân cùng Hoàng thập tam tử tùy giá. Ngày nọ, Khang Hi đế ở hành cung triệu tập đại thần cùng các Hoàng tử nghiên tập thư pháp, khi ấy thư pháp của Dận Chân cùng Dận Tường rất được quần thần tán dương[2]. Bên cạnh thư pháp, Dận Tường được ghi lại tinh thông võ nghệ, ông “Tinh thông cưỡi ngựa bắn cung, phát tất mệnh trung”. Có một lần đi tuần săn thú, một con mãnh hổ trong rừng xông ra, Dận Tường thần sắc bất động, cầm trong tay lưỡi dao sắc bén lao về phía trước. Những người trong thấy đều bị bội phục bởi sự dũng mãnh phi thường của ông.

Năm Khang Hi thứ 43 (1704), lão sư của Hoàng bát tử Dận TựHà Trác (何焯) từng khen "Hoàng thập tam tử điện hạ tiền đồ vô lượng".

Bị thất sủng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Khang Hi thứ 47 (1708), sự kiện Phế Thái tử xảy ra, Dận Tường bị liên lụy. Cho đến nay, các sử gia vẫn không đoán được nguyên nhân vì sau từ khoảng này trở đi thì Dận Tường đã bị thất sủng, kéo dài đến năm sau. Năm Khang Hi thứ 48 (1709), lần này khi chọn các Hoàng tử bồi giá đi tuần, Khang Hi Đế bắt đầu dùng "Luân ban chế" (轮班制), mỗi người đều phải thay phiên làm bạn với Hoàng đế đi tuần tra, mục đích chính là Khang Hi Đế muốn các Hoàng tử thôi kết bè phái, nhưng riêng Dận Tường chưa bao giờ được gọi theo luân ban tùy hầu, việc này kéo dài đến tận năm Khang Hi thứ 50 (1711), Dận Tường như cũ chỉ làm Hoàng tử bồi giá, không còn được Hoàng đế yêu thích.

Từ năm Khang Hi thứ 50 (1711), hành trạng của Dận Tường được ghi lại rất ít. Trong những tư liệu ít ỏi ấy, có thể thấy ông đã bị bệnh[3], Khang Hi Đế khi phản hồi tấu chương của Dận Chỉ cũng có từng hỏi qua:"Dận Tường tình trạng thế nào?"[4]. Hoàng tứ tử Dận Chân cũng từng vì Dận Tường mà sai Ngạc Nhĩ Thái tìm kiếm danh y chữa trị cho ông. Tình trạng của ông thẳng đến năm Ung Chính vẫn không ổn, chính Ung Chính Đế từng nói với Niên Canh Nghiêu:"Vương (chỉ Dận Tường) hễ đến mùa là cảm thấy gầy yếu"[5]. Bởi vậy có thể thấy tượng, tình hình sức khỏe của ông thời cuối Khang Hi đã không tốt, nên đối với chuyện tranh vị gay gắt trong giai đoạn này, Dận Tường rất ít liên hệ tới.

Trọng thần thời Ung Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Khang Hi thứ 61 (1722), Hoàng tứ tử Dận Chân lên ngôi, ngay lập tức Dận Tường được trọng dụng, phong làm Hòa Thạc Di Thân vương (和硕怡亲王), đảm nhiệm Nghị chính Đại thần (议政大臣), xử lý các chính vụ quan trọng[6].

Cũng như những người anh em khác, ông bị đổi tên thành [Doãn Tường; 允祥] để tránh kị huý với Hoàng đế. Sau này, Doãn Tường tham gia một phần lớn trong công việc củng cố quyền lực cho Ung Chính Đế dù cho sức khỏe ngày càng giảm sút. Ông được liệt vào một trong các Thiết mạo tử vương dưới thời nhà Thanh, trong đó có một người anh em khác của ông là Trang Khác Thân vương Doãn Lộc. Năm 1725, Doãn Tường được cử đến tỉnh Trực Lệ để tuần sát việc phòng chống lũ và giao thông đường thủy. Khi trở về Bắc Kinh sau đó, ông thường xuyên đổ bệnh.

Năm Ung Chính thứ 8 (1730), ngày 4 tháng 5 (tức ngày 18 tháng 6 dương lịch), Di Thân vương Doãn Tường qua đời, chung niên 45 tuổi. Do công lao to lớn, ông được phối thờ tại Thái Miếu và được truy phong thụy hiệuHiền (賢), còn có tấm biển ghi 8 chữ Trung Kính Thành Trực Cần Thận Liêm Minh (忠敬誠直勤慎廉明) trước thụy hiệu. Ung Chính Đế ngợi ca em trai Di Thân vương, đem chữ "Doãn" trong tên kị húy của ông sửa lại thành "Dận" như cũ, và ra lệnh để tang, không bàn việc quốc sự trong ba ngày. Đây có thể thấy đặc ân to lớn mà Ung Chính Đế thực lòng đối với Dận Tường.

Mộ của ông gọi là Di vương mộ (怡王墓), ở Tây Nam của Bắc Kinh ước chừng 89 km, từ huyện Lai Thủy lấy 12.5 km hướng Bắc, cũng gọi Thập tam gia mồ (十三爷坟). Mộ phần ở vùng núi, có 3 mặt núi bao quanh, dựa núi gần sông, cây rừng um tùm, quay về Tây hướng về Đông, chiếm địa diện tích ước 40 vạn mét vuông, toàn bộ kiến trúc có 30 tòa. Kiến trúc dùng toàn bộ gạch đỏ lục ngói, quy mô to lớn.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Đích Phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Triệu Giai thị (兆佳氏), con gái của Thượng thư Mã Nhĩ Hán (馬爾漢).

Trắc Phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phú Sát thị (富察氏), con gái của Tá lĩnh Tăng Cách (僧格).
  • Ô Tô thị (烏蘇氏), con gái của Đầu đính hộ vệ Kim Bảo (金保).
  • Qua Nhĩ Giai thị (瓜爾佳氏), con gái của Lang trung A Cáp Chiêm (阿哈占).

Thứ thiếp:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thạch Giai thị (石佳氏), con gái của Lĩnh thôi Trang Cách (庄格).
  • Nạp Lạt thị (納喇氏), con gái của Khinh xa đô úy Ngô Nhĩ Đôn (吳爾敦).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai:
  1. Hoằng Xương (弘昌; 1706 - 1771), con của Qua Nhĩ Giai thị, phong hiệu Bối tử (1723), thăng Bối lặc (1735) nhưng bị tước bỏ (1739).
  2. Nhị tử (1708 - 1709), chết non, con của Thạch Giai thị.
  3. Hoằng Thôn (弘暾; 1710 - 1728), con của Triệu Giai thị, sau khi qua đời truy phong Bối lặc, có một con trai còn sống nhưng người này không có con thừa tự.
  4. Hoằng Hiểu (弘晈; 1713 - 1764), con của Triệu Giai thị, thăng Ninh Quận vương (宁郡王) (1730), qua đời truy phong Ninh Lương Quận vương (宁良郡王), có 2 con trai.
  5. Hoằng Quang (弘㫛; 1716 - 1722), chết yểu, con của Triệu Giai thị.
  6. Hoằng Khâm (弘昑; 1716 - 1729), con của Ô Tô thị, thăng Bối lặc (1729) rồi mất.
  7. Hoằng Hiểu (弘晓; 1722 - 1778), con của Triệu Giai thị, thừa tước Di Thân vương (1730), qua đời truy phong Di Hy Thân vương (怡僖親王), có 5 con trai.
  8. Thụ Ân (綬恩; 1725 - 1727), chết non, con của Triệu Giai thị.
  9. A Mục San Lang (阿穆瑚琅; 1726 - 1727), chết non, con của Nạp Lạt thị.
  • Con gái:
  1. Trưởng nữ (1703 - 1776), con của Qua Nhĩ Giai thị, được phong Quận chúa, thành thân với Tát Khắc Tín (薩克信) của tộc Tân Tuế Nhuế (津濟芮) vào năm 1721.
  2. Thứ nữ (1707 - 1726), con của Triệu Giai thị, được phong Quận chúa. Năm 1723 thành thân với Phú Tăng Ngạch (富僧額) của tộc Y Nhĩ Căn Giác La (尔根觉罗).
  3. Tam nữ (1710 - 1711), chết non, con của Phú Sát thị.
  4. Hòa Thạc Hòa Huệ Công chúa (和硕和惠公主; 1714 - 1731), con của Triệu Giai thị, được Ung Chính nhận làm Nghĩa nữ. Năm 1729 thành thân với Đa Nhĩ Tế Tắc Bố Đằng (多爾濟塞布騰) thuộc tộc Bác Nhĩ Tể Cẩm (博尔济锦) của Mông Cổ. Có một con trai là Tang Trai Đa Nhĩ Tế (桑齋多爾濟).

Văn hoá đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Phim ảnh truyền hình Diễn viên
Năm 2011 《Bộ bộ kinh tâm Viên Hoằng
Phim điện ảnh Diễn viên
Năm 2013 《Cung Tỏa Trầm Hương Trần Hiểu

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《清史稿·列传七·诸王六》 :康熙三十七年,从上谒陵。自是有巡幸,辄从。
  2. ^ 《清圣祖实录·康熙四十一年》。
  3. ^ 《世宗宪皇帝御制文集》卷二十七。
  4. ^ 吴玉清,吴永兴.《清朝八大亲王》:学苑出版社,1993年
  5. ^ 《上谕内阁》卷 94,第 235 页。
  6. ^ 《清史稿·列传七·诸王六》 :六十一年,世宗即位,封为怡亲王。寻命总理户部三库。