D. B. Cooper

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
D. B. Cooper
DBCooper.jpg
Một bản phác họa năm 1972 của FBI về D. B. Cooper
SinhChưa rõ
Tên khácDan Cooper
Nghề nghiệpChưa rõ
Nổi tiếng vìKhông tặc một chiếc Boeing 727 vào ngày 24 tháng 11 năm 1971, sau đó nhảy dù khi máy bay vẫn đang bay; cho tới nay, vẫn chưa được nhận dạng hay bị bắt.
Chuyến bay 305 của Northwest Orient Airlines
Boeing 727-251 N256US NWAL MIA 07.02.71 edited-2.jpg
Một chiếc Boeing 727 của Northwest Orient Airlines giống với chiếc bị không tặc
Không tặc
Ngày24 tháng 11 năm 1971
Mô tả tai nạnKhông tặc
Địa điểmPortland, bang Oregon và tại Seattle, bang Washington, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Hành khách36 (và tên không tặc)
Phi hành đoàn6
Bị thươngkhông rõ
Tử vongkhông rõ (do chưa rõ số phận của tên không tặc)
Sống sóttoàn bộ 42 hành khách và phi hành đoàn
Dạng máy bayBoeing 727
Hãng hàng khôngNorthwest Orient Airlines
Số đăng kýN467US
Xuất phátSân bay quốc tế Portland
Điểm đếnSân bay quốc tế Seattle-Tacoma

D. B. Cooper là tên thường được dùng để chỉ tên không tặc người đã cướp một chiếc Boeing 727 giữa không phận Portland, Oregon, và Seattle, Washington, vào ngày 24 tháng 11 năm 1971, và đòi 200.000 $ tiền chuộc (equivalent to $1.180.000 in 2018 $ giá thực tế hiện nay), sau đó nhảy dù khỏi máy bay, số phận của y tới nay vẫn chưa được làm rõ. Dù FBI đã có những cuộc săn người hùng hậu và tới nay vẫn đang điều tra vụ án này, nhưng hung thủ vẫn chưa bị nhận diện hay bị bắt. Vụ án này là vụ không tặc duy nhất chưa được phá trong lịch sử hàng không Mỹ.[1][2][3]

Dù ngay từ đầu, các nhà điều tra FBI cho rằng Cooper không thể sống sót sau cú nhảy mạo hiểm,[4] nhưng họ vẫn theo đuổi vụ án, tìm các chứng cứ, bằng chứng và nhân chứng trong quãng thời gian hơn 45 năm sau vụ án.[5] Cho tới nay, vẫn chưa có bằng chứng thuyết phục nào về nơi chốn và danh tính thật của Cooper. (Nghi phạm đã mua vé lên máy bay với tên giả Dan Cooper, nhưng do nhầm lẫn nên các phương tiện truyền thông thường nhắc tới anh ta với cái tên "D. B. Cooper".)

Vô số giả thuyết với độ thuyết phục khác nhay đã được đưa ra bởi các chuyên gia, phóng viên, và những người đam mê vụ việc.[1][6] Việc phát hiện một khoản tiền chuộc nhỏ vào năm 1980 là ngòi nổ để vụ việc nhận thêm sự quan tâm, nhưng nó chỉ làm bí ẩn càng khó có lời giải, và phần lớn số tiền chuộc vẫn chưa được tìm thấy. Vụ việc là vụ không tặc duy nhất trong lịch sử ngành hàng không Mỹ chưa bị phá.[1][2][3]

Cục điều tra liên bang Mỹ chính thức đình chỉ điều tra vụ việc vào tháng 7 năm 2016, nhưng vẫn sẽ tiếp tục đón nhận bất kì bằng chứng liên quan tới chiếc dù hay khoản tiền chuộc.[7][8]

Vụ không tặc[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ việc bắt đầu vào buổi chiều Lễ Phục Sinh, ngày 24 tháng 11 năm 1971, tại sân bay quốc tế Portland ở, Portland, bang Oregon. Một người đàn ông mang cặp đựng tài liệu đen đến bàn bán vé của hãng hàng không Northwest Orient Airlines. Người này tự xưng danh là "Dan Cooper" và mua một vé một chiều của Chuyến bay 305, một chuyến bay dài 30 phút tới Seattle, bang Washington.[9]

Cooper lên tàu bay, một chiếc Boeing 727-100 (số đăng ký FAA N467US), và ngồi tại ghế 18C[1] (18E bởi một số nguồn khác,[10] 15D bởi một nguồn khác[11]). Người này đã châm một điếu thuốc gọi một ly bourbon và một lon soda. Nhân chứng trên máy bay cho rằng đây là một người trung tuần 40 tuổi, khoảng 5 foot 10 inch (1,78 m) tới 6 foot 0 inch (1,83 m). Anh ta mặc một chiếc áo mưa nhẹ, đi giày đi dạo, một bộ com lê đen, một chiếc áo sơ mi có cổ trắng thẳng nếp, một chiếc cà vạt đen, và một chiếc cà vạt xà cừ.[12]

Lệnh truy nã của FBI đối với D. B. Cooper

Chuyến bay 305, lấp đầy một phần ba chỗ ngồi, cất cánh lúc 2:50 chiều, giờ địa phương (PST). Cooper truyền một lá thư đe dọa cho Florence Schaffner, tiếp viên hàng không gần nhất đang ngồi tại ghê tiếp viên gắn với cửa sau máy bay.[1] Schaffner, rất vui vẻ vì tưởng rằng đã nhận được sô điện thoại của một doanh nhân độc thân, cất tờ giấy vào ví của cô.[13] Cooper ngả người về phía cô và thì thầm, "Cô nên nhìn vào tờ giấy đó thì hơn. Tôi có một quả bom." [gc 1] [14]

Lá thư được in một cách cẩn thận và khéo léo, tất cả các chữ in hoa đều có chân. Lá thư viết[gc 2] "Tôi có bom trong cặp đựng tài liệu. Tôi sẽ kích nổ nếu cần thiết. Tôi muốn cô đến ngồi cạnh tôi. Máy bay đã bị không tặc" [gc 3][15] Schaffner làm như yêu cầu của người đàn ông, sau đó nhẹ nhàng xin được xem quả bom. Cooper mở chiếc cặp đủ dài để cô nhìn thoáng qua tám xy-lanh màu đỏ[16] ("bốn chiếc nằm trên bốn chiếc khác") gắn với một cái dây tráng một lớp vật liệu cách nhiệt đỏ, và một cục pin lớn hình trụ.[17] Sau khi đóng cặp tài liệu, anh ta nêu rõ yêu cầu của mình: 200,000 $ "nội tệ Mỹ ";[18] bốn chiếc dù (hai dù chính và hai dù phụ); một xe chở xăng đợi sẵn tại Seattle để nạp lại xăng ngay khi máy bay hạ cánh.[19] Schaffner truyền tải yêu cầu của Cooper tới buồng lái; khi cô trở lại, anh ta đang đeo kính râm.[20]

Phi công trưởng, William Scott, liên hệ trạm kiểm soát không lưu của sân bay Seattle-Tacoma, nơi này sau đó thông báo với chính quyền liên bang. 36 hành khách còn lại được thông báo rằng việc hạ cánh ở Seattle sẽ có chút chậm trễ do "sự cố kỹ thuật".[21] Chủ tịch hãng Northwest Orient, Donald Nyrop, chuẩn bị tiền chuộc và lệnh cho nhận viên phải hợp tác với tên không tặc.[22] Máy bay vòng quanh Puget Sound trong khoảng hai giờ, thời gian này cho phép cảnh sát Seattle và FBI để đáp ứng các điều kiên của Cooper là dù và tiền chuộc, đồng thời cũng chuẩn bị sẵn xe cứu thương phòng trường hợp có người bị thương.[1]

Schaffner nhớ lại rằng Cooper có vẻ quen với địa hình địa phương; có một lần anh ta nới rằng, "Có vẻ như Tacoma ở dưới đó," khi máy bay bay trên nó. Anh ta cũng chính xác rằng Căn cứ không quân McChord chỉ khoảng 20 phút lái xe cách sân bay Seattle-Tacoma.[23][gc 4] Schaffner miêu tả người đàn ông này là một người bình tĩnh, lịch sự, và giỏi giao tiếp, không chỉ gắn với một khuôn mẫu thường được gắn cho các tên không tặc thời đó. Tina Mucklow, một tiếp viên khác, đồng ý. "Anh ta không hề lo lắng," cô nói với các nhà điều tra. "Anh ta rất tử tế. Anh ta chưa bao giờ hành xử một cách ác độc hay cộc tính. Anh ta rất thông cảm và bình tĩnh trong mọi trường hợp."[23] Anh ta gọi một cốc bourbon thứ hai và một chai nước lọc, trả tiền đồ uống của mình (và nhất quyết bắt Schaffner giữ tiền thừa),[1] và đề nghị đặt bữa ăn cho phi hành đoàn khi dừng chân tại Seattle.[24]

Những đặc vụ FBI gom tiền chuộc từ vài ngân hàng ở Seattle—10,000 tờ 20 đô-la chưa đánh dấu, nhiều tờ có số sê-ri bắt đầu bằng chữ cái "L" cho thấy rằng tờ tiền được phát hành từ Ngân hàng dự trữ Liên bang San Francisco, đa số mang thiết kế "Series 1969-C"[23]—và chụp ảnh mọi tờ tiền.[25] Cooper từ chối dù quân sự được đề nghị bởi chính quyền, đòi những chiếc dù dân dụng với dây dù bung bằng tay. Cảnh sát Seattle có được chúng từ trường dạy nhảy dù địa phương.[23]

Thả hành khách[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc 5:24 chiều Cooper được thông báo là các yêu cầu của anh đã được thực hiện, và vào lúc 5:39 chiều máy bay hạ cánh xuống sân bay Seattle-Tacoma.[26] Cooper hướng dẫn Scott lăn bánh máy bay tới một khu vực cánh biệt, được thắp sáng của đường băng và ngắt điện trong khoang để chặn các tay súng bắn tỉa. Giám đốc hoạt động của Northwest Orient chi nhánh Seattle, Al Lee, tiếp cận máy bay với đồ đi đường bình thường (để tránh việc Cooper nhầm đồng phục của hãng bay với đồng phục cảnh sát) và giao chiếc ba-lô chứa đầy tiền và dù cho Mucklow qua bậc cầu thang ở cửa máy bay.[27] Sau khi việc đưa tiền chuộc và dù hoàn thành Cooper cho phép tất cả mọi hành khách, Schaffner, và tiếp viên hàng không Alice Hancock rời khỏi máy bay.[26]

Khi đang tiếp nhiên liệu Cooper thông báo kế hoạch bay với tổ lái: bay hướng Tây Nam xuống Mexico City ở tốc độ thấp nhất có thể không làm máy bay rơi — khoảng 100 hải lý một giờ (190 km/h; 120 mph) — tại độ cao tối đa 10.000 foot (3.000 m). Anh ta cũng nêu thêm rằng càng hạ cách vẫn phải mở trong trạng thái cất cánh/hạ cánh, cánh tà hạ xuống 15 độ, và khoang hành khách giữ nguyên trạng thái không điều áp.[28] Cơ phó William Rataczak thông báo cho Cooper rằng tầm hoạt động của máy bay khoảng 1.000 dặm (1.600 km) dưới những trường hợp đặc biệt, điều đó có nghĩa là cần nạp nhiên liệu lần nữa trước khi vào không phận Mexico. Cooper và tổ lại tranh luận và đồng ý rằng Reno, Nevada, là nơi đỗ để nạp nhiên liệu.[26] Cuối cùng, Cooper chỉ đạo rằng máy bay cất cánh với cửa thoát hiểm phía sau mở và cầu thang được kéo dài. Đại diện của hãng Northwest phản đối, trên mặt đất với việc cất cánh mà cầu thang vẫn kéo dài. Cooper cho rằng đây là một phương pháp an toàn, nhưng anh ta không tranh luận về điểm này; anh đã tự hạ thấp cái tôi của mình.[29]

Một đại diện của FAA yêu cầu một cuộc gặp trực tiếp với Cooper trên máy bay, nhưng bị từ chối.[30] Quá trình tiếp nhiên liệu bị gián đoạn vì khoá hơi của xe chở nhiên liệu tự động bị hỏng,[31] và Cooper trở nên nghi ngờ;[1] nhưng vẫn cho xe chở nhiên liệu thứ hai đến để nạp nhiên liệu—và chiếc thứ ba sau khi chiếc thứ hai cạn xăng.[26]

Trở lại không trung[sửa | sửa mã nguồn]

Boeing 727 với cầu thang hạ xuống

Vào khoảng 7:40 tối chiếc 727 cất cánh với chỉ Cooper, cơ trưởng Scott, tiếp viên Mucklow, cơ phó Rataczak, và kỹ sư H. E. Anderson trên máy bay. Hai chiếc chiến đấu cơ F-106 cất cánh từ Căn cứ không quân McChord theo sau chiếc máy bay dân dụng, bay song song với nhau, ngoài tầm nhìn của Cooper.[32] Một chiếc máy bay huấn luyện Lockheed T-33, được điều hướng từ một nhiệm vụ của Đội tuần tra trên không Mỹ, theo dõi chiếc 727 đến khi nhiên liệu đạt mức thấp ở gần biên giới bang Oregon và bang California.[33]

Sau khi cất cánh Cooper bảo Mucklow vào buồng lái với các thành viên tổ lái và ở lại khoang khách với cửa không khoá. Khi cô tuân thủ, Mucklow quan sát thấy Cooper buộc cái gì đó xung quanh eo của mình.[34] Vào khoảng 8:00 tối đèn cảnh báo trong khoang lái báo hiệu cầu thang sau đã được kích hoạt. Đề nghị hỗ trợ của phi hành đoàn thông qua hệ thống liên lạc của máy bay đã bị từ chối cộc lốc trong im lặng.[34] Phi hành đoàn sớm nhận thấy một sự thay đổi chủ quan có tác động của áp suất không khí trong khoang hành khách chỉ ra rằng cánh cửa phía sau đã được mở.

Vào khoảng 8:13 tối phần đuôi máy bay duy trì những chuyển động lên đột ngột, đủ đáng kể để phải rút ngắn cánh để cân bằng lại máy bay.[35] Vào khoảng 10:15 tối Scott và Rataczak hạ cánh chiếc 727, với cầu thang vẫn được triển khai, tại sân bay Reno. Nhiều đặc vụ FBI, lính đặc công liên bang, phó cảnh sát trưởng, và cảnh sát Reno bao vây chiếc máy bay, vào lúc đó thì việc Cooper có còn trên máy bay hay không vẫn chưa được xác định; nhưng một cuộc lục soát có vũ trang đã ngay lập tức xác nhận rằng anh ta đã biến mất.[34][36]

Điều tra[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khoang máy bay, các đặc vụ FBI thu được 66 dấu vân tay,[3] Kẹp cà vạt đen của Cooper, và hai trong số bốn chiếc dù,[37] một trong số đó đã được cắt làm hai phần và giấu trên khoang chứa đồ.[38] Nhân chứng ở Portland, Seattle, và Reno, cùng với tất cả mọi cá nhân đã giao tiếp hay tiếp xúc với Cooper đều được thẩm vần. Rất nhiều bức phác hoạ Cooper đã được vẽ theo miêu tả của nhân chứng.[39]

Cảnh sát địa phương và các đặc vụ FBI ngay lập tức tìm kiếm nghi phạm. Một trong những kẻ tình nghi đầu tiên là một người đàn ông Oregon với hồ sơ tội phạm không đáng kể tên là D. B. Cooper, được liên hệ bởi cảnh sát Portland trong một khả năng 50-50 rằng tên không tặc sử dụng danh tính thật để cướp máy bay, hoặc tên này trong các lần gây án trước. Sự liên quan của ông ngay lập tức được loại trừ.[40] Joe Frazier của AP[41]), vội vàng với hạn nộp bài, nhầm lẫn tên nghi phạm đã bị loại với danh tính giả của tên không tặc. Lỗi này đã được vô số phương tiện truyền thông, và cái tên "D. B. Cooper" trở nên nổi tiếng ở các phương tiện thông tin đại chúng.[35]

Đoạn phim hoạt hình ngắn mô tả cầu thang của chiếc 727, được triển khai khi đang trong quá trình bay. Máy điều áp vẫn hoạt động cho đến khi máy bay hạ cánh. (Nhấn để xem đoạn phim)

Địa điểm hạ cánh cụ thể của tên không tặc rất khó có thể xác định, kể cả những khác biệt nhỏ nhất về ước tính tốc độ, hay điều kiện môi trường dọc đường bay (thứ có thể bị tác động đáng kể tới địa điểm và độ cao), cũng có thể thay đổi kế hoạch hạ cánh của Cooper.[42] Một biến số quan trọng là thời gian Cooper rơi tự do trước khi bung giây dù—nếu anh ta cần bung dù thành công.[43] Cả hai máy bay của Không quân Mỹ đều không phát hiện thấy thứ gì bay ra khỏi máy bay, cả khi quan sát bằng mắt thường và trên radar, và cả hai cũng đều không nhìn thấy tán dù bật ra; nhưng vào buổi tối, với tầm nhìn hạn chế và mây mù che khuất quan sát bất kỳ nguồn sáng nào phía dưới, một người đang chao liệng ở phía dưới mặc đồ đen có thể dễ dàng không để bị phát hiện.[44] Phi công của chiếc T-33 chưa bao giờ nhìn thấy chiếc 727 trong suốt hành trình.[45]

Một thí nghiệm nhằm mô phỏng vụ không tặc của Cooper ở cùng đường bay, lái bởi cơ trưởng Scott. Các đặc vụ FBI, đã thả một hình nộm nặng 200 pound (91 kg) ra khỏi cửa máy bay mở, đã có thể tái tạo được các chuyển động lên xuống của phần đuôi được mô tả bởi các phi hành đoàn chuyến bay vào 8:13 tối. Dựa trên thí nghiệm, người ta kết luận rằng 8:13 tối rất có thể là thời gian Cooper nhảy ra khỏi máy bay.[46] Tại thời điểm đó, máy bay đang bay trên bầu trời của sông Lewis ở Tây Nam bang Washington trong một cơn rông lớn.[42]

Phép ngoại suy ban đầu chỉ ra rằng địa điểm hạ cánh của Cooper có thể ở cận nam địa giới của Núi St. Helens, một vài dặm cách Ariel, bang Washington, gần Hồ Merwin, một hồ nhân tạo được hình thành bởi đập trên sông Lewis.[47] Những nỗ lực tìm kiếm tiếp tục tập trung ở các hạt ClarkCowlitz, bao gồm các đặc điểm địa hình xuất hiện ở cả mạn tả và hữu của dòng Lewis ở Tây Nam bang Washington.[48][49] Các đặc vụ FBI và các cơ quan của cảnh sát trưởng đến từ các hạt đó tìm kiếm trên một khu vực rộng có địa hình hiểm trở bằng trực thăng cũng như trên bôj. Gõ cửa từng nhà để thẩm vấn và tìm kiếm tại địa phương cũng không thành công. Các tổ chức tìm kiếm khác tuần tra bằng thuyền trên Hồ Merwin và Hồ Yale, cùng với các hồ chứa trong khu vực.[50] Không có bất kỳ dấu vết nào của Cooper, hay dụng cụ được cho là đã dời khỏi máy bay cùng với tên không tặc được tìm thấy.

FBI cũng đã chỉ đạo một cuộc tìm kiếm, sử dụng máy bay cánh cố định và trực thăng của Đội tìm kiếm cứu hô Quốc gia Oregon, dọc theo cả hành trình chuyến bay (được biết tới với cái tên Victor 23 trong thuật ngữ cơ bản ngành hàng không[51] nhưng được gọi là "Vector 23" trong trường hợp của Cooper literature[1][3][52]) từ Seattle tới Reno. Dù cho vô số ngọn cây gãy và vài mảnh nhựa cùng với vài vật thể khi nhìn từ trên không giống như tán dù được tìm thấy trong cuộc tìm kiếm, tuy nhiên không có thứ gì liên quan tới vụ không tặc được tìm thấy.[53]

Đầu năm 1972, ngay sau mùa tan băng, các đội đặc vụ FBI với sự trợ giúp của khoảng 200 lính từ Trại đóng quân Lewis, cùng với vài lính Không quân, lính Biên phòng, và lính tình nguyện, tiến hành thêm một cuộc tìm kiếm dưới bộ nữ ở khu vực hạt Clark và hạt Cowlitz trong vòng mười tám ngày trong tháng ba, và rồi mười tám ngày nữa trong tháng tư.[54] Công ty Electronic Explorations, một công ty cứu hộ biển, sử dụng tàu ngầm để tìm kiếm dưới độ sâu 200 foot (61 m) ở Hồ Merwin.[55] Hai người phụ nữ địa phương đã bắt gặp một bộ xương người trong một công bỏ hoang tại hạt Clark; điều tra sau đó đưa ra kết luận thi thể thuộc về một nữ thiếu niên đã bị bắt cóc và sát hại vài tuần trước.[56] Cuối cùng, chiến dịch tìm kiếm—được cho là cuộc tìm kiếm rộng, và chuyên sâu nhất trong lịch sử Mỹ—không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào về tên không tặc hay liên quan tới vụ không tặc.[57]

Những tiến triển muộn[sửa | sửa mã nguồn]

Những phân tích sâu hơn chỉ ra sự nghi ngờ về nơi nhảy dù: Scott, người tự lái máy bay (không sử dụng hệ thống lái tự động) do yêu cầu về tốc độ và độ cao của Cooper, sau đó đã xác nhận rằng đường bay của anh đã chếch về phía đông quá nhiều.[5] Dựa trên những số liệu về nhiều nguồn—cụ thể là phi công của Continental Airlines Tom Bohan, người bay sau Chuyến bay 305 khoảng bốn phút—cho rằng hướng gió tác động tới việc hạ cánh dù là sai, cùng lắm thì cũng chỉ ảnh hưởng chếch dù khoảng 80 độ.[58] Điều này và các dự liệu bổ sung cho thấy rằng vùng hạ cánh của dù có lẽ ở phía Nam-Tây Tây Nam so với dự kiến ban đầu, ở khu vực sông Washougal khô hạn.[59]

"Tôi phải thú nhận," điều tra viên trưởng phụ trách vụ án đã nghỉ hưu Ralph Himmelsbach trong cuốn sách năm 1986 của ông, "Nếu tôi [đang] đi tìm Cooper, tôi sẽ hướng thẳng tới Washougal."[60] Thung lũng Washougal và khu vực xung quanh được tìm kiếm bởi vô số cá nhân và các nhóm tìm kiếm; tới nay, chưa có dấu vết nào của tên không tặc được tìm thấy.[5]

Tìm kiếm tiền chuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1971, FBI gửi danh sách số sê-ri tiền chuộc tới mọi viện tài chính, sòng bạc, trường đua, và những nơi khác co lưu lượng tiền lưu thông lớn, cũng như là tới các tổ chức thực thi pháp luật trên thế giới. Công ty Northwest Orient đưa ra khoản tiền thưởng từ 15 phần trăm số tiền còn lại tìm thấy được, cho tới tối đa 25,000 $. Đầu năm 1972 Tổng Chưởng lý Mỹ John Mitchell công bố bản danh sách này cho dân chúng.[61] Năm 1972 hai người đàn ông dùng tờ 20 đô-la giả được in với số sê-ri trong số tiền chuộc cho Cooper để lừa 30,000 $ từ một phóng viên của Newsweek tên Karl Fleming để đổi lấy cuộc phỏng vấn với người giả là Cooper.[62]

Đầu năm 1973, khi toàn bộ số tiền chuộc vẫn chưa có tung tích gì, tờ The (Portland) Oregon Journal xuất bản lại toàn bộ danh sách số sê-ri tiền chuộc và đề nghị khoản tiền thưởng 1,000 $ cho người đầu tiên nộp tiền tới toà soạn báo hoặc bất kỳ cơ sở nào FBI. Tại Seattle, tờ Post-Intelligencer cũng đưa ra đề nghị tương tự với số tiền thưởng là 5,000 $. Đề nghị có thời hạn tới lễ Phục Sinh năm 1974, tuy có vài trường hợp tiền gần khớp số sê-ri, nhưng không có khoản tiền nào trùng khớp số sê-ri được tìm thấy.[63] Năm 1975 công ty bảo hiểm của hãng Northwest Orient, Global Indemnity Co., cùng với lệnh của Toà án Tối cao Minnesota đã trả 180,000 $ tiền bảo hiểm cho hãng hàng không.[64]

Thời hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1976 một cuộc tranh cãi đã phát sinh về thời hiệu hết hạn của vụ không tặc. Đa số các nhà phân tích pháp luật đều đồng ý rằng việc này đem đến ít sự thay đổi chưa nói đến việc rằng nó có thể không đem tới bất kì tiến triển nào trong việc điều tra,[65] việc giải thích quy chế pháp luật rất đa dạng, khác biệt và mang tính đặc thù dễ để có thể nhận thấy từ vụ án này qua vụ án khác và từ toà án này tới toà án khác, và ngoài ra, các thanh tra có thể tranh cãi về việc Cooper có cơ hội được miễn án dựa trên một vài cơ sở pháp lý hợp lệ hay không.[66][67] Câu hỏi đã được giải đáp vào tháng 11 khi một bồi thẩm đoàn đưa ra một bản cáo trạng vắng mặt đối với "John Doe, còn biết tới với cái tên Dan Cooper" vì tội không tặc và vi phạm Đạo luật Hobbs.[68] Cáo trạng tuyên bố rằng công tác điều tra vụ án có thể tiếp tục và nếu có thể thì phải bắt và khởi tố bị cáo tại bất kỳ thời điểm nào trong tương lai.[66]

Bằng chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1978 một tờ yến thị trong nội dung chứa cách để mở cầu thang trong lúc bay của máy bay 727 được tìm thấy bởi một thợ săn hươu gần một con đường mòn, khoảng 13 dặm (21 km) phía Đông Castle Rock, Washington, khoảng cách quá xa về phía Bắc so với Hồ Merwin, nhưng thuộc đường bay của Chuyến bay 305.[69]

Một phần của phát hiện của Brian Ingram năm 1980

Vào tháng 2 năm 1980 một cậu bé tám (8) tuổi tên Brian Ingram, khi đang đi nghỉ mát cùng gia đình ở Sông Columbia cách khoảng 9 dặm (14 km) về phía hạ lưu so với Vancouver, Washington, và khoảng 20 dặm (32 km) Tây Nam Ariel, phát hiện ba bọc tiền có chứa tiền chuộc, bị hư hỏng và tan nặng nhưng vẫn được bó chặt lại với nhau bởi chun cao su, khi cậu bé cào đất ở bờ sông đầy cát bụi để nhóm lửa trại.[70] Các kỹ thuật viên của FBI xác nhận rằng toàn bộ số tiền đúng là một phần tiền chuộc trong đó có hai tập tiền có chứa 100 tờ hai mươi đô la mỗi tập, và tập tiền thứ ba có 90 tờ tiền, tất cả đều theo thứ tự sắp xếp khi số tiến chuộc được đưa cho Cooper.[71]

Sự khám phá đã đưa ra nhiều phỏng đoán, và cuối cùng gây nên nhiều câu hỏi hơn câu trả lời. Các phát ngôn ban đầu bởi các nhà điều tra và những nhà cố vấn khoa học đưa ra giả định rằng các bó tiền trôi tự do trên dòng Columbia từ một trong rất nhiều nhánh tiến chuộc. Một Công ty kỹ thuật quân đội quân sự Mỹ nghiên cứu về thuỷ văn học nhận thấy rằng các tờ tiền bị phân huỷ có tính trạng bị "mép tròn hoá", và kết dính vào nhau, chỉ ra rằng chúng đã bị phân huỷ bởi tác động của ngoại lực trong trường hợp này là bởi tác động của dòng chảy dòng sông, ngược lại với giả thiết rằng chúng đã bị chôn vùi trong cát gần lòng sông.[72] Nếu thật vậy, nó đã xác nhận rằng Cooper không hạ cánh gần Hồ Merwin, hay phần khác của Sông Lewis, vì dòng Lewis hợp dòng với Sông Columbia khá xa về phía hạ lưu dòng chảy so với nơi tìm thấy những tập tiền chuộc; và nó được tin là bằng chứng bổ sung cho nhiều giả thiết (xem Những tiến triển muộn ở phía trên) cho rằng nơi hạ cánh của Cooper gần Sông Washougal, dòng sông đã hợp dòng với Sông Columbia thượng nguồn so với nơi tìm thấy các tập tiền.[73]

Nhưng giả thiết về việc "trôi tự do" cũng có những thiếu sót; nó không giải thích việc đúng mười tờ tiền biến mất từ một trong số các tập tiền, hay những lời giải thích lô-gíc về việc ba tập tiền vẫn ở bên nhau sau khi bị tách khỏi số tiền còn lại. Các bằng chứng không thể giải thích các bằng chứng địa chất: Himmelsbach quan sát thấy những tập tiền trôi tự do phải bọ rửa trôi trên bờ sông "sau vài năm" của vụ không tặc; nếu không thì các sợi chun cao su phải bị phân huỷ hoặc hư hỏng nặng.[74] Các bằng chứng địa chất, chỉ ra rằng những tờ tiền đến nơi họ tìm ra chúng—một địa điểm sát biển được gọi là Tina (hay Tena) Bar—rất lâu sau năm 1974, năm mà công ty "Corps of Engineers" tiến hành nạo vét dòng sông. Nhà địa chất Leonard Palmer đến từ Đại học Bang Portland tìm thấy hai lớp trầm tích riêng biệt giữa các lớp đất sét bên bờ sông khi nạo các lớp bùn và các lớp cát ở nơi tìm thấy những tập tiền, chỉ ra rằng việc nạo vét lòng sông hoàn thành lâu trước khi những tờ tiền xuất hiện.[72][75] Đội Nghiên cứu Cooper phản đối kết luận của Palmer, đưa ra nhiều bằng chứng rằng các lớp đất sét lắng cặn một cách tự nhiên. Nếu phát hiện dó chính xác, thì thời gian tập tiền đến nơi chúng được phát hiện chỉ trước chưa đầy một năm cậu bé tìm thấy chúng (dựa trên việc thí nghiệm chun cao su), không giải thích tại sao nó lại đến từ Tina Bar, hay nó đến từ đâu.[76]

Rất nhiều các giả thiết thay thế được tại ra. Một vài cho rằng những tập tiền đã được tìm thấy tại một nơi khác bởi một người (hoặc có thể kể cả động vật hoang dã) không xác định, mang tới bờ sông, và vùi nó ở đó. Cũng có khả năng là tiền đã được tìm thấy bên bờ sông từ trước, có lẽ là trong quá trình nạo vét, nhưng vẫn bị vùi xuống lớp cát.[77] Cảnh sát trưởng Hạt Cowlitz cho rằng Cooper vô tình đánh rơi vài tập tiền ở cầu thang máy bay, rồi chúng bị thổi khỏi máy bay khi Cooper nhảy và rơi xuống Sông Columbia. Một biên tập viên của tờ báo địa phương đưa ra giả thiết rằng Cooper, biết rằng mình không bao giờ có thể tiêu được những tờ tiền, đã vứt hoặc tự tay chôn tiền xuống bờ sông (có thể là ở cả các nơi khác).[78] Không giả thiết nào thoả mãn tất cả những bằng chứng đã được tìm thấy: "Những tờ tiền tiếp tục chống lại mọi cách giải thích tự nhiên làm sao nó đã tới Tena Bar."[74]

Vào năm 1981 một hộp sọ của người được tìm thấy ở cùng bờ sông nơi các tập tiền được tìm thấy trong một đợt khai quật để tìm thêm bằng chứng. Những nhà giám định pháp y bệnh lý học đưa ra kết luận rằng hộp sọ đó là của một phụ nữ, nhiều khả năng là tổ tiên của Thổ dân Bản địa Mỹ.[3]

Vào năm 1986, sau một vụ thương lượng kéo dài, những tờ tiền trục vớt được được chia đều cho Ingram và hãng bảo hiểm của Northwest Orient; FBI tịch thu 14 tờ tiền làm bằng chứng.[61][79] Ingram đã bán mười lăm trong số các tờ tiền của anh ấy trong một cuộc đấu giá năm 2008 để đổi lấy 37,000 $.[80] Tới nay, không trong số 9.710 tờ tiền còn lại được tìm thấy tại bất kỳ nơi nào trên khắp thế giới. Số sê-ri của chúng vẫn được đưa lên mạng để tiện cho công chúng tra cứu.[81]

Vào năm 1988 một tán dù lạ được trục vớt từ đáy Sông Columbia, cùng đoạn sông nơi phát hiện ra những tờ tiền, nhưng các chuyên gia của FBI khẳng định rằng nó không thể là dù của Cooper.[82] Vào năm 2008 một đám trẻ tìm thấy một chiếc dù nữa gần Amboy, Washington, cách 6 dặm (9,7 km) về phía Nam so với Hồ Merwin, thứ mà sau nầy được chứng minh là có từ thời Thế chiến thứ II và có nguồn gốc từ quân đội.[83][84][85] Những tờ tiền chuộc được trục vớt từ Sông Columbia và tờ yến thị hướng dẫn mở cầu thang máy bay vẫn đnag là hai bằng chứng vững chắc duy nhất từ vụ không tặc từng được tìm thấy ngoài máy bay.[86]

Các tiết lộ khác của FBI[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 2007, FBI thông báo đã thu được từng phần mẫu ADN từ ba mẫu vật chất hữu cơ tìm thấy ở cà vạt của kẻ không tặc từ năm 2001,[42] tuy nhiên, sau đó họ nhận ra rằng không có bằng chứng nào ủng hộ việc những mẫu vật chất tìm thấy đến từ tên không tặc. "Trên chiếc cà vạt có hai mẫu ADN nhỏ, avà một mẫu lớn," Đặc vụ Fred Gutt nói. "Rất khó có thể đưa ra chứng cớ thuyết phục từ các mẫu vật này."[87] FBI cũng công bố công khai về một bản điều tra chứng cứ, trong đó có cả vé máy bay của Cooper từ Portland tới Seattle (giá: 18.52 $ chưa bao gồm thuế, tổng cộng là 20.00 $, được trả bằng tiền mặt).[88]

Họ cũng tiết lộ rằng Cooper sử dụng hai chiếc dù đời cũ khi nhảy, chứ không sử dụng những chiếc dù chuyên dụng; và trong hai chiếc dù còn lại, anh ta chọn một chiếc dù "tập sự"—một loại dù không sử dụng được với dây dù bị vô hiệu hoá và chỉ dùng để sử dụng trong các lớp học,[42] dù nó đã được đánh dấu rõ ràng đối với những người nhảy dù có nhiều kinh nghiệm là không sử dụng được.[89] (Anh ta xé chiếc còn lại, một chiếc dù dự trữ có thể hoạt động tốt, có thể được sử dụng để bọc và che túi tiền,[42] và gắn chặt túi tiền vào người như Mucklow đã chứng kiến.[34]) FBI chiếc dù tập sự, một trong bốn chiếc được cung cấp bởi trường dạy nhảy dù ở Seattle, là một vụ việc không cố ý.[88] Thêm vào đó, cơ quan tình báo cũng đưa ra các bản mẫu hình vẽ kẻ không tặc, cùng với việc công chúng cung cấp thông tin về nơi chốn cũng như danh tính của người giống trong hình vẽ Cooper để có thể nhận dạng đối tượng.[39][42][90]

Tháng 3 năm 2009, FBI tiết lộ rằng Tom Kaye, một nhà khảo cổ học và cổ sinh vật học đến từ Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên và Văn hóa Burke ở Seattle, đã thành lập một nhóm "công dân điều tra" trong đó có cả nhà khoa học Carol Abraczinskas và nhà lọc khoáng sinh vật học Alan Stone. Nhóm này, bây giờ được biết tới với cái tên "Đội điều tra Cooper"[gc 5],[91] hiện đang sử dụng các công nghệ mà chưa xuất hiện vào năm 1971 để điều tra lại các bằng chứng sẵn có và quan trọng của vụ án. Sử dụng GPS và hình ảnh vệ tinh, họ đang cố gắng để xác định liệu số tiền được tìm thấy bởi Ingram có thể trôi tự do tới nơi được tìm thấy, hay nó được tìm thấy ở nơi khác và bị đem đi chôn ở đó. Họ cũng nghiên cứu lại đường bay của chiếc Boeing 727 từ Seattle tới Reno để có thể dự đoán nơi hạ cánh của Cooper một cách chính xác hơn.[86] Sử dụng kính hiển vi điện tử để khám nghiệm hàng trăm phân tử trên cà vạt của Cooper, họ đã phát hiện nhiều bào tử Lycopodium (nhiều khả năng các bào tử này có xuất xứ từ dược phẩm), cùng nhiều nguyên tử bismuthnhôm.[91]

Vào tháng 11 năm 2011 Kaye tuyên bố rằng đã tìm thấy vài nguyên tử titanium nguyên chất (không bị pha trộn tạp chất) trên chiếc cà vạt. Anh giải thích rằng titan là thứ rất hiếm và không được sử dụng rộng rãi vào những năm 1970 như bây giờ, nó chỉ xuất hiện trong ngành giả kim, các dây chuyền sản xuất, hoặc tại các công ty hoá chất (kết hợp với nhôm) để bảo quản các chất hoặc hợp chất có tính ăn mòn cao.[92] Những điều đã được tìm thấy, Kaye nói, chỉ ra rằng Cooper có thể là một nhà hoá học hay một nhà lọc khoáng học, hoặc cũng có thể là một quản lý hay kỹ sư (những nhân viên duy nhất làm việc trong các cơ sở được phép mang cà vạt vào khoảng thời gian đó) trong một nhà máy hoá chất hoặc sản xuất kim loại,[93] hoặc một công ty mua bán sắt vụn từ các loại công ty kể trên.[74]

Vào đầu tháng 7 năm 2016, Cục điều tra liên bang Mỹ đã kết thúc việc điều tra vụ án của Cooper, với lý do "có nhiều ưu tiên phải làm trước mắt", nhưng nhấn mạnh rằng hồ sơ vụ án vẫn mở. Cục vẫn kêu gọi và mong đợi nhận được thêm các bằng chứng về vụ án nhất là về chiếc dù và phần chưa được tìm thấy của khoản tiền chuộc.[8]

Giả thuyết và các phỏng đoán[sửa | sửa mã nguồn]

FBI sketch of Cooper, with age progression

In the years since the hijacking the FBI has periodically made public some of its working hypotheses and tentative conclusions about the case, drawn from witness testimony and the scarce physical evidence.[94]

The official physical description remains unchanged and is considered reliable. Flight attendants Schaffner and Mucklow, who spent the most time with Cooper, were interviewed on the same night in separate cities,[4] and gave nearly identical descriptions: 5 foot 10 inch (1,78 m) to 6 foot 0 inch (1,83 m) tall, 170 đến 180 pound (77 đến 82 kg), mid-40s, with close-set piercing brown eyes. Passengers and other eyewitnesses gave very similar descriptions.[95]

Agents believe that Cooper was familiar with the Seattle area and may have been an Air Force veteran, based on testimony that he recognized the city of Tacoma from the air as the jet circled Puget Sound, and his accurate comment to Mucklow that McChord Air Force Base was approximately 20 minutes' driving time from the Seattle-Tacoma Airport—a detail most civilians would not know, or comment upon.[23] His financial situation was very likely desperate, as extortionists and other criminals who steal large amounts of money nearly always do so, according to experts, because they need it urgently; otherwise, the crime is not worth the considerable risk.[96] (A minority opinion is that Cooper was "a thrill seeker" who made the jump "just to prove it could be done."[60])

Agents theorize that he took his alias from a popular Belgian comic book series of the 1970s featuring the fictional hero Dan Cooper, a Royal Canadian Air Force test pilot who took part in numerous heroic adventures, including parachuting. (One cover from the series, reproduced on the FBI web site, depicts test pilot Cooper skydiving in full paratrooper regalia.[86]) Because the Dan Cooper comics were never translated into English nor imported to the US, they speculate that he may have encountered them during a tour of duty in Europe.[86] Tom Kaye's Cooper Research Team (see Ongoing investigation) has suggested the alternative possibility that Cooper was Canadian, and found the comics in Canada, where they were also sold.[97] They note his specific demand for "negotiable American currency",[19] a phrase seldom if ever used by American citizens; since witnesses stated that Cooper had no distinguishable accent, Canada would be his most likely country of origin if he were not a United States citizen.[98]

The FBI task force believes that Cooper was a careful and shrewd planner. He demanded four parachutes to force the assumption that he might compel one or more hostages to jump with him, thus ensuring he would not be deliberately supplied with sabotaged equipment.[99] He chose a 727-100 aircraft because it was ideal for a bail-out escape, due not only to its aft airstair, but also the high, aftward placement of all three engines, which allowed a reasonably safe jump without risk of immediate incineration by jet exhaust. It had "single-point fueling" capability, a recent innovation which allowed all tanks to be refueled rapidly through a single fuel port. It also had the ability (unusual for a commercial jet airliner) to remain in slow, low-altitude flight without stalling; and Cooper knew how to control its air speed and altitude without entering the cockpit, where he could have been overpowered by the three pilots.[100] In addition, Cooper was familiar with important details, such as the appropriate flap setting of 15 degrees (which was unique to that aircraft), and the typical refueling time. He knew that the aft airstair could be lowered during flight—a fact never disclosed to civilian flight crews, since there was no situation on a passenger flight that would make it necessary—and that its operation, by a single switch in the rear of the cabin, could not be overridden from the cockpit.[101] He may even have known that the Central Intelligence Agency had been using 727s to drop agents and supplies behind enemy lines during the Vietnam War.[102]

Cooper's meticulous planning may also have extended to the timing of his operation, and even his choice of attire, according to Kaye's research team. "The FBI searched but couldn't find anyone who disappeared that weekend," Kaye wrote, suggesting that the perpetrator may have simply returned to his normal occupation. "If you were planning on going 'back to work on Monday', then you would need as much time as possible to get out of the woods, find transportation and get home. The very best time for this is in front of a four-day weekend, which is the timing Dan Cooper chose for his crime." Furthermore, "if he was planning ahead, he knew he had to hitchhike out of the woods, and it is much easier to get picked up in a suit and tie than in old blue jeans."[74]

Despite his careful planning and attention to detail, the Bureau feels strongly that Cooper lacked crucial skydiving skills and experience. "We originally thought Cooper was an experienced jumper, perhaps even a paratrooper," said Special Agent Larry Carr, leader of the investigative team since 2006. "We concluded after a few years this was simply not true. No experienced parachutist would have jumped in the pitch-black night, in the rain, with a 200-mile-an-hour wind in his face, wearing loafers and a trench coat. It was simply too risky. He also missed that his reserve 'chute was only for training, and had been sewn shut—something a skilled skydiver would have checked."[86] He also failed to bring or request a helmet,[103] chose to jump with the older and technically inferior of the two primary parachutes supplied to him,[42] and jumped into a −70 °F (−57 °C) wind chill.[104]

Assuming that Cooper was not a paratrooper, but was an Air Force veteran, Carr believes that he could have been an aircraft cargo loader. Such an assignment would have given him knowledge and experience in the aviation industry; and loaders—because they throw cargo out of flying aircraft—wear emergency parachutes and receive rudimentary jump training. Such training would have given Cooper a working knowledge of parachutes—but "not necessarily sufficient knowledge to survive the jump he made."[105]

The Bureau has argued from the beginning that Cooper did not survive his jump.[86] "Diving into the wilderness without a plan, without the right equipment, in such terrible conditions, he probably never even got his 'chute open," said Carr.[4] Even if he did land safely, agents contend, survival in the mountainous terrain would have been all but impossible without an accomplice at a predetermined landing point, which would have required a precisely timed jump—necessitating, in turn, cooperation from the flight crew. There is no evidence that Cooper had any such help from the crew, nor any clear idea where he was when he jumped into the stormy, overcast darkness.[95]

Những vụ không tặc tương tự[sửa | sửa mã nguồn]

Cooper không phải người đầu tiên không tặc để đem lại tiền bạc cho bản thân; hai tuần trước vụ không tặc của Cooper, Paul Cini đã không tặc một chiếc DC-8 của Air Canada trên bầu trời Montana, nhưng đã bị áp đảo và khống chế bởi phi hành đoàn khi đặt khẩu súng của mình cạnh chiếc dù.[106] Thành công của Cooper rõ ràng đã tạo cảm hứng cho hàng loạt những tên không tặc sau này.[107] Đa phần những "kẻ bắt chước" gây án vào năm các năm tiếp theo. Một vài ví dụ là:

  • Garrett Brock Trapnell cướp một chiếc máy bay của TWA khởi hành từ Los Angeles đi New York City vào tháng 1 năm 1972. Anh ta yêu cầu đúng 306,800 $ tiền mặt, thả tự do cho nhà hoạt động chính trị Angela Davis, và một buổi hội đàm với Tổng thống Richard Nixon. Sau khi máy bay hạ cánh xuống Sân bay Kennedy anh ta đã bị bắn trọng thương bởi các đặc vụ FBI trước khi bị bắt.[108]
  • Richard Charles LaPoint, cựu quân nhân, "tay lười bãi biển New England",[109] đã mua vé lên Chuyến bay 800 của Hughes Airwest tại Sân bay McCarran ở Las Vegas ngày 20 tháng 1 năm 1972. Khua một vật mà anh ta gọi là bom khi chiếc DC-9 đang chuyển bánh trên đường lăn, anh ta đòi 50,000 $ tiền chuộc, hai chiếc dù, và một chiếc mũ bảo hiểm.[110] After releasing the passengers and two flight attendants he ordered the plane on an eastward trajectory toward Denver,[111] then bailed out over the treeless plains of northeastern Colorado. Authorities, tracking the locator-equipped parachute and his footprints in the snow and mud, apprehended him a few hours later.[112][113][114]
  • Richard McCoy, Jr., a former Army Green Beret,[115] hijacked a United Airlines 727-100 in April after it left Denver, Colorado, diverted it to San Francisco, then bailed out over Utah with $500,000 in ransom money. He landed safely, but was arrested two days later.[116]
  • Frederick Hahneman used a handgun to hijack an Eastern Airlines 727 in Allentown, Pennsylvania, in May, demanded $303,000, and eventually parachuted into Honduras, his country of birth. A month later, with the FBI in pursuit and a $25,000 bounty on his head, he surrendered to the American Embassy in Tegucigalpa.[117][118]
  • Robb Dolin Heady, a paratrooper and Vietnam veteran, stormed a United Airlines 727 in Reno in early June, extorted $200,000 and two parachutes, and jumped into darkness near Washoe Lake, about 25 dặm (40 km) south of Reno. Police found Heady's car (sporting a United States Parachute Association bumper sticker) parked near the lake and arrested him as he returned to it the next morning.[119][120]
  • Martin McNally, an unemployed service station attendant, used a submachine gun in late June to commandeer an American Airlines 727 en route from St. Louis to Tulsa, then diverted it eastward to Indiana and bailed out with $500,000 in ransom.[121] McNally lost the ransom money as he exited the aircraft, but landed safely near Peru, Indiana, and was apprehended a few days later in a Detroit suburb.[122]

In all, a total of 15 hijackings similar to Cooper's—all unsuccessful—were attempted in 1972.[123] With the advent of universal luggage searches in 1973 (see Airport security) the general incidence of hijackings dropped precipitously.[124] There were no further notable Cooper imitators until July 11, 1980, when Glenn K. Tripp seized Northwest flight 608 at Seattle-Tacoma Airport, demanding $600,000 ($100,000 by an independent account),[125] two parachutes, and the assassination of his boss. After a ten-hour standoff he was apprehended, but on January 21, 1983—while still on probation—he hijacked the same Northwest flight, this time en route, and demanded to be flown to Afghanistan. When the plane landed in Portland he was shot and killed by FBI agents.[126]

Suspects[sửa | sửa mã nguồn]

Since 1971 the FBI has processed over a thousand "serious suspects" along with assorted publicity seekers and deathbed confessors, most of whom have been definitively ruled out.[3] Some notable examples:

Kenneth Christiansen[sửa | sửa mã nguồn]

In 2003 a Minnesota resident named Lyle Christiansen, after watching a television documentary about the Cooper hijacking, became convinced that his late brother Kenneth was D. B. Cooper.[1] After repeated futile attempts to convince first the FBI, and then the author and film director Nora Ephron (whom he hoped would make a movie about the case), he contacted a private investigator in New York. In 2010 the detective, Skipp Porteous, published a book[127] postulating that Christiansen was indeed the hijacker. In early 2011 an episode of the History series Brad Meltzer's Decoded also summarized the circumstantial evidence linking Christiansen to the Cooper case.[128]

Christiansen enlisted in the Army in 1944 and was trained as a paratrooper. The war had ended by the time he was deployed in 1945, but he made occasional training jumps while stationed in Japan with occupation forces in the late 1940s. After leaving the Army he joined Northwest Orient in 1954 as a mechanic in the South Pacific, and subsequently became a flight attendant, and then a purser, based in Seattle.[1] Christiansen was 45 years old at the time of the hijacking, but he was shorter (5 ft. 8 in.), thinner (150 pounds), and lighter complected than eyewitness descriptions.[1] Christiansen smoked (as did the hijacker), and displayed a particular fondness for bourbon (Cooper's preferred beverage). He was also left-handed. (Evidence photos of Cooper's black tie show the tie clip applied from the left side, suggesting a left-handed wearer.[4]) Flight attendant Florence Schaffner told a reporter that photos of Christiansen fit her memory of the hijacker's appearance more closely than those of other suspects she had been shown.[1] (Tina Mucklow, who had the most contact with Cooper, has never granted a press interview).[129]

Christiansen reportedly purchased a house with cash a few months after the hijacking. While dying of cancer in 1994 he told Lyle, "There is something you should know, but I cannot tell you." Lyle said he never pressed his brother to explain.[1] After Christiansen's death family members discovered gold coins and a valuable stamp collection, along with over $200,000 in bank accounts. They also found a folder of Northwest Orient news clippings which began about the time he was hired in the 1950s, and stopped just prior to the date of the hijacking, despite the fact that the hijacking was by far the most momentous news event in the airline's history. Christiansen continued to work part-time for the airline for many years after 1971, but apparently never clipped another Northwest news story.[1]

Despite the publicity generated by Porteous's book and the 2011 television documentary, the FBI is standing by its position that Christiansen cannot be considered a prime suspect.[42][130] They cite a poor match to eyewitness physical descriptions, a level of skydiving expertise above that predicted by their suspect profile, and an absence of direct incriminating evidence.[131]

William Gossett[sửa | sửa mã nguồn]

William Pratt Gossett was a Marine Corps, Army, and Army Air Force veteran who saw action in Korea and Vietnam. His military experience included advanced jump training and wilderness survival. After retiring from military service in 1973 he worked as an ROTC instructor, taught military law at Weber State University in Ogden, Utah, and hosted a radio talk show in Salt Lake City which featured discussions about the paranormal.[132] He died in 2003.[133]

Gossett was widely known to be obsessed with the Cooper hijacking. He amassed a voluminous collection of Cooper-related news articles, and told one of his wives that he knew enough about the case to "write the epitaph for D.B. Cooper". Late in his life he reportedly told three of his sons, a retired Utah judge, and a friend in the Salt Lake City public defender's office that he had committed the hijacking.[133] Photos of Gossett taken circa 1971 bear a close resemblance to the most widely circulated Cooper composite drawing.[134]

According to Galen Cook, a lawyer who has collected information related to Gossett for years, Gossett once showed his sons a key to a Vancouver, British Columbia safe deposit box which, he claimed, contained the long-missing ransom money.[135] Gossett's eldest son, Greg, said that his father, a compulsive gambler who was always "strapped for cash", showed him "wads of cash" just before Christmas 1971, weeks after the Cooper hijacking. He speculated that Gossett gambled the money away in Las Vegas.[136]

In 1988 Gossett changed his name to "Wolfgang" and became a Catholic priest, which Cook and others interpreted as an effort to disguise his identity.[132] Other circumstantial evidence includes testimony that Cook claims to have obtained from William Mitchell, a passenger on the hijacked aircraft, regarding a mysterious "physical detail" (which he will not divulge) common to the hijacker and Gossett.[137] Cook also claims to have found "possible links" to Gossett in each of four letters signed by "D.B. Cooper" and mailed to three newspapers within days after the hijacking, although there is no evidence that the actual hijacker created or mailed any of the letters.[138]

The FBI has no direct evidence implicating Gossett, and cannot even reliably place him in the Pacific Northwest at the time of the hijacking.[139] "There is not one link to the D.B. Cooper case," said Special Agent Carr, "other than the statements [Gossett] made to someone."[140]

Richard Floyd McCoy, Jr.[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Richard McCoy, Jr.

McCoy was an Army veteran who served two tours of duty in Vietnam, first as a demolition expert, and later, with the Green Berets, as a helicopter pilot.[141] After his military service he became a warrant officer in the Utah National Guard and an avid recreational skydiver, with aspirations, he said, of becoming a Utah State Trooper.[142]

On April 7, 1972 McCoy staged the best-known of the so-called "copycat" hijackings (see above).[143] He boarded United Airlines' Flight 855 (a Boeing 727 with aft stairs) in Denver, and brandishing what later proved to be a paperweight resembling a hand grenade and an unloaded handgun, he demanded four parachutes and $500,000.[144] After delivery of the money and parachutes at San Francisco International Airport, McCoy ordered the aircraft back into the sky and bailed out over Provo, Utah, leaving behind his handwritten hijacking instructions and his fingerprints on a magazine he had been reading.[145] He was arrested on April 9 with the ransom cash in his possession, and after trial and conviction, received a 45-year sentence.[146] Two years later he escaped from Lewisburg Federal Penitentiary with several accomplices by crashing a garbage truck through the main gate.[147] Tracked down three months later in Virginia Beach, McCoy was killed in a shootout with FBI agents.[143][148]

In their 1991 book, D.B. Cooper: The Real McCoy,[149] parole officer Bernie Rhodes and former FBI agent Russell Calame asserted that they had identified McCoy as D.B. Cooper. They cited obvious similarities in the two hijackings, claims by McCoy's family that the tie and mother-of-pearl tie clip left on the plane belonged to McCoy, and McCoy's own refusal to admit or deny that he was Cooper.[143][150] A principal proponent of their theory was the FBI agent who killed McCoy. "When I shot Richard McCoy," he said, "I shot D. B. Cooper at the same time."[143]

While there is no reasonable doubt that McCoy committed the Denver hijacking, the FBI does not consider him a suspect in the Cooper case because of significant mismatches in his age (29) and description; a level of skydiving skill well above that thought to be possessed by the hijacker;[4] and credible evidence that McCoy was in Las Vegas on the day of the Seattle hijacking,[61] and at home in Utah the day after, having Thanksgiving dinner with his family.[130][151]

Duane Weber[sửa | sửa mã nguồn]

Duane L. Weber was a World War II Army veteran who served time in at least six prisons from 1945 to 1968 for burglary and forgery. He was proposed as a suspect by his widow, based primarily on a deathbed confession: Three days before he died in 1995, Weber told his wife, "I am Dan Cooper." The name meant nothing to her, she said; but months later, a friend told her of its significance in the hijacking. She went to her local library to research D.B. Cooper, found Max Gunther's book, and discovered notations in the margins in her husband's handwriting.[3]

She then recalled, in retrospect, that Weber once had a nightmare during which he talked in his sleep about jumping from a plane, leaving his fingerprints on the "aft stairs".[152] He also reportedly told her that an old knee injury had been incurred by "jumping out of a plane". Like the hijacker, Weber drank bourbon and chain smoked. Other circumstantial evidence included a 1979 trip to Seattle and the Columbia River, during which Weber took a walk alone along the river bank in the Tina Bar area; four months later Brian Ingram made his ransom cash discovery in the same area.[3]

The FBI eliminated Weber as an active suspect in July 1998 when his fingerprints did not match any of those processed in the hijacked plane,[152] and no other direct evidence could be found to implicate him.[3] Later, his DNA also failed to match the samples recovered from Cooper's tie,[42][130] though the Bureau has since conceded that they cannot be certain that the organic material on the tie came from Cooper.[87]

John List[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: John List

John Emil List was an accountant and World War II and Korea veteran who murdered his wife, three teenage children, and 85-year-old mother in Westfield, New Jersey fifteen days before the Cooper hijacking, withdrew $200,000 from his mother's bank account, and disappeared.[153] He came to the attention of the Cooper task force due to the timing of his disappearance, multiple matches to the hijacker's description, and the reasoning that "a fugitive accused of mass murder has nothing to lose."[144][154] After his capture in 1989, List admitted to murdering his family, but denied any involvement in the Cooper hijacking. While his name continues to crop up in Cooper articles and documentaries, no direct evidence implicates him, and the FBI no longer considers him a suspect.[155] He died in prison in 2008.[156]

Barbara Dayton[sửa | sửa mã nguồn]

Barbara Dayton, a recreational pilot and University of Washington librarian who was born Robert Dayton, served in the Merchant Marine in 1926 and then the Army during World War II.[157] After discharge Dayton worked with explosives in the construction industry and aspired to a professional airline career, but could not obtain a commercial pilot's license.

Dayton underwent gender reassignment surgery in 1969 and changed her name to Barbara.[158] She claimed to have staged the Cooper hijacking two years later, disguised as a man, in order to "get back" at the airline industry and the FAA, whose insurmountable rules and conditions had prevented her from becoming an airline pilot.[159] She said she hid the ransom money in a cistern near her landing point in Woodburn, a suburban area south of Portland, Oregon. Eventually she recanted her entire story, ostensibly after learning that she could still be charged with the hijacking. The FBI has never commented publicly on Dayton, who died in 2002.[157]

Ted Mayfield[sửa | sửa mã nguồn]

Mayfield is an Army Special Forces veteran, former pilot, competitive skydiver, skydiving instructor, and ex-convict who served time for negligent homicide after two of his students died when their parachutes failed to open.[160] His criminal record also includes armed robbery and transportation of stolen aircraft, and in 2010 he was sentenced to three years' probation for flying a single-engine plane, 26 years after permanent revocation of his pilot's license.[161] He was suggested repeatedly as a suspect early in the investigation, according to FBI Agent Ralph Himmelsbach, who knew Mayfield from a prior dispute at a local airport. He was ruled out, based partly on the fact that he called Himmelsbach less than two hours after Flight 305 landed in Reno to volunteer advice on standard skydiving practices and possible landing zones.[162]

In 2006 two amateur researchers named Daniel Dvorak and Matthew Myers proposed him as a suspect once again, attracting coverage from a Portland television station[163] and the syndicated program Inside Edition.[164] They asserted that they had assembled a convincing circumstantial case that would be presented in detail in a forthcoming book. Among other things, they theorized that Mayfield called Himmelsbach not to offer advice, but to establish an alibi; and they challenged Himmelsbach's conclusion that Mayfield could not possibly have found a phone in time to call the FBI less than four hours after jumping into the wilderness at night.[164] Mayfield denied any involvement, and repeated a previous assertion that the FBI called him five times while the hijacking was still in progress to ask about skydiving techniques. (Himmelsbach said the FBI never called Mayfield.[165]) Mayfield further charged that Dvorak and Myers asked him to play along with their theory, and "we'll all make a lot of money." (Dvorak and Myers called any inference of collusion a "blatant lie."[164])

Dvorak died in 2007,[166][167] and to date, the promised book has not been published. The FBI has offered no comment beyond Himmelsbach's original statement that Mayfield, who still resides in Sheridan, Oregon, was ruled out as a suspect early on.[162]

Jack Coffelt[sửa | sửa mã nguồn]

Coffelt từng là kẻ lừa đảo, ex-convict, and purported government informant who claimed to have been the chauffeur and confidante of Abraham Lincoln's last undisputed descendant, great-grandson Robert Todd Lincoln Beckwith. In 1972 he began claiming he was D.B. Cooper, and attempted through an intermediary, a former cellmate named James Brown, to sell his story to a Hollywood production company. He said he landed near Mount Hood, about 50 dặm (80 km) southeast of Ariel, injuring himself and losing the ransom money in the process. Photos of Coffelt bear a resemblance to the composite drawings, although he was in his mid-fifties in 1971. He was reportedly in Portland on the day of the hijacking, and sustained leg injuries around that time which were consistent with a skydiving mishap.[168]

Coffelt's account was reviewed by the FBI, which concluded that it differed in significant details from information that had not been made public, and was therefore a fabrication.[169] Brown, undeterred, continued peddling the story long after Coffelt died in 1975. Multiple media venues, including the television news program 60 Minutes, considered and rejected it.[170] In a 2008 book about Lincoln's descendants,[171] author Charles Lachman revisited Coffelt's tale although it had been discredited 36 years before.

Lynn Doyle Cooper[sửa | sửa mã nguồn]

L.D. Cooper, a leather worker and Korean War veteran, was proposed as a suspect in July 2011 by his niece, Marla Cooper.[172][173] As an 8-year-old, she recalled Cooper and another uncle planning something "very mischievous", involving the use of "expensive walkie-talkies", at her grandmother's house in Sisters, Oregon, 150 dặm (240 km) south of Portland.[174] The next day flight 305 was hijacked; and though the uncles ostensibly were turkey hunting, L.D. Cooper came home wearing a bloody shirt—the result, he said, of an auto accident.[130] Later, she said, her parents came to believe that L.D. Cooper was the hijacker. She also recalled that her uncle, who died in 1999, was obsessed with the Canadian comic book hero Dan Cooper (see Theories and conjectures), and "had one of his comic books thumbtacked to his wall"—although he was not a skydiver or paratrooper.[175]

In August New York magazine published an alternative witness sketch, reportedly based on a description by Flight 305 eyewitness Robert Gregory, depicting horn-rimmed sunglasses, a "russet"-colored suit jacket with wide lapels, and marcelled hair. The article notes that L.D. Cooper had wavy hair that looked marcelled (as did Duane Weber).[176]

On August 3 the FBI announced that no fingerprints had been found on a guitar strap made by L.D. Cooper.[177] One week later they added that his DNA did not match the partial DNA profile obtained from the hijacker's tie, but acknowledged, once again, that there is no certainty that the hijacker was the source of the organic material obtained from the tie.[87] The Bureau has made no further public comment.

Aftermath[sửa | sửa mã nguồn]

Airport security[sửa | sửa mã nguồn]

The Cooper hijacking marked the beginning of the end for unfettered and unscrutinized airline travel. Despite initiation of the federal Sky Marshal program the previous year,[124] 31 hijackings were committed in U.S. airspace in 1972, 19 of them for the specific purpose of extorting money. (Most of the rest were attempts to reach Cuba.)[178] In 15 of the extortion cases the hijackers also demanded parachutes.[123] In early 1973 the FAA began requiring airlines to search all passengers and their bags. Amid multiple lawsuits charging that such searches violated Fourth Amendment protections against search and seizure, federal courts ruled that they were acceptable when applied universally, and when limited to searches for weapons and explosives.[124] In contrast to the 31 hijackings in 1972, only two were attempted in 1973, both by psychiatric patients, one of whom intended to crash the airliner into the White House to kill President Nixon.[179]

Aircraft modifications[sửa | sửa mã nguồn]

In the wake of multiple "copycat" hijackings in 1972 the FAA required that all Boeing 727 aircraft be fitted with a device, later dubbed the "Cooper vane", which prevented lowering of the aft airstair during flight.[180] Several airlines elected to abandon use of the airstair entirely, and simply welded the aft doors of their 727s shut.[124]

A less-well-known modification mandated as a direct result of the hijacking was the installation of peepholes in all cockpit doors, making it possible for the cockpit crew to observe events in the passenger cabin with the cockpit door closed.[181]

Subsequent history of N467US[sửa | sửa mã nguồn]

In 1978 the hijacked 727-100 aircraft was sold by Northwest to Piedmont Airlines where it was reregistered N838N and continued in domestic carrier service.[182] In 1984 it was purchased by the now-defunct charter company Key Airlines, reregistered N29KA, and incorporated into the Air Force's civilian charter fleet that shuttled workers between Nellis Air Force Base and the Tonopah Test Range during the top-secret F-117 Nighthawk development program.[183] In 1996 the aircraft was scrapped for parts in a Memphis boneyard.[61]

Earl Cossey[sửa | sửa mã nguồn]

In late April 2013 Earl Cossey, the owner of the skydiving school that furnished the four parachutes given to Cooper, was found dead in his home in Woodinville, a suburb of Seattle. His death was ruled a homicide due to blunt-force trauma to the head. The perpetrator remains unknown.[184] Conspiracy theorists immediately began pointing out possible links to the Cooper case,[185] but authorities responded that they have no reason to believe that any such link exists.[186] Woodinville officials later announced that the most likely motive for the crime was burglary.[187]

Ảnh hưởng tới văn hoá đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi D.B. Cooper là một tên không tặc và tống tiền (Himmelsbach nổi tiếng khi gọi Cooper là "tên lừa đảo xấu xa nhếch nhác"[188]) người đã đe doạ 42 mạng người và gây nên sự bất tiện không thể đo đếm cho vô số người, sự táo bạo, mạo hiểm chưa từng có truyền cảm hứng cho nhiều người được thể hiện qua bài hát, phim và văn chương. Các thành phố Tây Bắc Thái Bình Dương có bán đồ lưu niệm cho khách du lịch và tổ chức lễ hội nhỏ để nhớ tới Cooper. Cooper được ghi nhớ ở Ariel, Washington, với sự kiện "Ngày Cooper" được tổ chức thường niên trong dịp cuối tuần sau Lễ Phục Sinh, và nhiều nơi khác cùng với tiệc chủ đề về Cooper được tổ chức tại nhà hàng và sàn bowling. Cooper cũng được nhắc tới trong cốt truyện của nhiều chương trình truyền hình nổi tiếng như TV Vượt ngục, White Collar, NewsRadio, và Numb3rs, cũng như tựa sách The Vesuvius Prophecy, dựa trên sê-ri truyền hình The 4400.[189]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyên văn tiếng Anh: "Miss, you'd better look at that note. I have a bomb."
  2. ^ Từng từ chính xác chưa bao giờ được xác nhận, khi mà tên không tặc đã lấy lại tờ giấy.
  3. ^ Nguyên vãn tiếng Anh: "I have a bomb in my briefcase. I will use it if necessary. I want you to sit next to me. You are being hijacked."
  4. ^ Vì tốc độ tối đa 70 mph (110 km/h) trên đường cao tốc liên bang số 5 và ít khi có tắc đường ở tuyến đường này, đây là một khoảng thời gian hợp lý vào năm 1971
  5. ^ Tên Tiếng Anh: Cooper Research Team

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Gray, Geoffrey (21 tháng 10 năm 2007). “Unmasking D.B. Cooper”. New York magazine. ISSN 0028-7369. Truy cập 20 tháng 4 năm 2015. 
  2. ^ a ă Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 135.
  3. ^ a ă â b c d đ e ê Pasternak, Douglas (24 tháng 7 năm 2000). “Skyjacker at large”. U.S. News & World Report VOL 129, ISSU 4; 72-73. ISSN 0041-5537. 
  4. ^ a ă â b c “D.B. Cooper Redux: Help Us Solve the Enduring Mystery”. 31 tháng 12 năm 2007. Truy cập 13 tháng 6 năm 2015. 
  5. ^ a ă â Seven, Richard (17 tháng 11 năm 1996). “D.B. Cooper – Perfect Crime or Perfect Folly?”. The Seattle Times. Truy cập 24 tháng 9 năm 2015. 
  6. ^ “F.B.I. makes new bid to find 1971 skyjacker”. The San Francisco Chronicle. Associated Press. 2 tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ 26 tháng 4 năm 2015. Truy cập 26 tháng 4 năm 2015. 
  7. ^ Update on Investigation of 1971 Hijacking by D.B. Cooper. FBI.gov, Truy cập 12 tháng 7 năm 2016.
  8. ^ a ă McNerthney, Casey. “D.B. Cooper case no longer actively investigated by FBI”. KIRO7. Truy cập 12 tháng 7 năm 2016. 
  9. ^ Olson, James S. (1999). Historical Dictionary of the 1970s. Westport, Connecticut: Greenwood Press. tr. 107. ISBN 0-313-30543-9. 
  10. ^ History's Greatest Unsolved Crimes. Frances Farmer Archive Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2015.
  11. ^ Gunther 1985, tr. 32.
  12. ^ Tizon, Tomas A. (4 tháng 9 năm 2005). “D.B. Cooper – the search for skyjacker missing since 1971”. San Francisco Chronicle. Truy cập 29 tháng 9 năm 2015. 
  13. ^ Bragg, Lynn E. (2005). Myths and Mysteries of Washington. Guilford, Connecticut: Globe Pequot. tr. 2. ISBN 0-7627-3427-2. 
  14. ^ Steven, Richard (24 tháng 11 năm 1996). “When D.B. Cooper Dropped From Sky: Where did the daring, mysterious skyjacker go? Twenty-five years later, the search is still on for even a trace”. The Philadelphia Inquirer. tr. A20. 
  15. ^ Burkeman, Oliver (1 tháng 12 năm 2007). “Heads in the clouds”. The Guardian (London). Truy cập 2 tháng 9 năm 2015. 
  16. ^ Khi miêu tả của Schaffner được gửi tới trụ sở FBI ở Portland, các đặc vụ chỉ ra rằng kíp nổ thường có màu nâu hoặc màu be; tám xi-lanh đỏ có thể là nhựa đường cao tốc hoặc pháo sáng dùng trong ngành xe lửa. Nhưng do họ không chắc chắn, nên đây không phải là một chủ đề có thể bàn tán. (Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 40–41)
  17. ^ Transcript of Crew Communications Retrieved February 25, 2011.
  18. ^ Gần như tất cả mọi nguồn đều cho rằng Cooper chỉ đạo việc tất cả tiền chuộc đều là tờ 20 đô la; ngoại trừ Himmelsbach, người có mặt khi đề nghị tiền chuộc được gửi tới, viết rằng anh ta chỉ nhắc tới "tiền nội tệ Mỹ, mệnh giá không quan trọng." (Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 18) Tất cả mọi nguồn đều đồng nhất rằng tất cả tiền chuộc có mệnh giá 20 đô.
  19. ^ a ă Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 18.
  20. ^ Krajicek, David. “The D.B. Cooper Story: The Crime”. Crime Library. Truy cập 3 tháng 9 năm 2015. 
  21. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 20.
  22. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 19.
  23. ^ a ă â b c Krajicek, David. “The D.B. Cooper Story: Meeting the Demands”. Crime Library. Truy cập 3 tháng 1 năm 2015. 
  24. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 22.
  25. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 25.
  26. ^ a ă â b Krajicek, David. “The D.B. Cooper Story: 'Everything Is Ready'. Crime Library. Truy cập 3 tháng 1 năm 2015. 
  27. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 28.
  28. ^ Rothenberg and Ulvaeus, tr. 5.
  29. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 33–34.
  30. ^ Rothenberg, David; Ulvaeus, Marta (1999). The New Earth Reader: The Best of Terra Nova. Cambridge, Massachusetts: MIT Press. tr. 4. ISBN 0-262-18195-9. 
  31. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 32.
  32. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 36.
  33. ^ Gunther 1985, tr. 53.
  34. ^ a ă â b Krajicek, David. “The D.B. Cooper Story: The Jump”. Crime Library. Truy cập 9 tháng 1 năm 2015. 
  35. ^ a ă Bragg, tr. 4.
  36. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 48.
  37. ^ Earl Cossey, người dạy nhảy dù cũng là người cung cấp dù cho biết rằng ba chiếc dù đã được trả lại (một dù chính và hai dù phụ) cho ông.Tuy nhiên FBI, luôn luôn nói rằng chỉ có hai chiếc dù, một dù chính và một dù phụ đã bị cắt, được tìm thấy trên máy bay. (Gunther 1985, tr. 50)
  38. ^ Cowan, James (3 tháng 9 năm 2015). “F.B.I. reheats cold case”. National Post. Bản gốc lưu trữ 2 tháng 9 năm 20015. Truy cập 9 tháng 9 năm 2015.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  39. ^ a ă Hồ sơ FBI phần 1, từ Hồ sơ FBI vụ Dan Cooper, xem thêm ảnh thực sự mà FBI dùng làm ảnh truy nã.
  40. ^ Guzman, Monica (27 tháng 11 năm 2007). Update: Everyone wants a piece of the D. B. Cooper legend. Seattle Post-Intelligencer Truy cập 25 tháng 9 năm 2015.
  41. ^ Gunther 1985, tr. 55.
  42. ^ a ă â b c d đ e ê “D.B. Cooper: Help Us Solve the Enduring Mystery”. FBI. 31 tháng 12 năm 2007. Truy cập 5 tháng 2 năm 2009. 
  43. ^ Gunther 1985, tr. 68.
  44. ^ Taylor, Michael (24 tháng 9 năm 1996). “D.B. Cooper legend still up in air 25 years after leap, hijackers prompts strong feelings”. San Francisco Chronicle. 
  45. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 47.
  46. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 80–81.
  47. ^ Skolnik, Sam (22 tháng 11 năm 2001). “30 years ago, D.B. Cooper's night leap began a legend”. Seattle Post-Intelligencer. Truy cập 11 tháng 9 năm 2015.  (cần đăng ký mua)
  48. ^ Bản đồ địa hình, nửa Bắc khu vực tìm kiếm Truy cập 25 tháng 9 năm 2015.
  49. ^ Bản đồ địa hình, nửa phía Nam của cuộc tìm kiếm Truy cập 25 tháng 9 năm 2015.
  50. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 67–68.
  51. ^ “Aeronautical Information Manual”. Federal Aviation Administration. Bản gốc lưu trữ 21 tháng 9 năm 2015. Truy cập 10 tháng 9 năm 2015. 
  52. ^ Nuttall 2010, tr. 90–91.
  53. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 71.
  54. ^ Olson 2010, tr. 34.
  55. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 101–104.
  56. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 86.
  57. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 87–89.
  58. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 111–113.
  59. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 114–116.
  60. ^ a ă Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 115.
  61. ^ a ă â b D.B. Cooper: A Timeline (tháng 10 năm 2007) New York Magazine Archives Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2015.
  62. ^ Hồ sơ FBI về vụ của Fleming, được công bố tới công chúng bởi Freedom of Information Act (Đạo luật thông tin tự do) Truy cập 15 tháng 9 năm 2015.
  63. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 95.
  64. ^ Gunther 1985, tr. 184.
  65. ^ Frazier, Joe (13 tháng 11 năm 1976): "Sky Thief: Bandit Who Stole $200,000 in 1971 Still Being Sought" Pittsburgh Post-Gazette, p. B-1. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015.
  66. ^ a ă Gunther 1985, tr. 179.
  67. ^ CRS Report for Congress: Statutes of Limitation in Federal Criminal Cases: An Overview. FAS.org Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.
  68. ^ Denson, Bryan (November 24, 1996). D.B. Cooper legend lives. Oregon Live archive Retrieved March 6, 2011.
  69. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 108.
  70. ^ “Man may auction D.B. Cooper cash”. The Seattle Times. Associated Press. 13 tháng 2 năm 2006. Truy cập 10 tháng 10 năm 2015. 
  71. ^ Associated Press (22 tháng 5 năm 1986). Boy to Split $5,520 of D. B. Cooper's Loot. LA Times archive Truy cập 21 tháng 10 năm 2015.
  72. ^ a ă Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 110.
  73. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 110–111.
  74. ^ a ă â b Research Conclusions: Website của "Đôị Nghiên cứu Cooper". Truy cập 19 tháng 9 năm 2015.
  75. ^ “Cash linked to 'D.B. Cooper' up for auction”. MSNBC. 31 tháng 3 năm 2008. Truy cập 31 tháng 10 năm 2015. 
  76. ^ Palmer Report: Website của "Đôị Nghiên cứu Cooper". Truy cập 9 tháng 5 năm 2015.
  77. ^ Nuttall, George C. (2010) D.B. Cooper Case Exposed. Vantage Press. ISBN 0-533-16390-0
  78. ^ Gunther 1985, tr. 203.
  79. ^ Six Years Later Brian Ingram Gets a Piece of D.B. Cooper's Hijack Haul (23 tháng 6 năm 1986). People Magazine archive Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2015.
  80. ^ “D.B. Cooper Skyjacking Cash Sold in Dallas Auction”. Fox News. Associated Press. 13 tháng 6 năm 2009. Truy cập 14 tháng 10 năm 2015. 
  81. ^ “D B Cooper's Loot Serial Number Searcher”. Check-six.com. 19 tháng 10 năm 2010. Truy cập 29 tháng 9 năm 2015. 
  82. ^ Johnson, Gene (3 tháng 4 năm 2008). “F.B.I.: Parachute Isn't Hijacker Cooper's”. USA Today. Associated Press. Truy cập 31 tháng 8 năm 2015. 
  83. ^ “Did children find D.B. Cooper's parachute?”. MSNBC. 25 tháng 3 năm 2008. Truy cập 25 tháng 9 năm 2015. 
  84. ^ McNerthney, Casey (3 tháng 4 năm 2008): Suspected D.B. Cooper parachute may actually be from '45 military crash. seattlepi.com. Truy cập 7 tháng 10 năm 2015.
  85. ^ “Parachute 'absolutely' not Cooper's”. MSNBC. 1 tháng 4 năm 2008. Truy cập 1 tháng 4 năm 2011. 
  86. ^ a ă â b c d “In Search of D.B. Cooper: New Developments in the Unsolved Case”. F.B.I. Headline Archives. 17 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  87. ^ a ă â Cloherty, Jack (9 tháng 8 năm 2011): D.B. Cooper DNA Results: "Not A Match". ABCNews.com Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2011
  88. ^ a ă Ingalls, Chris (1 tháng 11 năm 2007). “Investigators: F.B.I. unveils new evidence in D.B. Cooper case”. King 5. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 1 năm 2008. Truy cập 11 tháng 3 năm 2008. 
  89. ^ Gunther 1985, tr. 40.
  90. ^ “Interview with lead FBI Investigator Larry Carr”. Steven Rinehart. 2 tháng 2 năm 2008. Truy cập 2 tháng 2 năm 2008. 
  91. ^ a ă Trang web của Đội điều tra Cooper
  92. ^ Ingalls C (23 tháng 11 năm 2011): "40 years later, new evidence unveiled in DB Cooper case". King5.com archive. Truy cập 29 tháng 5 năm 2013
  93. ^ Johnson, Gene (AP) (23 tháng 11 năm 2011). 40 years later, DB Cooper's identity a mystery. KGW.com, Portland, OR Truy cập 23 tháng 11 năm 2011
  94. ^ Tedford, Deborah (2 tháng 1 năm 2008). “F.B.I. Seeks Help in Solving Skyjacking Mystery”. National Public Radio. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2008. 
  95. ^ a ă "It's an Enigma." JCS-Group.com Recovered January 31, 2011.
  96. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 96.
  97. ^ Boswell, Randy (November 24, 2011). FBI-backed team finds Canadian link to famous '70s plane hijacking Canadian National Post archive Retrieved December 5, 2011
  98. ^ Research Summary. Cooper Research Team web site Retrieved December 7, 2011
  99. ^ Gunther 1985, tr. 44.
  100. ^ Gunther 1985, tr. 46.
  101. ^ Gunther 1985, tr. 136.
  102. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 43.
  103. ^ Gunther 1985, tr. 15.
  104. ^ Johnson, Gene (25 tháng 11 năm 2011). “D.B. Cooper enigma still fascinates”. USA Today. Associated Press. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012. 
  105. ^ In Search of D.B. Cooper: New Developments in the Unsolved Case (March 17, 2009). FBI.gov Retrieved January 31, 2011.
  106. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 94.
  107. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 73.
  108. ^ Killen, Andreas (15 tháng 1 năm 2005). The First Hijackers. New York Times Archive. Truy cập cập 29 tháng 6 năm 2011.
  109. ^ Miniclier, Kit (21 tháng 1 năm 2001). “Skyjacker a Colorado oddity?”. Denver Post. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013. 
  110. ^ “Hijacker caught after parachuting over Colorado with $50,000 in cash”. Lewiston Daily Sun. Associated Press. 21 tháng 1 năm 1972. tr. 1. 
  111. ^ Taylor, Daniel L. (21 tháng 1 năm 1972). “Parachutist hijacker captured”. Eugene Register Guard. UPI. tr. 3A. 
  112. ^ “Chuting hijacker caught by police”. Spokesman-Review. Associated Press. 21 tháng 1 năm 1972. tr. 1. 
  113. ^ “Hijacker with $50,000 loot captured after bailing out”. Milwaukee Journal. 21 tháng 1 năm 1972. tr. 1. 
  114. ^ “Hijacker foiled; tracked by jets”. Spokane Daily Chronicle. Associated Press. 21 tháng 1 năm 1972. tr. 19. 
  115. ^ Skyjacker – The Richard McCoy Jr. Story (March 2, 2011). ParachutistOnLine.com Retrieved February 25, 2013.
  116. ^ Richard Floyd McCoy, Jr. – aircraft hijacking. – FBI.gov Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015.
  117. ^ Whelan, Frank (June 30, 1985): "A-B-E Hijacker Who Parachuted into Jungle Is Free From Prison Air Piracy" Morning Call Archive Retrieved August 3, 2011.
  118. ^ Lehigh Valley International Airport began as airmail stop (September 3, 2010). Lehigh Valley History Retrieved March 8, 2011.
  119. ^ Heady, 22, Night jump, Reno, $200k, Vietnam vet, gun, sticker, caught immediately (August 1, 2008). Dropzone.com Retrieved March 8, 2011.
  120. ^ Photo of Heady's arrest (June 3, 1972). Dropzone.com Retrieved March 8, 2011.
  121. ^ A Look Back • Airline hijacking at Lambert in 1972 turns bizarre
  122. ^ Curtis, Gene (July 8, 2007). Only in Oklahoma: Skyjacker nabs Tulsa plane in error-filled romp. TulsaWorld.com archive Retrieved March 8, 2011.
  123. ^ a ă Gladwell, Malcolm. The New Yorker (October 1, 2001): Safety in the Skies. New Yorker Archive Retrieved February 14, 2011.
  124. ^ a ă â b Wu, Annie. The History of Airport Security. SavvyTraveler.publicradio.org Retrieved February 14, 2011.
  125. ^ Codename: Norjak The Skyjacking of Northwest Flight 305. Check-Six.com Retrieved March 4, 2013.
  126. ^ Mickolus, E.F. and Simmons, S.L. (January 12, 2011): The Terrorist List. Westport, CT: Praeger Publishers, p. 273. ISBN 0-313-37471-6. Retrieved March 4, 2013.
  127. ^ Porteous & Blevins 2010.
  128. ^ “D.B. Cooper”. Brad Meltzer's Decoded. Mùa 1. Tập 6. 6 tháng 1 năm 2011. History. 
  129. ^ McShane, Larry (2 tháng 9 năm 2011). “Tina Mucklow, D.B. Cooper-hijacking flight attendant found; Woman was go-between for Cooper, crew”. Daily News (New York). 
  130. ^ a ă â b “FBI working new lead in D.B. Cooper hijacking case”. CNN. 1 tháng 8 năm 2011. Truy cập 5 tháng 6 năm 2015. 
  131. ^ “F.B.I. rejects latest D.B. Cooper suspect”. Seattle Post-Intelligencer. Associated Press. 26 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2008. 
  132. ^ a ă Craig, John S. "D.B. Cooper Suspect Named: William Pratt Gossett," associatedcontent.com.
  133. ^ a ă Yet Another D. B. Cooper Suspect: William Pratt "Wolfgang" Gossett. Crime Slam Retrieved February 1, 2011.
  134. ^ Photos of Gossett, 1967–73 Retrieved February 2, 2011.
  135. ^ “U.S. lawyer believes notorious fugitive D.B. Cooper hid ransom money in Vcr bank”. Canadian Press. 3 tháng 8 năm 2008. 
  136. ^ “Investigator Claims Depoe Bay Man Was Infamous 'D.B. Cooper'”. Depoe Bay Beacon. 28 tháng 5 năm 2008. 
  137. ^ Craig, John S. "1971 D.B. Cooper Letters Linked to Suspect William Gossett," associatedcontent.com.
  138. ^ "Letter to Gazette Checked in FBI Hunt for Skyjacker," Reno Evening Gazette, November 29, 1971; "Words in 'Skyjacker Note' to Gazette Clipped from Modesto Bee, FBI Told," Reno Evening Gazette, November 30, 1971; "Gazette Receives Hijacker 'Letter' – Second in a Week," Reno Evening Gazette, December 3, 1971. For detailed analysis of letters see "1971 D.B. Cooper Letters Linked to Suspect William Gossett," associatedcontent.com.
  139. ^ Spencer, Kent (November 21, 2011): Skyjacker D.B. Cooper 'enjoyed the Grey Cup game,' according to 1971 letter attributed to him. National Post archive Retrieved December 1, 2011
  140. ^ Was D.B. Cooper an Ogden Resident? (July 28, 2008) Deseret News (Salt Lake City) via Associated Press Retrieved February 1, 2011.
  141. ^ “The Real McCoy”. Time. 24 tháng 4 năm 1972. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2007. 
  142. ^ “Skydiver Held as Hijacker; $500,000 Is Still Missing”. New York Times. Associated Press. 10 tháng 4 năm 1972. tr. 1. 
  143. ^ a ă â b Krajicek, David. “The D.B. Cooper Story: The Copycats”. Crime Library. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2008. 
  144. ^ a ă Coreno, Catherine (22 tháng 10 năm 2007). “D.B. Cooper: A Timeline”. New York. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008. 
  145. ^ Famous Cases & Criminals. FBI.gov Retrieved May 29, 2013
  146. ^ “Skydiver Held as Hijacker; $500,000 Is Still Missing”. Associated Press. 10 tháng 4 năm 1972. 
  147. ^ “Widow of Man Linked in Book to Skyjacker D.B. Cooper Sues Authors, Provo Attorney”. Associated Press. 18 tháng 1 năm 1992. tr. B5. 
  148. ^ Funk, Marianne (February 21, 1992). McCoy's Widow Admits Helping in '72 Hijacking. Deseret News Archive Retrieved February 21, 2011.
  149. ^ Univ. of Utah Press (October 1991); ISBN 978-0-87480-377-8
  150. ^ Schindler, Harold (24 tháng 11 năm 1996). “25 Years Later, 'D.B' Remains Tied to Utah; Skyjacker Took Story To His Grave”. The Salt Lake Tribune. 
  151. ^ Hamilton, Don (23 tháng 10 năm 2004). “F.B.I. makes new plea in D.B. Cooper case”. The Seattle Times. 
  152. ^ a ă Krajicek, David. “The D.B. Cooper Story: "I'm Dan Cooper. So Am I.". Crime Library. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2008. 
  153. ^ “Suspect in Family-Slaying May Be Famed D.B. Cooper”. Los Angeles Times. 30 tháng 6 năm 1989. tr. A1. 
  154. ^ Benford, Timothy B.; Johnson, James P. (2000). Righteous Carnage: The List Murders in Westfield. Lincoln, Nebraska: iUniverse. tr. 76–77. ISBN 0-595-00720-1. 
  155. ^ McCracken, Elizabeth (28 tháng 12 năm 2008). “Wanted: A Killer Disappears Into Another Life”. The New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2014. 
  156. ^ Stout, David (25 tháng 3 năm 2008). “John E. List, 82, Killer of 5 Family Members, Dies”. The New York Times. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2008. 
  157. ^ a ă Bruce A. Smith (11 tháng 2 năm 2011). “The Hunt for DB Cooper”. The Mountain News – WA. Truy cập 10 tháng 10 năm 2015.  (cần đăng ký mua)
  158. ^ Pat Forman, Ron Forman (2008). The Legend of D B Cooper. Lulu.com. 
  159. ^ Olson 2010, tr. 72–73.
  160. ^ Skydiving Operator Faces Charges Over Deaths of 2 Jumpers (February 13, 1995). Seattle Times archive. Retrieved October 10, 2012
  161. ^ McCowan, Karen (January 20, 2010). Illegal flight lands pilot in trouble once again. Register-Guard archive Retrieved February 24, 2011.
  162. ^ a ă Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 51.
  163. ^ D.B. Cooper KOIN segment (2007) trên YouTube Retrieved February 24, 2011.
  164. ^ a ă â D.B. Cooper Inside Edition segment (2007) trên YouTube Retrieved February 24, 2011.
  165. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 52.
  166. ^ Websleuths archive (December, 2007) Retrieved February 24, 2011.
  167. ^ Daniel Joseph Dvorak. Crestleaf.com. Retrieved August 25, 2014.
  168. ^ “Has The Mystery of D.B. Cooper Been Solved?”. InsideEdition.com. 6 tháng 10 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2011. 
  169. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 83–84.
  170. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 121–122.
  171. ^ Lachman, Charles (2008). The Last Lincolns: The Rise & Fall of a Great American Family. Union Square Press. ISBN 1-4027-5890-1.
  172. ^ Provano, Joel (August 3, 2011): Woman claims D.B. Cooper was her uncle. AJC.com Retrieved August 3, 2011.
  173. ^ Alex Hannaford (30 tháng 7 năm 2011). “The 40-year mystery of America's greatest skyjacking – Telegraph”. London: Daily Telegraph. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2011. 
  174. ^ Berkes, Howard (2011). “FBI Says It Has 'A New Suspect' In D.B. Cooper Skyjacking Case: The Two-Way: NPR”. npr.org. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011. 
  175. ^ Thomas, P and Cloherty, J (August 3, 2011): "D.B. Cooper Exclusive: Did Niece Provide Key Evidence?" ABCNews.com Retrieved August 3, 2011.
  176. ^ Gray, Geoffrey. “DNA Test Negative for D.B. Cooper Suspect; a New Sketch Emerges”. Crime Library. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2012. 
  177. ^ McNerthney, Casey (1 tháng 8 năm 2011). “No fingerprints found on item in D.B. Cooper case”. seattlepi.com. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2011. 
  178. ^ Holden, Robert T. The Contagiousness of Aircraft Hijacking UCF.edu Archive Retrieved February 14, 2011.
  179. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 120.
  180. ^ Gilmore, Susan (22 tháng 11 năm 2001). “D.B. Cooper puzzle: The legend turns 30”. The Seattle Times. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2008. 
  181. ^ Gunther 1985, tr. 50.
  182. ^ Piedmont Historical Archives Retrieved May 29, 2013.
  183. ^ Hengi, B.I. Airlines Remembered. Midland (June 10, 2000). ISBN 1-85780-091-5, pp. 56–7.
  184. ^ Baumann, L (May 7, 2013): "Man Who Packed DB Cooper's Parachutes ID'd as Woodinville Homicide Victim". Woodinville Patch. Retrieved May 29, 2013
  185. ^ Smith, BA (May 4, 2013): "Update on the murder of Earl Cossey, an analysis of his role in the DB Cooper case". The Mountain News. Retrieved May 29, 2013
  186. ^ Johnson G (April 30, 2013): "Earl Cossey, DB Cooper Parachute Packer, ID'd As Homicide Victim". HuffingtonPost.com Retrieved May 29, 2013
  187. ^ Bauman, L (May 12, 2013). Cossey Murder: Woodinville Police Chief Classifies it as Burglary. WoodinvillePatch.com archive. Retrieved October 28, 2013.
  188. ^ Himmelsbach & Worcester 1986, tr. 116.
  189. ^ Slatta, Richard W. (2001). The Mythical West: An Encyclopedia of Legend, Lore and Popular Culture.  Qua nhiều năm thì vô số quán bar ở nhiều thànhh phố Mỹ có tên D.B. Cooper's. Năm 2004 bô phim "Without a Paddle" có liên quan tới sự mất tích của D. B. Cooper.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tosaw, Richard T. (1984) D.B. Cooper: Dead or Alive?. Tosaw Publishing. ISBN 0-9609016-1-2. (Chứa đầy đủ số sê-ri của tiền chuộc.)
  • Gunther, Max (1985). D. B. Cooper: What Really Happened. Chicago: Contemporary Books. ISBN 0-8092-5180-9.  (Dựa trên cuộc phỏng vấn với "Clara", người tìm ra Cooper đang bị thương; được cho là trò bịp của FBI.)
  • Himmelsbach, Ralph P.; Worcester, Thomas K. (1986). Norjak: The Investigation of D. B. Cooper. West Linn, Oregon: Norjak Project. ISBN 978-0-9617415-0-1.  (Himmelsbach là cựu nhân viên cấp cao FBI đến khi về hưu năm 1980; "Norjak" là mật mã FBI chỉ vụ không tặc của Cooper.)
  • Rhodes, B and Calame, R. (1991) D.B. Cooper: The Real McCoy. Univ. of Utah Press ISBN 0-87480-377-2. (Summary of the circumstantial case that "copycat" Richard McCoy was D.B. Cooper.)
  • Reid, Elwood (2005). D.B.: A Novel. Anchor Books. ISBN 0-385-49739-3 (Một sản phẩm của sự tưởng tượng, không nhiều người ủng hộ giả thiết này.)
  • Forman, P and Forman, R. (2008) The Legend of D.B. Cooper – Death by Natural Causes. Borders Personal Publishing. ISBN 1-60552-014-4 (Tự truyện của Barbara Dayton, người tuyên bố có liên quan tới vụ không tặc.)
  • Grant, Walter. (2008) D.B. Cooper, Where Are You? Publication Consultants. ISBN 1-59433-076-X (Một truyện giả tưởng.)
  • Nuttall, George C. (2010) D.B. Cooper Case Exposed: J. Edgar Hoover Cover Up? Vantage Press. ISBN 0-533-16390-0
  • Olson, Kay Melchisedech (2010). D.B. Cooper Hijacking: Vanishing Act. Compass Point Books. ISBN 0-7565-4359-2. 
  • Elmore, Gene. (2010) D.B. Cooper: Aftermath. iUniverse. ISBN 1-4502-1545-9 (Self-published work of fiction, interwoven with some of the commonly known facts.)
  • Porteous, Skipp; Blevins, Robert M. (2010). Into the Blast – The True Story of D.B. Cooper. Seattle, Washington: Adventure Books of Seattle. ISBN 978-0-9823271-8-0. 
  • Gray, Geoffrey. (2011) Skyjack: The Hunt for D.B. Cooper. Crown. ISBN 0-307-45129-1

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]