Danh sách buổi biểu diễn trực tiếp của Lady Gaga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Danh sách buổi biểu diễn trực tiếp của Lady Gaga
Lady Gaga JWT Montreal BM, 2017-11-03 (cropped).jpg
Gaga biểu diễn trong chuyến lưu diễn Joanne World Tour vào tháng 11 năm 2017
Chuyến lưu diễn hòa nhạc 6
Chương trình hòa nhạc thường trú 2
Buổi hòa nhạc quảng bá 2
Buổi hòa nhạc tại liên hoan âm nhạc 1
Buổi hòa nhạc tại các lễ trao giải 31

Ca sĩ người Mỹ Lady Gaga đã khởi động năm chuyến lưu diễn hoà nhạc và đã biểu diễn trực tiếp tại nhiều lễ trao giải và chương trình truyền hình. Gaga đã quảng bá đĩa đơn đầu tay của cô, "Just Dance", qua các buổi trình diễn tại một số lễ trao giải và chương trình truyền hình, bao gồm Hoa hậu Hoàn vũ 2008So You Think You Can Dance. Sau đó, cô đóng vai trò là ca sĩ trình diễn mở đầu cho các chuyến lưu diễn của nhóm nhạc nam New Kids on the Block và ban nhạc nữ The Pussycat Dolls,[1] trước khi tự khởi động chuyến lưu diễn hát chính của riêng mình, The Fame Ball Tour, bắt đầu vào tháng 3 năm 2009 và kết thúc vào tháng 9 cùng năm. Sau chuyến lưu diễn đã bị huỷ bỏ Fame Kills: Starring Kanye West and Lady Gaga với rapper Kanye West,[2] Gaga khởi động chuyến lưu diễn hoà nhạc toàn cầu thứ hai, The Monster Ball Tour nhằm quảng bá đĩa mở rộng (EP) The Fame Monster (2009). Chuyến lưu diễn được giới phê bình ca ngợi và kiếm về doanh thu 227,4 triệu đô-la Mỹ, làm cho nó trở thành một trong những chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất mọi thời đại. Gaga cũng biểu diễn các bài hát trong EP tại các buổi lễ trao giải gồm lễ trao giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2009, lễ trao giải Grammy lần thứ 52 và lễ trao giải Brit năm 2010. Tại lễ trao giải Billboard Touring Awards[a] năm 2010 do tạp chí Billboard tổ chức, nữ ca sĩ đoạt giải Breakthrough Performer Award[b], đồng thời là giải Concert Marketing & Promotion Awards[c].

Gaga lần đầu tiên biểu diễn trực tiếp đĩa đơn "Born This Way", đĩa đơn đầu tiên trích từ album phòng thu thứ hai cùng tên (2011) của nữ ca sĩ, tại lễ trao giải Grammy lần thứ 53. Bắt đầu màn trình diễn, cô xuất hiện từ trong một vật chứa có hình quả trứng rồi thể hiện ca khúc.[3] Sáu tháng sau, Gaga biểu diễn bài hát "You and I" nằm trong album Born This Way tại lễ trao giải Video âm nhạc của MTV năm 2011, trong hình tượng một nhân vật nam tên là Jo Calderone. Để quảng bá album, Gaga khởi động chuyến lưu diễn Born This Way Ball, gặt hái được nhiều thành công cả về mặt chuyên môn lẫn thương mại nhưng cũng gây tranh cãi giữa một số nhóm tôn giáo khi họ cho rằng chuyến lưu diễn mang tính "ma quỷ" và đi ngược lại với những giá trị tôn giáo. Nữ ca sĩ đã phải hoãn lại một số buổi hoà nhạc cuối cùng của chuyến lưu diễn do một chấn thương vùng hông và cô cần đi phải phẫu thuật. Tại lễ trao giải Billboard Touring Awards năm 2012, cô đoạt giải Eventful Fan's Choice for Best Tour of the Year[d]

Gaga đã biểu diễn các bài hát từ album phòng thu thứ ba của cô, Artpop (2013) tại ArtRave, một sự kiện kéo dài hai ngày do cô dẫn chương trình để quảng bá album. Năm 2014, cô là ca sĩ trình diễn chính trong buổi diễn thường trú (residency show) đầu tiên của cô, với bảy buổi diễn tại nhà hát Roseland Ballroom ở Manhattan, New York. Một năm sau, cô khởi động chuyến lưu diễn ArtRave: The Artpop Ball, là ý tưởng của cô để tạo ra một bữa tiệc dành cho các fan nhạc điện tử (rave) sống động. Chuyến lưu diễn nhận được sự hưởng ứng tích cực từ các nhà phê bình, nhưng một số lại chỉ trích nó vì không có mạch lạc. Sau khi phát hành album hợp tác với Tony Bennett, Cheek to Cheek (2014), bộ đôi đã bắt tay vào khởi động chuyến lưu diễn Cheek to Cheek Tour của họ, bắt đầu vào tháng 12 năm 2014 và kết thúc vào tháng 8 năm 2015. Chuyến lưu diễn được giới phê bình ca ngợi và đứng đầu danh sách 10 buổi hoà nhạc xuất sắc nhất năm 2015 của Vulture. Năm 2015, cô đoạt Giải thưởng âm nhạc Billboard thứ ba của cô với đề cử Giải Nghệ sĩ Lưu diễn Hàng đầu, cùng với hai đề cử vào năm 2011 và 2013.[4]

Gaga đã hát tặng cho bộ phim Giai điệu hạnh phúc tại Giải Oscar lần thứ 87, nơi cô trình diễn một liên khúc gồm các bài hát từ album nhạc phim của bộ phim. Buổi trình diễn được tạp chí Billboard xem là một trong những buổi trình diễn tốt nhất của cô, và nó đã tạo ra hơn 214.000 lượt tương tác mỗi phút trên toàn cầu trên trang web mạng xã hội Facebook.[5][6] Năm 2015, Gaga phát hành bài hát "Til It Happens to You". Cô đã biểu diễn bài hát tại sự kiện Billboard Women in Music 2015, lễ trao giải Producers Guild of America Awards 2015Giải Oscar lần thứ 88. Năm 2016, cô hát quốc ca Hoa Kỳ tại Super Bowl 50; hợp tác cùng với hãng công nghệ Intel và Nile Rodgers hát tưởng niệm David Bowie tại Giải Grammy lần thứ 58 và biểu diễn bài hát "Million Reasons" tại Giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2016. Để quảng bá album phòng thu thứ năm của cô, Joanne, Gaga đã khởi động chuyến lưu diễn gồm 3 ngày diễn, có tên Dive Bar Tour. Đồng thời, cô cũng đóng vai trò là ca sĩ mở đầu cho chương trình âm nhạc ở giờ giải lao tại giải bóng bầu dục Super Bowl LI vào ngày 5 tháng 2 năm 2017.

Chuyến lưu diễn hoà nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Kéo dài Số buổi diễn
2009 The Fame Ball Tour 12 tháng 3, 2009 (2009-03-12) – 29 tháng 9, 2009 (2009-09-29) (Toàn cầu) 83
The Fame Ball Tour, chuyến lưu diễn đầu tay của Gaga, đã quảng bá album đầu tay của cô, The Fame (2008).[7] Gaga đã mô tả chuyến lưu diễn là "một buổi diễn bảo tàng du lịch đã kết hợp với nghệ thuật biểu diễn nhạc pop của Andy Warhol".[8] Gaga đã lên kế hoạch cho chuyến lưu diễn khi là ca sĩ mở đầu cho một chuyến lưu diễn của ban nhạc nữ The Pussycat Dolls.[9] Chuyến lưu diễn được giới phê bình đón nhận tích cực, những người đã khen ngợi giọng hát rõ ràng của cô, khiếu cảm nhận thời trang và khả năng thu hút khán giả như một nghệ sĩ chuyên nghiệp.[10][11]
2009–2011 The Monster Ball Tour 27 tháng 11, 2009 (2009-11-27) – 6 tháng 5, 2011 (2011-05-06) (Toàn cầu) 203
The Monster Ball Tour, chuyến lưu diễn hoà nhạc toàn cầu thứ hai của Gaga, được tổ chức để hỗ trợ cho đĩa mở rộng The Fame Monster (2009) của cô.[12] Sân khấu của buổi diễn bắt đầu chuyến lưu diễn được thiết kế giống như một cái tivi rỗng ruột.[13] Từ năm 2010 trở đi, các buổi biểu diễn đã được tân trang lại mang chủ đề Thành phố New York và miêu tả một câu chuyện lấy bối cảnh trong thành phố, nơi mà Gaga và bạn cô bị lạc và phải tìm đường đến "Quả cầu Ác quỷ" ("the Monster Ball").[14] Chuyến lưu diễn được giới phê bình đón nhận tích cực. Họ khen ngợi khả năng thanh nhạc của Gaga, sân khấu của chuyến lưu diễn và khiếu cảm nhận của cô về phong cách và thời trang.[15][16] Với một lượng khán giả là 2,5 triệu người, chuyến lưu diễn đã kiếm được số tiền 227,4 triệu đô-la Mỹ, làm cho nó trở thành một trong những chuyến lưu diễn hoà nhạc có doanh thu cao nhất mọi thời đại.[17] Gaga đã nhận giải Billboard Touring Awards năm 2010 cho Giải Nghệ sĩ Biểu diễn Đột phá và Giải Chuyến hoà nhạc Marketing & Quảng bá.[18]
2012–2013 Born This Way Ball 27 tháng 4, 2012 (2012-04-27) – 11 tháng 2, 2013 (2013-02-11) (Toàn cầu) 98
Chuyến lưu diễn Born This Way Ball được tổ chức để quảng bá album phòng thu thứ hai của nữ ca sĩ, Born This Way (2011), đi qua tất cả các châu lục, ngoại trừ châu Nam Cực.[19] Chuyến lưu diễn được chia thành năm phần và thấm nhuần các đề tài chính trị và xã hội như phân biệt đối xử, lòng tự ái và sự kiểm soát của chính phủ.[20] Các nhà phê bình đã khen ngợi chuyến lưu diễn về các phương diện thiết kế sân khấu, khả năng thanh nhạc của Gaga, nhiều thông điệp có ý nghĩa và cả về đội ngũ sản xuất.[21] Chuyến lưu diễn cũng là chủ đề của một số cuộc tranh cãi bởi những thành phần người bảo thủ về nội dung mang tính tôn giáo và sự ủng hộ của Gaga đối với quyền LGBT.[22] Với hơn hai mươi ngày lưu diễn còn lại, cô bắt buộc phải huỷ bỏ các ngày lưu diễn đó vì một vết rách ở gờ ổ khớp bên hông phải của cô. Hơn 25 triệu đô-la Mỹ và 200.000 tấm vé đã được hoàn trả.[23] Chuyến lưu diễn thu về tổng cộng 183,9 triệu đô-la Mỹ.[24][25] Gaga đoạt giải Sự lựa chọn Quan trọng của Fan cho Chuyến lưu diễn Xuất sắc nhất năm tại giải Billboard Touring Awards năm 2012.[26]
2014 ArtRave: The Artpop Ball 4 tháng 5, 2014 (2014-05-04) – 24 tháng 11, 2014 (2014-11-24) (Toàn cầu) 79
ArtRave: The Artpop Ball đã quảng bá album phòng thu thứ ba của Gaga, Artpop (2013).[27] Lấy cảm hứng từ buổi hoà nhạc quảng bá cùng tên cho Artpop, sân khấu được thiết kế giống như một cái hang và gồm hai phần sân khấu, nối liền nhau bởi những sàn catwalk được làm từ thuỷ tinh acrylic, với mục đích là giúp cho khán giả di chuyển dưới sàn catwalk nhưng vẫn có thể theo dõi buổi trình diễn.[28] Các nhà phê bình đã có những lời khen ngợi về bối cảnh, tranh phục và phần vũ đạo nhưng lại phê bình về phần rời rạc và tính rỗng tuếch của các bài hát.[29][30] Tháng 11 năm 2014, chuyến lưu diễn được streaming trực tiếp từ AccorHotels Arena tại Pháp.[31] Chuyến lưu diễn mang về doanh thu tổng cộng 83 triệu đô-la Mỹ từ 920.088 vé được bán ra.[32][33]
2014–2015 Cheek to Cheek Tour 30 tháng 12, 2014 (2014-12-30) – 1 tháng 8, 2015 (2015-08-01) (Bắc Mỹ, châu Âu) 36
Chuyến lưu diễn Cheek to Cheek Tour là kết quả của sự hợp tác của Gaga và Tony Bennett trong album Cheek to Cheek (2014).[34] Nhiều buổi diễn của chuyến lưu diễn là một phần của các liên hoan âm nhạc.[35] Sân khấu được trang trí đơn giản với chỉ một bức màn đính pha lê.[36] Chuyến lưu diễn bao gồm một danh sách tiết mục các bài hát từ album của họ và các bản hát lại khác của danh sách các tác phẩm Great American Songbook.[37] Chuyến lưu diễn được ca ngợi bởi giới phê bình bởi khả năng thanh nhạc của bộ đôi và sự phát triển của chuyến lưu diễn, đồng thời là do sự tương tác trên sân khấu của họ.[38] Nó đứng đầu danh sách 10 buổi hoà nhạc xuất sắc nhất năm 2015 của Vulture[39] và kiếm được doanh thu 15,3 triệu đô-la Mỹ.[40]
2017–2018 Joanne World Tour 1 tháng 8, 2017 (2017-08-01) – 1 tháng 2, 2018 (2018-02-01) (Bắc Mỹ, châu Âu) 49
Là chuyến lưu diễn hoà nhạc thứ năm của Gaga và đã quảng bá album phòng thu Joanne của cô. Nó bắt đầu vào ngày 1 tháng 8 năm 2017, tại Vancouver, Canada và được lên kế hoạch là sẽ kết thúc tại các buổi diễn đã bị hoãn lại trước đó ở châu Âu vào năm 2018.[41][42]

Biểu diễn tại các buổi trao giải[sửa | sửa mã nguồn]

Date Event Country Performed song(s) Ref.
7/6/2008 Giải thưởng NewNowNext năm 2008 Mỹ "Just Dance" [43]
14/7/2008 Cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ lần thứ 57 Việt Nam "Just Dance" [44]
18/2/2009 Giải thưởng Brit năm 2009 Anh "Suburbia", "Love etc.", "Left to My Own Devices", "Always on My Mind", "Go West", "What Have I Done to Deserve This?", "I'm With Stupid", "Being Boring", "It's a Sin", "All Over the World", "West End Girls" (with Pet Shop BoysBrandon Flowers) [45]
21/6/2009 Giải thưởng MuchMusic Video năm 2009 Canada "LoveGame", "Poker Face" [46]
13/9/2009 Giải thưởng Video âm nhạc MTV năm 2009 Mỹ "Paparazzi" [43]
22/11/2009 American Music Awards of 2009 Mỹ "Bad Romance", "Speechless" [47]
31/1/2010 Giải thưởng Grammy thường niên lần thứ 52 Mỹ "Poker Face", "Speechless", "Your Song" (with Elton John) [43]
16/2/2010 2010 Brit Awards Anh "Telephone", "Dance in the Dark" [48]
13/2/2011 Giải thưởng Grammy thường niên lần thứ 53 Mỹ "Born This Way" [43]
19/6/2011 Giải thưởng MuchMusic Video năm 2011 Canada "The Edge of Glory", "Born This Way" [49]
25/6/2011 MTV Video Music Aid Nhật Bản năm 2011 Nhật "The Edge of Glory", "Born This Way" [50]
28/8/2011 Giải Video âm nhạc của MTV năm 2011 Mỹ "You and I" (with Brian May) [51]
6/11/2011 Giải thưởng âm nhạc châu Âu MTV năm 2011 Anh "Marry the Night" [52]
10/11/2011 Giải thưởng Bambi năm 2011 Đức "Marry the Night" [53]
25/8/2013 Giải Video âm nhạc của MTV năm 2013 Mỹ "Applause" [54]
3/11/2013 Giải thưởng Âm nhạc Youtube 2013 Mỹ "Dope" [55]
24/11/2013 Giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2013 Mỹ "Do What U Want" (with R. Kelly) [56]
7/12/2014 Lễ trao Huy chương danh dự của Trung tâm Kennedy lần thứ 37 Mỹ "If I Ever Lose My Faith in You" [57]
8/2/2015 Giải thưởng Grammy thường niên lần thứ 57 Mỹ "Cheek to Cheek" (with Tony Bennett) [58]
22/2/2015 Giải thưởng Viện hàn lâm lần thứ 87 Mỹ "The Sound of Music", "My Favorite Things", "Edelweiss", "Climb Ev'ry Mountain" (tribute to The Sound of Music) [59]
18/6/2015 Đại sảnh vinh danh nhà hát thứ 46 Mỹ "What's Up?" [60]
18/12/2015 Giải thưởng âm nhạc Billboard về phụ nữ 2015 Mỹ "Til It Happens to You" [61]
23/1/2016 Giải thưởng của Hiệp hội sản xuất Hoa Kỳ 2015 Mỹ "Til It Happens to You" [62]
15/2/2016 Giải thưởng Grammy thường niên lần thứ 58 Mỹ "Space Oddity", "Changes", "Ziggy Stardust", "Suffragette City", "Rebel Rebel", "Fashion", "Fame", "Under Pressure", "Let's Dance", "Heroes" (with Nile Rodgers) (tribute to David Bowie) [63]
28/2/2016 Giải thưởng Viện hàn lâm lần thứ 88 Mỹ "Til It Happens to You" [64]
4/4/2016 Giải thưởng giáo dục Jane Ortner Mỹ "New York, New York", "I Can't Give You Anything but Love", "Let's Face the Music and Dance", "Call Me Irresponsible", "La Vie en rose", "Til It Happens to You" [65]
20/11/2016 Giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2016 Mỹ "Million Reasons" [66]
12/2/2017 Giải thưởng Grammy thường niên lần thứ 59 Mỹ "Moth into Flame" (with Metallica) [67]
8/9/2017 Liên hoan phim quốc tế Toronto 2017 Canada "Bad Romance" [68]
19/11/2017 Giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2017 Mỹ "The Cure" (live from the Joanne World Tour stop at Washington D.C.) [69]
28/1/2018 Giải thưởng Grammy thường niên lần thứ 60 Mỹ "Joanne", "Million Reasons" (with Mark Ronson) [70]
10/2/ 2019 Giải thưởng Grammy thường niên lần thứ 61 Mỹ "Shallow" (with Mark Ronson, Andrew WyattAnthony Rossomando) [71]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú
  1. ^ Tạm dịch: Giải thưởng Lưu diễn của Billboard.
  2. ^ Tạm dịch: Nghệ sĩ biểu diễn Đột phá.
  3. ^ Tạm dịch: Giải Buổi hoà nhạc Marketing & Quảng bá.
  4. ^ Tạm dịch: Sự lựa chọn Quan trọng của Fan cho Chuyến lưu diễn Xuất sắc nhất năm.
Nguồn tham khảo
  1. ^ Reuters, Thomson (31 tháng 10 năm 2008). “International Pop Star Lady Gaga Set to Tour With New Kids on the Block”. Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2018. 
  2. ^ Aswad, Jem (10 tháng 1 năm 2009). “Kanye West/Lady Gaga's Fame Kills Tour Canceled”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2018. 
  3. ^ Vena, Jocelyn (ngày 15 tháng 2 năm 2011). “Lady Gaga Talks Grammy 'Vessel,' Born This Way Details”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2018. 
  4. ^ Giải thưởng âm nhạc Billboard cho giải Nghệ sĩ Lưu diễn Hàng đầu:
  5. ^ Stecker, Erin (8 tháng 2 năm 2016). “Lady Gaga's 8 Best Live Performances”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2016. 
  6. ^ Ashley Lee (23 tháng 2 năm 2015). “Oscars 2015: Lady Gaga's 'The Sound of Music' Medley Dominated Social Media”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2016. 
  7. ^ Vena, Jocelyn (13 tháng 1 năm 2009). “Lady Gaga Gears Up For Pussycat Dolls Tour”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  8. ^ “Lady GaGa Announces Dates For 'The Fame Ball' Tour”. Universal Music Group. 13 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  9. ^ Montgomery, James (4 tháng 2 năm 2009). “Lady Gaga Promises 'Life–Changing Experience' With Fame Ball Tour”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  10. ^ Parker, Lyndsey (14 tháng 3 năm 2009). “Lady GaGa's Fame Ball Comes To L.A.”. NME. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  11. ^ Muther, Christopher (2 tháng 4 năm 2009). “Lady GaGa shines in song and spectacle”. Boston Globe. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  12. ^ Herrera, Monica (15 tháng 10 năm 2009). “Lady Gaga Announces 'The Monster Ball'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016. 
  13. ^ Hiatt, Brian (21 tháng 10 năm 2009). “Inside The Monster Ball: Lady Gaga Reveals Plans for Ambitious New Tour”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  14. ^ Montogomery, James (23 tháng 12 năm 2009). “Lady Gaga Reveals Details Of Revamped Monster Ball Tour For 2010”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  15. ^ Nestruck, Kelly (30 tháng 11 năm 2009). “Lady Gaga's Monster Ball, reviewed by a theatre critic”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  16. ^ Savage, Mark (19 tháng 2 năm 2010). “Lady Gaga: The Monster Ball meets Manchester”. BBC. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  17. ^ Waddell, Ray (5 tháng 5 năm 2011). “Lady Gaga's Monster Ball Tour Breaks Record for Debut Headlining Artist”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  18. ^ Waddelldate, Ray (13 tháng 10 năm 2010). “2010 Billboard Touring Award winners”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015. 
  19. ^ Waddell, Ray (ngày 8 tháng 2 năm 2012). “Exclusive Info: Lady Gaga's 'Born This Way Ball' Tour to Hit Asia, Europe, Latin America This Year; North America in 2013”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  20. ^ Grant, Damien (ngày 9 tháng 6 năm 2012). “Review: Lady Gaga II, passion in the cheap seats”. The New Zealand Herald. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  21. ^ Mitchell, John (ngày 27 tháng 4 năm 2012). “Lady Gaga's Born This Way Ball Kicks Off Amid Protests”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  22. ^ Macatee, Rebecca (ngày 27 tháng 4 năm 2012). “South Korea protesters deem Lady Gaga 'too homosexual and pornographic'. E!. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2016. 
  23. ^ Makarechi, Kia (ngày 15 tháng 2 năm 2013). “Lady Gaga Tour Cancellation Will Cost Millions”. HuffPost. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  24. ^ “2012 Pollstar Year–End Top 100 Worldwide Tours” (PDF). Pollstar. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2016. 
  25. ^ “2013 Pollstar Year–End Top 100 Worldwide Tours” (PDF). Pollstar. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 11 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2016. 
  26. ^ “Billboard Touring Awards: Roger Waters, Neil Diamond, Bruce Springsteen Win Big”. Billboard. Ngày 8 tháng 11 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  27. ^ Grow, Kory (ngày 3 tháng 12 năm 2013). “Lady Gaga Taking 'ArtRave' on the Road”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  28. ^ Book, Ryan (ngày 14 tháng 3 năm 2014). “Lady Gaga reveals 'artRave: ARTPOP Ball' stage design, and it's epic”. Music Times. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  29. ^ Carlson, Adam (ngày 8 tháng 5 năm 2014). “Lady Gaga's artRAVE: The ARTPOP Ball Shape-Shifts Through Atlanta”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  30. ^ Reed, James (ngày 1 tháng 7 năm 2014). “Lady Gaga brings usual spectacle but hollow performance”. Boston Globe. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  31. ^ Parker, Lyndsey (ngày 17 tháng 11 năm 2014). “Lady Gaga Streaming Final artRAVE Show on Yahoo Live: Nov. 24, 10:45 a.m. PT!”. Yahoo! Music. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  32. ^ Waddell, Ray (ngày 12 tháng 12 năm 2014). “Live Music's $20 Billion Year: Rolling Stones, One Direction, Live Nation Top Boxscore's Year–End”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  33. ^ Allen, Bob (ngày 5 tháng 12 năm 2014). “Rolling Stones & Lady Gaga Wrap Up Their Tours on Top”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2014. 
  34. ^ Reich, Howard (ngày 8 tháng 8 năm 2014). “Tony Bennett on Lady Gaga, and his dreams for his 90th birthday”. Chicago Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  35. ^ Lawrence, Jesse (ngày 4 tháng 11 năm 2014). “High Demand For Tony Bennett and Lady Gaga Tickets Lead To More Dates, High Secondary Market Prices”. Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  36. ^ Graser, Marc (ngày 1 tháng 1 năm 2015). “Lady Gaga, Tony Bennett Make Perfect Dance Partners as 'Cheek to Cheek' Tour Rings in New Year”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  37. ^ Farber, Jim (ngày 19 tháng 6 năm 2015). “Lady Gaga and Tony Bennett check to cheek and in sync at Radio City Music Hall”. Daily News (Thông cáo báo chí). New York. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  38. ^ Adams, Mark (ngày 3 tháng 1 năm 2015). “Lady Gaga and Tony Bennett dazzle at the Cosmopolitan's Chelsea”. Las Vegas Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  39. ^ Zoladz, Lindsay (ngày 11 tháng 12 năm 2015). “The 10 Best Concerts of 2015”. Vulture. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  40. ^ “Pollstar 2015 Year–End Top 200 North American Tours” (PDF). Pollstar. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2016. 
  41. ^ Copsey, Rob (ngày 6 tháng 2 năm 2016). “Lady Gaga announces Joanne world tour after hit-packed Super Bowl Halftime Show”. Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017. 
  42. ^ Respers, Lisa (ngày 19 tháng 9 năm 2017). “Lady Gaga postpones tour due to 'severe physical pain'. CNN. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2017. 
  43. ^ a ă â b Virtel, Louis (12 tháng 11 năm 2013). “Lady Gaga's 10 Best Live Performances”. Logo TV. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  44. ^ “Lady Gaga performs 'Just Dance' at Miss Universe 2008”. ladygaga.com. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  45. ^ “Brit Awards: the top 10 live performances”. The Daily Telegraph. 15 tháng 2 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  46. ^ “Lady GaGa's fiery performance gets the party started at music awards show”. Daily Mail. 22 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  47. ^ Pastorek, Whitney (22 tháng 11 năm 2009). “Lady Gaga brings a can't–miss performance to the American Music Awards. (We saw rehearsal.)”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  48. ^ Vena, Jocelyn (16 tháng 2 năm 2010). “Lady Gaga Pays Tribute To Alexander McQueen At Brit Awards”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  49. ^ “Lady Gaga Performance and Acceptance Speech – MuchMusic Video Awards 2011”. Fuse. 3 tháng 6 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016. 
  50. ^ Dinh, James (14 tháng 4 năm 2011). “Lady Gaga To Perform At MTV Video Music Aid Japan Show”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2016. 
  51. ^ Mitchell, John (28 tháng 8 năm 2011). “Lady Gaga's Jo Calderone Opens VMAs With A Monologue”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  52. ^ “Marry The Night (2011 EMA Performance)”. MTV News. 7 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  53. ^ Teran, Andi (11 tháng 11 năm 2011). “Lady Gaga Is A Gold–Tipped Swan At The Bambi Awards, Gets A Gold Deer From Karl Lagerfeld”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  54. ^ Coulehan, Erin (25 tháng 8 năm 2013). “VMAs 2013: Lady Gaga Performs 'Applause'. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  55. ^ Kaufman, Gil (3 tháng 11 năm 2013). “Lady Gaga Almost Falls Apart During Live 'Dope' Video”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016. 
  56. ^ Kaufman, Gil (24 tháng 11 năm 2013). “Lady Gaga Invades 'President' R. Kelly's Oval Office At American Music Awards”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  57. ^ Grow, Kory (31 tháng 12 năm 2014). “See Bruce Springsteen, Lady Gaga, Bruno Mars Honor Sting at Kennedy Center”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016. 
  58. ^ Leight, Elias (8 tháng 2 năm 2016). “Grammys 2015: Lady Gaga & Tony Bennett Perform 'Cheek To Cheek'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  59. ^ Strecker, Erin (22 tháng 2 năm 2015). “Oscars 2015: Lady Gaga Sings 'Sound of Music' Medley”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  60. ^ “Lady Gaga Performs 4 Non Blondes' 'What's Up' at Songwriters Hall of Fame Ceremony: Watch”. Billboard. 9 tháng 6 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2016. 
  61. ^ “Lady Gaga Performs 'Til It Happens to You' at Billboard Women in Music 2015: Watch”. Billboard. 28 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  62. ^ Olsen, Mark (24 tháng 1 năm 2016). 'The Big Short,' 'Inside Out,' 'Amy" win film prizes at Producers Guild Awards”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016. 
  63. ^ Strecker, Erin (2 tháng 2 năm 2016). “Lady Gaga Will Perform David Bowie Tribute at the Grammys”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  64. ^ Stone, Natalie (28 tháng 2 năm 2016). “Lady Gaga's Oscars Performance of 'Til It Happens to You' Introduced By Joe Biden – Video”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  65. ^ Wood, Mikael (5 tháng 4 năm 2016). “Lady Gaga played a killer jazz gig at a house in Beverly Hills”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2016. 
  66. ^ Nolfi, Joey (20 tháng 11 năm 2016). “Lady Gaga performs soaring rendition of 'Million Reasons' at the AMAs”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2016. 
  67. ^ Payne, Chris (12 tháng 2 năm 2017). “Watch Lady Gaga & Metallica Rock Through Mic Trouble, Perform 'Moth Into Flame' at the 2017 Grammys”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2017. 
  68. ^ Vlessing, Etan (8 tháng 9 năm 2017). “Toronto: Lady Gaga Performs "Bad Romance" at Film Festival”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2017. 
  69. ^ Nolfi, Joey (19 tháng 11 năm 2017). “Lady Gaga provides the 'The Cure' in soaring AMAs performance”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2017. 
  70. ^ Atkinson, Katie (28 tháng 1 năm 2018). “Watch Lady Gaga Perform 'Joanne' & 'Million Reasons' at 2018 Grammy Awards”. Billboard. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018. 
  71. ^ Cirisano, Tatiana (10 tháng 2 năm 2019). “Lady Gaga Rocks Out With Mark Ronson For Rousing Grammys Performance Of 'Shallow': Watch”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2019. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]