Tổ chức hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay hình thành trên cơ sở sáp nhập nhiều đơn vị hành chính do chính quyền qua các thời kỳ trước đây thành lập. Do đó, Tổ chức hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh trải qua nhiều lần thay đổi trong lịch sử tồn tại của thành phố.

Lịch sử hình thành, tồn tại các đơn vị hành chính trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Tiền Đại Việt (Giai đoạn trước 03/1698)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ Tiền Đại Việt địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, thuộc về Phù Nam và sau đó là Chân Lạp. Chưa có tư liệu lịch sử nào cho thấy: Các nước nêu trên đã từng thiết lập một hình thức đơn vị hành chính hoặc cơ quan chính quyền, nhằm quản lý khu vực này. Tuy nhiên, vào năm 1623, Chân Lạp cho phép Đàng Trong Đại Việt lập hai đồn thu thuế tại Prei Nokor (nay tương ứng với địa bàn một phần các quận: 1 và 4) và Kas Krobei (nay tương ứng với địa bàn một phần quận 2). Đây là những địa điểm qua lại và nghỉ ngơi của thương nhân Đại Việt đi Chân LạpXiêm La.

Thời Đại Việt - Việt Nam - Đại Nam (Giai đoạn 03/1698 - 27/02/1861)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 03/1698[1] Lễ Thành Hầu, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh phụng lệnh Quốc chúa Đàng Trong Đại Việt vào kinh lược vùng đất Đông Nam Bộ ngày nay, xác lập chủ quyền của Đại Việt trên vùng đất mới này.. Quan Thống suất thiết lập: Dinh Phiên Trấn, gồm huyện Tân Bình có bốn tổng (Bình Dương, Tân Long, Phước Lộc, Bình Thuận) và dinh Trấn Biên, gồm huyện Phước Long có bốn tổng (Tân Chánh, Bình An, Long Thành, Phước An)[1][2].
  • Năm 1808 Hoàng đế Việt Nam (Việt Nam là quốc hiệu chính thức từ năm 1804) nâng huyện Tân Bình thành phủ Tân Bình thuộc trấn Phiên An (tức dinh Phiên Trấn đổi tên), bốn tổng trực thuộc thành bốn huyện (riêng huyện Bình Thuận đổi tên thành huyện Thuận An). Năm 1832 Hoàng đế Việt Nam đổi trấn Phiên An thành tỉnh Phiên An và cắt hai huyện Phước Lộc và Thuận An (huyện này năm 1837 đổi tên là Cửu An) của phủ Tân Bình, nhập sang phủ Tân An (mới lập) cùng tỉnh. Đến năm 1838 tỉnh Phiên An đổi tên thành tỉnh Gia Định. Năm 1841 Hoàng đế Đại Nam (quốc hiệu Việt Nam đổi thành Đại Nam từ ngày 15/02/1839) tách huyện Bình Dương, lập huyện mới Bình Long thuộc phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định[3].
  • Do phủ Hòa Thạnh (lập năm 1841, với hai huyện: Tân Hòa và Tân Thạnh) giải thể nhập vào phủ Tân An từ năm 1851; nên đến trước lúc bị Pháp xâm chiếm, tỉnh Gia Định chỉ còn ba phủ trực thuộc: Tân Bình (gồm ba huyện: Bình Dương, Bình Long và Tân Long), Tân An (gồm bốn huyện: Cửu An, Phước Lộc, Tân Hòa và Tân Thạnh) và Tây Ninh (lập năm 1838, gồm hai huyện: Quang Hóa và Tân Ninh). Riêng phủ Tân Bình có 03 huyện với 18 tổng, 365 thôn (hoặc các đơn vị hành chính cơ sở khác tương đương như: ấp, bang, điếm, giáp, hộ, lân, nậu, phường, sóc, thủ, thuộc, xã) trực thuộc:
    • Huyện Bình Dương có sáu tổng với 123 thôn (hoặc các đơn vị hành chính cơ sở khác tương đương):
      • Tổng Bình Trị Thượng có 27 thôn;
      • Tổng Bình Trị Trung có 21 thôn;
      • Tổng Bình Trị Hạ có 26 thôn;
      • Tổng Dương Hòa Thượng có 20 thôn;
      • Tổng Dương Hòa Trung có 21 thôn;
      • Tổng Dương Hòa Hạ có 08 thôn;
    • Huyện Bình Long có sáu tổng với 85 thôn (hoặc các đơn vị hành chính cơ sở khác tương đương):
      • Tổng Bình Thạnh Thượng có 16 thôn;
      • Tổng Bình Thạnh Trung có 11 thôn;
      • Tổng Bình Thạnh Hạ có 12 thôn;
      • Tổng Cầu An Hạ có 12 thôn;
      • Tổng Long Tuy Thượng có 20 thôn;
      • Tổng Long Tuy Trung có 14 thôn;
    • Huyện Tân Long có sáu tổng với 157 thôn (hoặc các đơn vị hành chính cơ sở khác tương đương):
      • Tổng Tân Phong Thượng có 29 thôn;
      • Tổng Tân Phong Trung có 31 thôn;
      • Tổng Tân Phong Hạ có 21 thôn;
      • Tổng Long Hưng Thượng có 22 thôn;
      • Tổng Long Hưng Trung có 19 thôn;
      • Tổng Long Hưng Hạ có 08 thôn.
  • Năm 1808 Hoàng đế Việt Nam nâng huyện Phước Long thành phủ Phước Long thuộc trấn Biên Hòa (tức dinh Trấn Biên đổi tên), bốn tổng trực thuộc thành bốn huyện (riêng huyện Tân Chánh đổi tên thành huyện Phước Chánh). Năm 1832 Hoàng đế Việt Nam đổi trấn Biên Hòa thành tỉnh Biên Hòa; năm 1838 tách huyện Bình An, lập thêm huyện Ngãi An thuộc phủ Phước Long. Đồng thời cắt hai huyện Phước An và Long Thành của phủ này, nhập sang phủ Phước Tuy cùng tỉnh. Đến năm 1839 lập thêm huyện Phước Bình thuộc phủ Phước Long. Cho đến trước lúc bị Pháp xâm chiếm, phủ Phước Long thuộc tỉnh Biên Hòa có bốn huyện (Phước Chánh, Bình An, Ngãi An, Phước Bình) với 21 tổng.
    • Huyện Ngãi An thuộc phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa có năm tổng với 51 thôn (hoặc các đơn vị hành chính cơ sở khác tương đương):
      • Tổng An Bình có 10 thôn;
      • Tổng An Điền có 09 thôn;
      • Tổng An Thổ có 10 thôn;
      • Tổng An Thủy có 14 thôn;
      • Tổng Chánh Thiện có 08 thôn.
    • Tổng Long Vĩnh Hạ thuộc huyên Long Thành, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa có 12 thôn.
  • Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay chủ yếu tương đương với các địa bàn dưới đây có trước khi Pháp chiếm Miền Đông Nam Kỳ, hợp lại:
    • Phần lớn phủ Tân Bình thuộc tỉnh Gia Định, gồm:
      • Toàn bộ huyện Bình Dương; nay tương ứng với địa bàn các quận: 1, 3, 4, 7, Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Phú, Gò Vấp, Bình Thạnh, một phần của hai quận: 10 và 12 cùng hai huyện: Cần Giờ và Nhà Bè;
      • Phần lớn huyện Bình Long; nay tương ứng với địa bàn hai huyện: Hóc Môn, Củ Chi, phần lớn quận 12 và một phần huyện Bình Chánh;
      • Phần lớn huyện Tân Long; nay tương ứng với địa bàn các quận: 5, 6, 8, 11, Bình Tân, một phần quận 10 và phần lớn huyện Bình Chánh;
    • Một phần huyện Phước Lộc thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định; nay tương ứng với địa bàn một phần huyện Bình Chánh;
    • Phần lớn huyện Ngãi An thuộc phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa; nay tương ứng với địa bàn các quận: 2, Thủ Đức và một phần quận 9;
    • Tổng Long Vĩnh Hạ thuộc huyện Long Thành, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa; nay tương ứng với địa bàn phần lớn quận 9.

Thời Pháp thuộc và thời Đế quốc Việt Nam - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Quốc gia Việt Nam (Giai đoạn 28/02/1861 - 25/10/1955)[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sau khi lần lượt xâm chiếm ba tỉnh (province) Miền Đông Nam Kỳ của nước Đại Nam: Gia Định (ngày 28/02/1861), Định Tường (ngày 12/04/1861) và Biên Hòa (ngày 18/12/1861)[4], trong thời gian đầu chính quyền Pháp tạm thời duy trì các phủ (département), huyện (arrondissement) trực thuộc ba tỉnh này; bổ nhiệm các Tri phủ, Tri huyện quản lý người Việt, dưới sự chỉ đạo, giám sát chặt chẽ của viên Bố chánh tỉnh người Pháp (theo quyết định số 145 ngày 14/08/1862 của Thống đốc Nam Kỳ[5]). Đồng thời chính quyền Pháp từng bước tổ chức hệ thống hành chính mới, nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng chế độ cai trị trực tiếp tại vùng chiếm đóng. Chủ trương này được chính quyền Pháp đẩy mạnh, sau khi chiếm nốt ba tỉnh Miền Tây Nam Kỳ: Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên trong thời gian năm ngày (20/06/1867-24/06/1867).
  • Trên địa bàn tỉnh Gia Định[6] (đến ngày 16/08/1867 đổi tên thành tỉnh Sài Gòn[7][8]), chính quyền Pháp thành lập tuần tự các đơn vị hành chính dưới đây:
    • Thành phố (Ville) Sài Gòn;
    • Khu thanh tra (Inspection) Tây Ninh (lập ngày 17/02/1863) trên địa bàn phủ Tây Ninh (phủ này từ ngày 11/02/1864 có hai huyện trực thuộc là Quang Hóa và Tân Ninh)[2];
    • Khu thanh tra Tân An (lập ngày 09/11/1864) trên địa bàn hai huyện: Cửu An và Tân Thạnh của phủ Tân An;
    • Khu thanh tra Phước Lộc (lập ngày 09/11/1864 trên địa bàn huyện Phước Lộc của phủ Tân An, sau đổi tên là khu thanh tra Cần Giuộc ngày 16/08/1867, rồi giải thế nhập vào khu thanh tra Chợ Lớn và khu thanh tra Tân An ngày 05/06/1871);
    • Khu thanh tra Tân Hòa (lập ngày 09/11/1864 trên địa bàn huyện Tân Hòa của phủ Tân An, sau đổi tên là khu thanh tra Gò Công ngày 16/08/1867);
    • Thành phố Chợ Lớn;
    • Khu thanh tra Sài Gòn;
    • Khu thanh tra Quang Hóa (lập ngày 03/02/1866 trên địa bàn huyện Quang Hóa của phủ Tây Ninh. Khu này tách ra từ khu thanh tra Tây Ninh, sau đổi tên là khu thanh tra Trảng Bàng ngày 16/08/1867, rồi giải thế nhập vào khu thanh tra Chợ Lớn và khu thanh tra Tây Ninh ngày 05/06/1871);
    • Khu thanh tra Chợ Lớn.
  • Ngoài hai thành phố Sài GònChợ Lớn có tổ chức hành chính riêng; các khu thanh tra tại Nam Kỳ chia thành tổng (canton), tổng chia thành thôn (village). Số lượng khu thanh tra lúc cao nhất (vào năm 1868), toàn Nam Kỳ có 27.
  • Đến ngày 05/06/1871 các khu thanh tra đổi thành hạt (arrondissement) và thôn đổi thành làng (village). Đồng thời chính quyền Pháp chính thức giải thể các phủ, huyện có từ thời nước Đại Nam, được duy trì tạm trong thời kỳ đầu chiếm đóng Nam Kỳ. Số lượng hạt lúc cao nhất (vào năm 1882), toàn Nam Kỳ có 21.
  • Từ ngày 01/01/1900 hạt gọi là tỉnh (mới). Số lượng tỉnh (mới) lúc cao nhất (vào năm 1944), toàn Nam Kỳ có 21.
  • Từ thập niên 1900 chính quyền thuộc địa bắt đầu lập cấp hành chính trung gian giữa tỉnh (mới) và tổng, gọi là quận (circonscription)[9] hoặc cơ sở phái viên hành chánh (délégation administrative ou poste administratif).
  • Về sáu tỉnh tại Nam Kỳ (cũ) có từ thời Đại Nam, ngày 05/01/1876 Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định giải thể các tỉnh này (trong đó có tỉnh Sài Gòn, vốn chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa, sau khi lập các khu thanh tra và thành phố trực thuộc). Thay bằng bốn khu vực hành chánh (circonscription administrative): Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bát Xắc, đứng đầu mỗi khu vực là viên Thanh tra (Inspecteur). Khu vực hành chánh Sài Gòn có địa bàn rộng hơn, gồm cả hai tỉnh: Sài Gòn và Biên Hòa (cũ) hợp lại. Bốn khu vực hành chánh tồn tại đến ngày 10/10/1907 thì giải thể, thay thế bằng vùng I (Première région ou 1ère région)[10] và vùng II, theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Đứng đầu mỗi vùng là viên Thanh tra. Vùng I có địa bàn rộng lớn, do hai khu vực hành chánh (cũ): Sài Gòn và Mỹ Tho tạo thành. Tuy nhiên, đến ngày 26/05/1911 hai vùng đều bị Toàn quyền Đông Dương ký nghị định bãi bỏ. Từ thời gian này, giữa chính quyền Nam Kỳ và các tỉnh (mới) không còn cấp trung gian nào nữa.
  • Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, chủ yếu tương đương với thành phố Sài Gòn, thành phố Chợ Lớn, khu thanh tra Sài Gòn và một phần khu thanh tra Chợ Lớn nêu trên trong giai đoạn đầu của thời Pháp thuộc, hợp lại.

Tổ chức các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây tóm lược quá trình hình thành, tồn tại của những đơn vị hành chính trong giai đoạn 28/02/1861 - 25/10/1955, có địa giới là một phần của Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay:

Chính quyền Pháp thành lập thành phố Sài Gòn vào ngày 11/04/1861[11] theo nghị định của Thống đốc Nam Kỳ, trên địa bàn một số thôn của hai tổng: Bình Trị Thượng và Bình Trị Trung thuộc huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Địa giới hành chính lúc đầu chỉ gồm một phần của quận 1 hiện nay, diện tích 2 km2, dân số năm 1864 10.577 người. Trong thời gian đầu Thống đốc Nam Kỳ, thông qua Nha Nội chánh (Direction de l'Intérieur), cai trị trực tiếp thành phố[12]. Đến ngày 03/10/1865 Thống đóc Nam Kỳ ra nghị định xác định cụ thể ranh giới giữa thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn, theo nghị định này diện tích thành phố Sài Gòn là 3 km2. Ngày 04/04/1867 Thống đốc Nam Kỳ ký nghị định số 53 thành lập Ủy hội thành phố (Commission municipale) đứng đầu là vị Ủy viên thành phố (Commissaire municipal), để quản lý thành phố[13]. Đến ngày 08/07/1869 Thống đốc Nam Kỳ ký nghị định mới số 131 thay thế: Chức vụ Ủy viên thành phố được đổi thành Thị trưởng (Maire - một số tài liệu gọi là "Đốc lý"), đồng thời Ủy hội thành phố đổi thành Hội đồng thành phố (Conseil municipal) gồm 13 thành viên, có nhiều quyền hạn hơn[14]. Ngày 08/01/1877 Tổng thống Pháp ký sắc lệnh công nhận thành phố Sài Gòn là đô thị (municipalité) loại I. Sau khi thành lập Liên bang Đông Dương vào ngày 17/10/1887, chức vụ Thị trưởng thành phô Sài Gòn do Hội đồng thành phố bầu chọn, Thống đốc Nam Kỳ đề nghị và Toàn quyền Đông Dương quyết định chuẩn y. Qua thời gian, các vùng đất lân cận được sáp nhập dần vào thành phố. Năm 1884 diện tích thành phố là 4,06 km2, năm 1894 là 7,91 km2, năm 1906 là 13,17 km2, năm 1912 là 16,38 km2[15]. Năm 1881 dân số thành phố Sài Gòn có 13.481 người, năm 1884 có 14.459 người[16], năm 1902 có 50.870 người, năm 1910 có 64.121 người, năm 1930 tăng lên 143.306 người.

    • Đến tháng 09/1889 thành phố Sài Gòn được chia thành hai quận cảnh sát (arrondissement policier): 12, chỉ đảm trách an ninh, trật tự trên địa bàn, không phải cấp hành chính; tháng 12/1920 lập thêm quận 3. Đứng đầu mỗi quận cảnh sát là vị Quận trưởng cảnh sát (Commissaire)[17].
    • Thị trưởng quản lý thành phố thông qua các hộ (quartier) trực thuộc, là cấp hành chính đại diện. Năm 1896 thành phố có ba hộ: Cầu Ông Lãnh, Đa Kao và Khánh Hội. Đứng đầu mỗi hộ là Hộ trưởng (Chef-quartier ou Chef du quartier)[18]. Từ ngày 30/08/1905 số hộ trực thuộc là sáu[19].
  • Thành phố Chợ Lớn

Thành phố Chợ Lớn được lập vào ngày 06/06/1865 theo nghị định của Thống đốc Nam Kỳ, trên địa bàn một số thôn của ba tổng: Tân Phong Thượng (tổng này mặc nhiên giải thế), Tân Phong Trung và Tân Phong Hạ thuộc huyện Tân Long, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Đến ngày 03/10/1865 địa giới thành phố được xác định cụ thể với diện tích gần 1 km2, chỉ là một phần quận 5 hiện nay. Quản lý thành phố trong thập niên 1870 có một cơ quan hành chính lâm thời gọi là Ban Đại diện thành phố (Délégation municipale), đứng đầu là vị Chủ tịch (Président)[20]. Ngày 20/10/1879[21]. Thống đốc Nam Kỳ ban hành nghị định công nhận thành phố Chợ Lớn là đô thị loại II. Sau khi thành lập Liên bang Đông Dương vào ngày 17/10/1887, chức vụ Thị trưởng thành phố Chợ Lớn[3] do Ủy hội thành phố (Commission municipale) bầu chọn, Thống đốc Nam Kỳ đề nghị và Toàn quyền Đông Dương quyết định chuẩn y. Địa giới hành chính của thành phố được mở rộng dần bằng việc sáp nhập các vùng lân cận. Khi mới thành lập thành phố chia thành năm phường (quartier - phân biệt với "quartier" của thành phố Sài Gòn được nhiều tài liệu dịch là hộ), đánh số từ 1 đến 5; năm 1903 thành phố có chín phường; năm 1912 tăng thêm phường 10[21] và đến năm 1916 có mười sáu phường. Phường do Phường trưởng đứng đầu. Dân số thành phố Chợ Lớn năm 1902 là 129.791 người, năm 1910 là 159.620 người, năm 1930 tăng lên 193.100 người.[22]

  • Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn
    • Ngày 27/04/1931 Tổng thống Pháp ký sắc lệnh hợp nhất thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn thành một đơn vị hành chính mới gọi là Khu (một số tài liệu gọi là "Địa phương") Sài Gòn - Chợ Lớn (Région Saigon - Cholon ou Région de Saigon - Cholon). Tiếp theo ngày 14/12/1931 Toàn quyền Đông Dương ký nghị định quy định tổ chức bộ máy, hoạt động của khu. Quản lý khu có Hội đồng Hành chánh (Conseil d'Administration), đứng dầu là Khu trưởng (Administrateur de la région) do Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm[23]. Tuy nhiên chức vụ Thị trưởng của hai thành phố: Sài Gòn và Chợ Lớn còn duy trì, cho đến năm 1934 mới bãi bỏ. RIêng hoạt động của hai tòa thị chánh (mairie ou hôtel de ville - còn gọi là dinh Xã Tây[24]) Sài Gòn và Chợ Lớn còn tạm duy trì, để xử lý công việc hành chính. Đến ngày 19/12/1941 hai tòa thị chánh này kết thúc hoạt động. Phụ tá cho Khu trưởng quản lý khu vực thành phố Chợ Lớn cũ có vị Đặc phái viên Khu trưởng (Délégué spécial de l'Administrateur de la région à Cholon)[25].
    • Khu Sài Gòn - Chợ Lớn (chính thức hoạt động từ ngày 01/01/1932) có tổng diện tích 51 km2, dân số năm 1931 khoảng 350.000 người, về hành chính khu chia thành mười tám hộ[26] đánh số từ 1 đến 18[27]; đứng đầu là Hộ trưởng[28].
    • Về quản lý trị an, ngày 31/08/1933 khu được chia thành năm quận cảnh sát: 1, 2, 3, 4 và 5. Khu vực thành phố Sài Gòn cũ có ba quận: 1, 2 và 3; khu vực thành phố Chợ Lớn cũ có hai quận: 4 và 5. Đến ngày 22/09/1941 lập thêm quận cảnh sát 6 tại khu vực thành phố Sài Gòn cũ và năm 1952 lập quận cảnh sát 7 tại khu vực thành phố Chợ Lớn cũ. Ngày 26/03/1955 thành lập Nha Cảnh sát Đô thành tập trung thống nhất công tác quản lý trị an trên địa bàn[28].
    • Năm 1945[4] dân số khu tăng lên khoảng 550.000 người.
    • Tuy chức danh Đô trưởng (Préfet ou Chef-capitale ou Chef de la capitale) Sài Gòn đã có trong Nội các của Đế quốc Việt Nam; nhưng đến ngày 26/09/1947 chức danh Đô trưởng Sài Gòn - Chợ Lớn, để gọi người đứng đầu chính quyền khu, mới chính thức được pháp quy hoá[28].
    • Đến năm 1950 Khu Sài Gòn - Chợ Lớn có diện tích 58,3 km2.
    • Ngày 30/06/1951 Thủ tướng Quốc gia Việt Nam ký sắc lệnh số 311-cab/SG cải danh Khu Sài Gòn - Chợ Lớn thành Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn (Préfecture Saigon - Cholon ou Préfecture[29] de Saigon - Cholon ou Ville-capitale de Saigon - Cholon).
    • Ngày 27/12/1952 chính quyền tiến hành điều chỉnh hành chính: Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn giải thể mười tám hộ trực thuộc (theo sắc lệnh số 104-NV của Thủ tướng Quốc gia Việt Nam), thành lập bảy quận[28] (arrondissement - phân biệt với "arrondissement", thường được chính quyền Pháp dùng để dịch "huyện", một cấp hành chính tại Nam Kỳ có từ thời nước Đại Nam, được tạm duy trì cho đến đầu thập niên 1870 và với "arrondissement", thường được dịch là "hạt", một cấp hành chính tại Nam Kỳ trong thời gian 05/06/1871-31/12/1899) thay thế (theo sắc lệnh số 105-NV của Thủ tướng Quốc gia Việt Nam). Quận là cấp hành chính trực thuộc Đô thành, đứng đầu mỗi quận là vị Quận trưởng (Sous-préfet ou Chef-arrondissement ou Chef d`arrondissement). Địa giới bảy quận này trùng với địa bàn các quận cảnh sát tương ứng, cụ thể như sau:
      • Quận 1 là địa bàn hộ 1 cũ; nay thuộc địa giới quận 1;
      • Quận 2 là địa bàn hộ 2 cũ; nay thuộc địa giới quận 1;
      • Quận 3 là địa bàn ba hộ: 4, 5 và 6 cũ; nay thuộc địa giới quận 3quận 10;
      • Quận 4 là địa bàn bốn hộ: 8, 9, 10 và 13 cũ; nay thuộc địa giới quận 5, quận 8quận 10;
      • Quận 5 là địa bàn bảy hộ: 11, 12, 14, 15, 16, 17 và 18 cũ; nay thuộc địa giới quận 6, quận 8quận 11;
      • Quận 6 là địa bàn hộ 3 cũ; nay là quận 4;
      • Quận 7 là địa bàn hộ 7 cũ; nay thuộc địa giới quận 5.
    • Đến ngày 30/05/1954 Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam ký dụ số 11 phê chuẩn sắc lệnh của Thủ tướng Quốc gia Việt Nam về việc cải danh Khu Sài Gòn - Chợ Lớn thành Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn; đồng thời quy định việc đổi Hội đồng Hành chánh khu trước đây thành Hội đồng Đô thành (Conseil de la Préfecture), gồm 35 dân biểu do dân bầu trực tiếp[28].
  • Tỉnh Gia Định
    • Khu thanh tra Sài Gòn [7] (khác với thành phố Sài Gòn) được thành lập từ 03/02/1866 theo nghị định của Thống đốc Nam Kỳ, trên địa bàn hai huyện của phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định: Bình Dương và Bình Long (xem thêm Ghi chú (2)). Đến ngày 29/10/1866 khu thanh tra Sài Gòn nhận thêm phần đất của khu thanh tra Ngãi An giải thể nhập vào (khu thanh tra này thành lập từ ngày 14/03/1866, trên địa bàn huyện Ngãi An cũ thuộc phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa; lúc bấy giờ huyện này đã giải thể, địa bàn nhập vào huyện Bình An cùng phủ từ năm 1862). Khi nhập vào khu thanh tra Sài Gòn, huyện Ngãi An còn bốn tổng trực thuộc (An Bình, An Điền, An Thổ, An Thủy); riêng tổng Chánh Thiện giải thể vào ngày 29/10/1866, địa bàn nhập vào các tổng kế cận. Đến ngày 09/10/1868 huyện Ngãi An tách ra lập khu thanh tra độc lập, mang tên gọi là khu thanh tra Thủ Đức; nhưng đến ngày 30/12/1868 lại giải thể tái nhập vào khu thanh tra Sài Gòn.
    • Đứng đầu khu thanh tra Sài Gòn là viên Thanh tra.
    • Năm 1870 khu thanh tra Sài Gòn có mười lăm tổng, 211 thôn; với dân số 104.534 người[30].
    • Từ ngày 05/06/1871 khu thanh tra Sài Gòn đổi thành hạt (một số tài liệu gọi là "hạt tham biện") Sài Gòn, đứng đầu là vị Chánh tham biện (Premier administrateur ou 1er administrateur)[5] do Thống đốc Nam Kỳ bổ nhiệm. Đồng thời thôn cũng đổi tên gọi thành làng.
    • Ngày 18/12/1872 thành lập hai tổng:
      • Tổng Cần Giờ gồm 05 làng, từ phần đất cắt ra của hai tổng: Bình Trị Trung và Bình Trị Hạ;
      • Tổng An Thành gồm 09 làng, từ phần đất cắt ra của tổng An Bình.
    • Năm 1874 hạt Sài Gòn có mười bảy tổng và 231 làng[31]:
      • Địa bàn huyện Bình Dương (cũ) có bảy tổng (Dương Hòa Thượng, Dương Hòa Trung, Dương Hòa Hạ, Bình Trị Thượng, Bình Trị Trung, Bình Trị Hạ, Cần Giờ) và 111 làng;
      • Địa bàn huyện Bình Long (cũ) có bốn tổng (Long Tuy Thượng, Long Tuy Trung, Bình Thạnh Trung, Bình Thạnh Hạ) và 60 làng;
      • Địa bàn huyện Ngãi An (cũ) có sáu tổng (An Thổ, An Thủy, An Bình, An Điền, An Thành, Long Vĩnh Hạ[6]) và 60 làng.
    • Ngày 24/08/1876 hạt Sài Gòn đổi tên thành hạt Bình Hòa.
    • Năm 1879 dân số hạt Bình Hòa là 243.430 người.
    • Ngày 16/12/1885 hạt Bình Hòa đổi tên thành hạt Gia Định theo quyết định của Thống đốc Nam Kỳ.
    • Từ ngày 01/01/1900 hạt Gia Định đổi tên gọi thành tỉnh Gia Định (căn cứ theo nghị định ký ngày 20/12/1899 của Toàn quyền Đông Dương). Đứng đầu tỉnh Gia Định là viên Chủ tỉnh (Chef-province ou Chef de la province) do Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm. Bên cạnh Chủ tỉnh có Hội đồng tỉnh (Conseil provincial - một số tài liệu gọi là "Hội đồng địa hạt"); giữ vai trò tư vấn trong việc quản lý địa phương. Tỉnh lỵ (Chef-lieu) tỉnh Gia Định đặt tại Bình Hòa.
    • Năm 1902 dân số tỉnh Gia Định là 217.605 người, năm 1910 là 249.380 người, năm 1930 là 276.157 người.
    • Năm 1905 tỉnh Gia Định có 18 tổng với 190 làng. So với năm 1874, tỉnh Gia Định giảm tổng Dương Hòa Trung (nhập sang hạt Chợ Lớn từ ngày 24/02/1885); thêm hai tổng: An Thít (chia tách từ tổng Cần Giờ vào ngày 28/02/1875) và Long Tuy Hạ (chia tách từ tổng Long Tuy Trung vào ngày 24/02/1885).
    • Diện tích tỉnh Gia Định vào năm 1912 là 1.802,73 km2[32].
    • Từ ngày 01/01/1911 tỉnh Gia Định chia thành bốn quận: Thủ Đức, Nhà Bè, Gò VấpHóc Môn[33]. Đứng đầu mỗi quận là viên Chủ quận (Chef de la circonscription) do Thống đốc Nam Kỳ bổ nhiệm.
    • Dưới quận là tổng do Chánh tổng - còn gọi là Cai tổng (Chef du canton) đứng đầu. Chánh tổng do Chủ tỉnh bổ nhiệm. Năm 1940 tỉnh Gia Định có mười bảy tổng, cụ thể như sau:

Như thế so với năm 1905, vào năm 1940 tỉnh Gia Định giảm tổng Bình Trị Trung (giải thể từ 01/01/1917, các làng thuộc tổng sáp nhập vào hai tổng: An Bình và Bình Trị Thượng cùng tỉnh). Quận Thủ Đức tương đương với địa bàn huyện Ngãi An cũ; quận Hóc Môn chiếm phần lớn địa bàn huyện Bình Long cũ; quận Nhà Bè tương đương với một phần địa bàn huyện Bình Dương cũ; quận Gò Vấp tương đương với một phần của địa bàn hai huyện Bình Dương và Bình Long cũ.

    • Tổng chia thành làng, đứng đầu là Hội đồng Kỳ mục (còn gọi là Hội đồng Hương chức Hội tề) (Conseil de Grand Notable ou Conseil villageois), hoạt động theo nghị định ngày 27/08/1904 của Toàn quyền Đông Dương[34]. Hội đồng nảy do Hương cả phụ trách chung[35].
    • Ngày 11/05/1944 17 làng và một số khu vực (nằm kế cận Khu Sài Gòn - Chợ Lớn) thuộc các quận: Gò Vấp, Nhà Bè và Thủ Đức của tỉnh Gia Định tách ra, để lập tỉnh Tân Bình mới.
    • Tháng 08/1945 tỉnh Tân Bình giải thể, trả lại các vùng lấy trước đây cho ba quận Gò Vấp, Nhà Bè, Thủ Đức như cũ. Tái lập tổng Dương Hòa Thượng gồm bảy làng: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Tân Sơn Nhì, Tân Sơn Hòa, Tân Hòa, Vĩnh Lộc và Phú Thọ Hòa, thuộc quận Gò Vấp.
    • Ngày 03/05/1947 hai tổng: Cần GiờAn Thít của quận Nhà Bè tách khỏi tỉnh Gia Định, chuyển sang thuộc tỉnh Vũng Tàu.
    • Từ ngày 26/09/1947 chức danh Chủ tỉnh Gia Định đổi thành Tỉnh trưởng Gia Định.
  • Hạt Hai Mươi

Ngày 13/12/1880 Thống đốc Nam Kỳ ký nghị định tách một số làng (nằm kế cận thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn) của hạt Bình Hòa và hạt Chợ Lớn, lập hạt Hai Mươi (Vingtième arrondissement ou 20e arrondissement). Hạt này do Nha Nội chánh trực tiếp cai trị; gồm hai tổng: Bình Chánh Thượng có 7 làng trực thuộc, Dương Minh có 9 làng trực thuộc[36]. Đến ngày 12/01/1988 hạt Hai Mươi giải thể: Tổng Dương Minh nhập vào hạt Chợ Lớn; tổng Bình Chánh Thượng bãi bỏ, các làng trực thuộc tổng này sáp nhập vào thành phố Sài Gòn và tổng Dương Hòa Thượng của hạt Gia Định.

Ngày 11/05/1944 Toàn quyền Đông Dương ký nghị định tách một số vùng (nằm kế cận Khu Sài Gòn - Chợ Lớn) của tỉnh Gia Định; bao gồm: Toàn bộ tổng Dương Hòa Thượng (có bảy làng: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Tân Sơn Nhì, Tân Sơn Hoà, Tân Hòa, Vĩnh LộcPhú Thọ Hoà) của quận Gò Vấp, năm làng (Hanh Thông Xã, Hanh Thông Tây, Bình Hòa Xã, Thạnh Mỹ TâyAn Hội) thuộc tổng Bình Trị Thượng, quận Gò Vấp, năm làng thuộc tổng Bình Trị Hạ (Tân Thuận Đông, Tân Quy Đông, Phú Mỹ Tây, Phước Long ĐôngPhú Xuân Hội) cùng một phần làng Long Đức Đông thuộc tổng Dương Hòa Hạ của quận Nhà Bè và một phần làng An Khánh Xã thuộc tổng An Bình của quận Thủ Đức; để lập tỉnh Tân Bình[37]. Tỉnh lỵ tỉnh Tân Bình đặt tại Phú Nhuận. Tỉnh này chì có duy nhất quận Châu Thành lập ngày 19/09/1944[38], không có tổng trực thuộc, được chia ra ba khu vực quản lý: Gia Định, Thủ Thiêm và Nhà Bè. Đến ngày 25/10/1944 hai làng: An HộiHanh Thông Tây sáp nhập, lập thành làng Thông Tây Hội. Tỉnh Tân Bình tồn tại đến tháng 08/1945 thì giải thể.

  • Quận Cần Giờ - Quận Trung Quận - Quận Bình Xuyên
    • Quận Cần Giờ thành lập từ 03/05/1947 thuộc tỉnh Vũng Tàu (đến năm 1952 tỉnh này đổi thành thị xã Vũng Tàu), trên cơ sở tách hai tổng: Cần GiờAn Thít của quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định.
    • Quận Châu Thành thuộc tỉnh Chợ Lớn[7] (đơn vị hành chính riêng biệt với thành phố Chợ Lớn) thành lập năm 1918 với lỵ sở đặt chung trong thành phố Chợ Lớn, đến năm 1930 đổi tên thành quận Trung Quận hay còn gọi là quận Trung ương. Từ ngày 04/02/1947 đổi thành quận Gò Đen, do lỵ sở dời về thị tứ mang tên này (tuy nhiên tên gọi Trung Quận vẫn thông dụng hơn). Quận có bốn tổng: Tân Phong Hạ, Long Hưng Thượng, Long Hưng TrungLong Hưng Hạ.
    • Quận Bình Xuyên thuộc tỉnh Chợ Lớn tồn tại trong các thời gian từ 02/05/1933-12/1944 và từ 01/1953-22/10/1956, do tách ra tổng Tân Phong Hạ của quận Trung Quận. Sau đó quận Bình Xuyên giải thể, trả lại tổng Tân Phong Hạ cho quận Trung Quận như cũ. [8]

Thời Việt Nam Cộng hòa (Giai đoạn 26/10/1955 - 29/04/1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây tóm lược quá trình hình thành, tồn tại của những đơn vị hành chính trong thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, có địa giới là một phần của Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay:

Đô thành Sài Gòn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổ chức chính quyền
    • Theo sắc lệnh số 143/NV ngày 22/10/1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn đổi thành Đô thành Sài Gòn. đứng đầu là Đô trưởng do Tổng thống bổ nhiệm (thời kỳ đầu là viên chức dân sự, giai đoạn từ năm 1963 trở đi do tình hình chiến cuộc, chức vụ này thường do một sĩ quan cấp Đại tá trở lên đảm nhiệm), có một Tổng thơ ký và hai Phó Đô trưởng phụ tá (một phụ trách nội an, một phụ trách hành chính). Đô thành chia thành quận, dưới quận là phường, dưới phường là khóm; đứng đầu lần lượt là Quận trưởng, Phường trưởng và Khóm trưởng. Quận, phường và khóm chỉ là những cấp hành chính mang tính chất đại diện cho chính quyền Đô thành trên địa bàn quản lý. Khóm thường gồm từ 10-30 liên gia (có khoảng 20-40 gia đình/ liên gia), đứng đầu là Liên gia trưởng do dân bầu chọn.
    • Sắc lệnh số 74-TTP ngày 23/03/1959 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa quy định quy chế quản trị Đô thành Sài Gòn, theo đó các chức vụ Đô trưởng và Quận trưởng do Tổng thống bổ nhiệm.
    • Đô thành Sài Gòn có Hội đồng Đô thành (đứng đầu là vị Chủ tịch), gồm 35 nghị viên do dân bầu[28]. Hội đồng này có thẩm quyền quyết định về ngân sách, các vấn đề dân sinh trên địa bàn và giám sát việc quản lý của Đô trưởng.
  • Phân chia đơn vị hành chính
    • Nghị định số 110-NV ngày 27/03/1959 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa phân chia bảy quận đang có thành tám quận mới: Nhứt, Nhì, Ba, Tư, Năm, Sáu, Bảy và Tám[39]. Trừ ba quận: Nhứt, Nhì, Ba (tức ba quận: 1, 2, 3 cũ) giữ nguyên, các quận còn lại đều đổi tên và thay đổi địa giới hành chính):
    • Nghị định số 504-BNV/NC/8 ngày 22/04/1959 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa lập cấp hành chính phường dưới cấp quận; tám quận của Đô thành Sài Gòn chia thành 41 phường trực thuộc[40].
    • Năm 1965 Đô thành Sài Gòn có tám quận, bao gồm 54 phường, 707 khóm với tổng cộng 1.485.295 dân.
    • Sắc lệnh số 100-SL/NV ngày 15/06/1966 của Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương Việt Nam Cộng hòa cắt xã An Khánh Xã của quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định; nhập vào quận Nhứt. Diện tích Đô thành tăng lên 67,53 km2 vả không thay đổi đến tháng 4/1975.
    • Ngày 05/12/1966 xã An Khánh Xã được chia thành hai phường mới: An Khánh và Thủ Thiêm trực thuộc quận Nhứt.
    • Sắc lệnh số 9-SL/ĐUHC ngày 17/01/1967 của Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương Việt Nam Cộng hòa lập quận Chín mới, trên cơ sở hai phường: An Khánh và Thủ Thiêm tách khỏi quận Nhứt.
    • Sắc lệnh số 073-SL/NV ngày 01/07/1969 của Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa thành lập quận Mười và quận Mười Một. Quận Mười hình thành từ hai phường: Chí Hòa, Phan Thanh Giản của quận Ba và hai phường: Minh Mạng, Nguyễn Tri Phương của quận Năm; quận Mười Một hình thành từ phường Phú Thọ của quận Năm và ba phường: Bình Thới, Cầu Tre, Phú Thọ Hòa của quận Sáu[41]. Từ thời gian này Đô thành có tổng cộng mười một quận[42].
    • Về số phường, năm 1959 Đô thành Sài Gòn có 41 phường:
    • Về số khóm, năm 1965 Đô thành có 707 khóm, năm 1972 tăng lên 861 khóm.
    • Năm 1972 toàn Đô thành có 14.288 liên gia.
    • Dân số Đô thành Sài Gòn năm 1968 là 1.750.606 người, năm 1970 là 1.759.816 người, năm 1974 là 1.825.297 người.

Tỉnh Gia Định[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổ chức chính quyền
    • Dưới thời Việt Nam Cộng hòa cấp tỉnh chia thành quận, quận chia thành tổng, dưới tổng là xã (trước 1956 gọi là làng). Đứng đầu lần lượt là: Tỉnh trưởng (do Tổng thống bổ nhiệm), Quận trưởng, Chánh tổng và Xã trưởng. Xã chia thành nhiều ấp, đứng đầu mỗi ấp là Ấp trưởng.
    • Tỉnh Gia Định có Hội đồng tỉnh Gia Định (đứng đầu là vị Chủ tịch), gồm 30 nghị viên do dân bầu. Hội đồng này có thẩm quyền quyết định về ngân sách, các vấn đề dân sinh trên địa bàn và giám sát việc quản lý của Tỉnh trưởng. Quận và tổng không có Hội đồng tương ứng, do chỉ là cấp hành chính đại diên cho tỉnh. Riêng cấp xã do làng, xã Việt Nam theo truyền thống lịch sử có tính tự quản cao, nên có Hội đồng xã do dân bầu, có thẩm quyền trên các vấn đề đới sống của địa phương.
  • Phân chia đơn vị hành chính
    • Ngày 29/11/1955 chính quyền cắt tổng Bình Thạnh Hạ của quận Gò Vấp, nhập vào quận Hóc Môn. Tổng này được nhập thêm một phần tổng Long Tuy Thượng cùng quận Hóc Môn và đổi tên thành tổng Long Bình.
    • Năm 1956 sáp nhập hai xã: Tân Đông Thượng và Đông Hưng Thuận cùng thuộc tổng Bình Thạnh Trung, quận Hóc Môn, thành xã Đông Hưng Tân.
    • Đầu năm 1957 giải thể tổng An Thổ của quận Thủ Đức, các xã thuộc tổng này sáp nhập vào tổng An Thủy và tổng An Điền cùng quận.
    • Ngày 08/04/1957 ba tổng: Tân Phong Hạ, Long Hưng Thượng và Long Hưng Trung (tổng này được nhập thêm ba xã: Hưng Long, Qui Đức và Tân Quý Tây của tổng Phước Điền Thượng, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn) thuộc quận Gò Đen (Trung Quận) của tỉnh Chợ Lớn giải thể (theo sắc lệnh số 143/NV ngày 22/10/1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa) được sáp nhập vào tỉnh Gia Định, lập nên quận Bình Chánh mới[9]. Riêng tổng Long Hưng Hạ cùng quận Gò Đen (Trung Quận) cũ, nhập vào quận Bến Lức mới lập của tỉnh Long An;
    • Ngày 24/04/1957 chính quyền cắt bốn xã: Long Đức, Nhơn Đức, Hiệp Phước và Phú Lễ của tổng Dương Hòa Hạ, quận Nhà Bè chuyển sang thuộc quận Cần Giuộc, tỉnh Long An. Riêng hai xã: Long Kiểng và Phước Lộc Thôn của tổng này nhập vào tổng Bình Trị Hạ, quận Nhà Bè.
    • Nghị định số 138-BNV/HC/NĐ ngày 29/04/1957 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa cắt tổng Dương Hòa Thượng (gồm bảy xã) của quận Gò Vấp, lập nên quận Tân Bình mới[43]. Đây là quận thứ sáu của tỉnh Gia Định.
    • Ngày 02/05/1957 chính quyền cắt hai tổng: An ThủyLong Vĩnh Hạ của quận Thủ Đức, sáp nhập vào quận Dĩ An, tỉnh Biên Hòa[44].
    • Ngày 30/08/1957 tách ba tổng: Long Tuy Thượng, Long Tuy Trung và Long Tuy Hạ của quận Hóc Môn, lập nên quận Củ Chi thuộc tỉnh Bình Dương.
    • Ngày 29/02/1960 nhập xả Tân Hòa thuộc tổng Dương Hòa Thượng, quận Tân Bình, vào xã Vĩnh Lộc cùng tổng.
    • Ngày 03/06/1960 nhập xả Quới Xuân thuộc tổng Bình Trị Thượng, quận Gò Vấp, vào xã Thạnh Lộc Thôn cùng tổng.
    • Ngày 31/08/1961 hai xã: Long Đức và Nhơn Đức, tổng Dương Hòa Hạ, quận Cần Giuộc, tỉnh Long An trả lại cho quận Nhà Bè (nhập vào tổng Bình Trị Hạ).
    • Ngày 10/10/1962 tổng Long Vĩnh Hạ, quận Dĩ An, tỉnh Biên Hòa trả lại cho quận Thủ Đức.
    • Sau nhiều lần thay đổi, điều chỉnh địa giới hành chính, đến cuối năm 1962 tỉnh Gia Định có mười một tổng:
    • Từ năm 1962 chính quyền bỏ dần, đến năm 1965 bỏ hẳn cấp hành chính tổng.
    • Ngày 17/11/1965 hai quận: Quảng XuyênCần Giờ được cắt từ tỉnh Biên Hoà nhập vào tỉnh Gia Định.
    • Ngày 11/12/1965 lập xã Tân Phú thuộc quận Tân Bình, từ phần đất cắt ra của hai xã: Tân Sơn Nhì và Phú Thọ Hòa cùng quận.
    • Tính đến cuối năm 1965 tỉnh Gia Định có diện tích 1.554,63 km2, dân số 925.428 người, có 8 quận (Gò Vấp, Tân Bình, Thủ Đức, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ và Quảng Xuyên), 74 xã và 340 ấp.
    • Ngày 15/06/1966 xã An Khánh Xã của quận Thủ Đức bị cắt nhập vào Đô thành Sài Gòn, diện tích tỉnh Gia Định giảm còn 1545,4 km2 với 73 xã; từ đây địa giới hành chính của tỉnh giữ ổn định cho đến 30/04/1975.
    • Ngày 04/04/1972 thành lập xã Phước Bình thuộc quận Thủ Đức, do chia tách từ xã Phước Long Xã cùng quận. Lúc này tổng số xã của tỉnh Gia Định là 74[8].
    • Về số làng. xã trực thuộc, năm 1955 tỉnh Gia Định có 72 làng:
    • Vế số ấp trực thuộc, năm 1964 tỉnh Gia Định có 326, năm 1965 có 340, năm 1972 là 347, năm 1974 tăng lên 351.
    • Năm 1974 dân số tỉnh Gia Định là 1.422.653 người.

Quận Cần Giờ - Quận Quảng Xuyên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1956 quận Cần Giờ (gồm hai tổng: Cần Giờ và An Thít) thuộc thị xã Vũng Tàu. Ngày 03/01/1957 do thị xã này giải thể, quận Cần Giờ bị phân ra: Tổng An Thít giải thể, các xã của tổng này nhập vào tổng Dương Hòa Hạ, quận Cần Giuộc, tỉnh Long An; quận còn lại tổng Cần Giờ chuyển sang trực thuộc tỉnh Phước Tuy. Dân số quận Cần Giờ năm 1964 là 8.246 người, gồm 05 xã (Cần Thạnh, Đồng Hòa, Long Thạnh, Thạnh AnTân Thạnh) và 10 ấp; có diện tích 287,8 km2. Năm 1972 dân số là 9.934 người.
  • Ngày 30/08/1957 tái lập tổng An Thít thuộc quận Cần Giuộc, gồm bốn xã: Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn và Tam Thôn Hiệp của tổng Dương Hòa Hạ. Ngày 29/01/1959 lập quận Quảng Xuyên mới thuộc tỉnh Phước Tuy, trên cơ sở tổng An Thít tách từ quận Cân Giuộc, tỉnh Long An. Dân số quận Quảng Xuyên năm 1964 là 6.679 người, gồm 04 xã (An Thới Đông, Bình Khánh, Lý NhơnTam Thôn Hiệp) và 10 ấp; có diện tích 403,4 km2. Năm 1970 dân số tăng lên 14.617 người.
    • Đến 09/09/1960 hai quận: Cần Giờ và Quảng Xuyên của tỉnh Phước Tuy chuyển sang thuộc tỉnh Biên Hoà và từ 17/11/1965 lại đổi sang thuộc tỉnh Gia Định.

Quận Củ Chi - Quận Phú Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là Danh sách các phường, xã của Đô thành Sài Gòn, tỉnh Gia Định, quận Củ Chi và quận Phú Hòa đến ngày 29/04/1975.

DANH SÁCH CÁC PHƯỜNG, XÃ THUỘC ĐÔ THÀNH SÀI GÒN, TỈNH GIA ĐỊNH, QUẬN CỦ CHI VÀ QUẬN PHÚ HÒA
Tên quận thuộc Đô thành Sài Gòn
Số phường trực thuộc
Tên phường
Tên quận thuộc tỉnh Gia Định
Số xã trực thuộc
Tên xã
Nhứt 4 Bến Nghé, Hoà Bình, Tự Đức, Trần Quang Khải Bình Chánh 15 An Lạc, An Phú, An Phú Tây, Bình Chánh, Bình Hưng, Bình Trị Đông, Đa Phước, Hưng Long, Phong Đước, Qui Đức, Tân Kiên, Tân Nhựt, Tân Quý Tây, Tân Tạo, Tân Túc
Nhì 7 Bến Thành, Bùi Viện, Cầu Ông Lãnh, Cầu Kho, Nhà thờ Huyện Sĩ, Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cư Trinh Cần Giờ 5 Cần Thạnh, Đồng Hòa, Long Thạnh, Thạnh An, Tân Thạnh
Ba 9 Cộng Hoà, Cư Xá Đô Thành, Bàn Cờ, Hiền Vương, Lê Văn Duyệt, Phan Đình Phùng, Trần Quang Diệu, Trương Minh Giảng, Yên Đổ Gò Vấp 7 An Nhơn Xã, An Phú Đông, Bình Hòa Xã, Thạnh Lộc Thôn, Hanh Thông Xã, Thạnh Mỹ Tây, Thông Tây Hội
5 Cây Bàng, Khánh Hội, Lý Nhơn, Xóm Chiếu, Vĩnh Hội Hóc Môn 12 Đông Hưng Tân, Đông Thạnh, Nhị Bình, Tân Hiệp, Tân Thới Hiệp, Tân Thới Nhứt, Tân Thới Nhì, Tân Thới Trung, Thới Tam Thôn, Trung Mỹ Tây, Xuân Thới Sơn, Xuân Thới Thượng
Năm 8 An Đông, Chợ Quán, Đồng Khánh, Hồng Bàng, Khổng Tử, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Trãi, Trang Tử Nhà Bè 9 Phú Mỷ Tây, Phú Xuân Hội, Phước Long Đông, Tân Quy Đông, Tân Thuận Đông, Long Kiểng, Phước Lộc Thôn, Nhơn Đức, Long Đức
Sáu 5 Bình Phú, Bình Tây, Bình Tiên, Chợ, Phú Lâm Quảng Xuyên 4 An Thới Đông, Bình Khánh, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp
Bảy[46] 6 Bến Đá, Bình Đông, Cây Sung, Hàng Thái, Phú Định, Rạch Cát Tân Bình 7 Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Phú, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì, Vĩnh Lộc
Tám[46] 5 Bình An, Chánh Hưng, Hưng Phú, Rạch Ông, Xóm Củi Thủ Đức 15 Tam Bình Xã, Long Bình, Long Phước Thôn, Long Thạnh Mỹ, Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi, Phú Hữu, An Phú, Linh Xuân Thôn, Phước Long Xã, Linh Đông Xã, Long Trường, Tăng Nhơn Phú, Hiệp Bình Xã, Phước Bình
Chín 2 An Khánh, Thủ Thiêm
Mười 5 Chí Hòa, Minh Mạng, Nguyễn Tri Phương, Nhật Tảo, Phan Thanh Giản Củ Chi (tỉnh Hậu Nghĩa) 7 Tân An Hội, Tân Thông Hội, Phước Hiệp, Thái Mỹ, Trung Lập, Phước Vĩnh Ninh, Tân Phú Trung
Mười Một[41] 6 Bình Thạnh, Bình Thới, Cầu Tre, Phú Thọ Hoà, Phú Thọ, Phú Thạnh Phú Hòa (tỉnh Bình Dương) 9 An Nhơn Tây, Bình Mỹ, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông, Phú Mỹ Hưng, Hòa Phú, Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây, Trung An

Thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (Giai đoạn 30/04/1975 - 01/07/1976)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Đô thành Sài Gòn và các vùng lân cận vào ngày 30/04/1975, ngày 03/05/1975 thành phố Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Theo nghị quyết ngày 09/05/1975 của Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam thành phố Sài Gòn - Gia Định, thành phố hình thành trên cơ sở sáp nhập các đơn vị hành chính thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa dưới đây:
    • Thành phố Sài Gòn - Gia Định mới lập được tổ chức lại thành mười tám quận và năm huyện, bao gồm:
      • Mười một quận của Đô thành Sài Gòn (cũ): Nhất (thay vì viết Nhứt như thời Việt Nam Cộng hòa), Nhì, Ba, Tư, Năm, Sáu, Bảy, Tám, Chín, Mười và Mười Một.
      • Bảy xã "đô thị hóa" của tỉnh Gia Định (cũ) được nâng thành quận:
      • Năm huyện:
        • Củ Chi (gồm hai quận Củ Chi và Phú Hòa nhập lại);
        • Bình Chánh (gồm quận Bình Chánh, hai xã: Vĩnh Lộc và Bình Hưng Hòa của quận Tân Bình cũ và xã Bình Lợi là phần đất cắt từ xã Đức Hòa, quận Đức Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa cũ, xem thêm Ghi chú (9), sáp nhập với nhau);
        • Hóc Môn (gồm quận Hóc Môn và hai xã: An Phú Đông, Thạnh Lộc Thôn của quận Gò Vấp cũ sáp nhập);
        • Nhà Bè (gồm cả xã Hiệp Phước thuộc quận Cần Giuộc, tỉnh Long An);
        • Thủ Đức.
    • Dân số thành phố Sài Gòn - Gia Định vào tháng 5/1975 theo thống kê của chính quyền thành phố là 3.498.120 người.
    • Ngày 20/05/1976 tổ chức hành chánh thành phố Sài Gòn - Gia Định được sắp xếp lần hai (theo quyết định số 301/UB ngày 20/05/1976 của Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố Sài Gòn - Gia Định):
      • Mười tám quận nội thành được chuyển thành mười hai quận mới gồm:
        • Quận 1 (sáp nhập quận Nhất và quận Nhì cũ);
        • Quận 3 (quận Ba cũ);
        • Quận 4 (quận Tư cũ);
        • Quận 5 (quận Năm cũ);
        • Quận 6 (quận Sáu cũ);
        • Quận 8 (sáp nhập quận Bảy và quận Tám cũ);
        • Quận 10 (quận Mười cũ);
        • Quận 11 (quận Mười Một cũ);
        • Quận Bình Thạnh (sáp nhập hai quận Bình Hòa và Thạnh Mỹ Tây cũ);
        • Quận Phú Nhuận;
        • Quận Gò Vấp (sáp nhập hai quận Hạnh Thông và Thông Tây Hội cũ);
        • Quận Tân Bình (sáp nhập hai quận Tân Sơn Nhì và Tân Sơn Hòa cũ);
        • Riêng quận Chín giải thể, chia thành hai xã: Thủ Thiêm và An Khánh nhập vào huyện Thủ Đức.
      • Năm huyện (Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè và Thủ Đức) giữ nguyên.
      • Như thế thành phố Sài Gòn - Gia Định có mười hai quận và năm huyện.
  • Đơn vị hành chính trực thuộc quận, huyện:
  • Cấp phường, trong giai đoạn đầu sau khi tiếp quản, được chia thành nhiều khóm, xã chia thành nhiều ấp (tương tự như thời Việt Nam Cộng hòa). Từ tháng 12/1975 bỏ dần, đến tháng 05/1976 bỏ hẳn khóm tại các phường nội thành.

Về tổ chức chính quyền thời gian đầu sau khi tiếp quản, thành phố do Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định (đứng đầu là vị Chủ tịch) quản lý[48]. Từ ngày 21/01/1976 trách nhiệm quản lý này được chuyển giao cho cơ quan thay thế là Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố Sài Gòn - Gia Định (đứng đầu là vị Chủ tịch), do Chình phù Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thành lập[11].

Thời Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Giai đoạn 02/07/1976 đến nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức hành chính cấp thành phố và cấp quận, huyện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 02/07/1976 Quốc hội Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 1 chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh[49]. Thành phố được Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam xếp là đô thị loại đặc biệt (theo nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001)[50].
    • Ngày 18/09/1976 huyện Côn Đảo (chuyển từ tỉnh Côn Đảo giải thể) nhập vào Thành phố Hồ Chí Minh (theo nghị định số 164-CP ngày 18/09/1976 của Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Nhưng đến ngày 15/01/1977 huyện này tách ra chuyển về trực thuộc tỉnh Hậu Giang rồi lần lượt năm 1979, tách ra thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo và từ năm 1991 thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu[51].
    • Ngày 29/12/1977 huyện Duyên Hải, tỉnh Đồng Nai được chuyển giao cho Thành phố Hồ Chí Minh (căn cứ theo nghị quyết của Quốc hội Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 4). Từ thời gian này cho đến hiện nay, địa giới hành chính thành phố giữ ổn định với diện tích 2.095,01 km2. Lúc này thành phố gồm mười hai quận nội thành và sáu huyện ngoại thành.
      • Diện tích thành phố 2.095,01 km2 có tính cả cù lao Gò Gia, nằm giữa sông Thị Vải và sông Gò Gia, thuộc xã Thạnh An, huyện Duyên Hải, với 34,26 km2, có tranh chấp chủ quyền từ ngày 28/02/1978 đến nay giữa huyện này với huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai và huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu[52][53].
      • Ngày 18/12/1991 huyện Duyên Hải đổi tên trở lại thành huyện Cần Giờ (theo quyết định số 406-HĐBT ngày 18/12/1991 của Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
    • Nghị định số 03/CP ngày 06/01/1997 của Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam lập thêm năm quận mới tại thành phố: 2 (trên cơ sở tách các xã: An Khánh, An Phú, Thạnh Mỹ Lợi, Thủ Thiêm và một phần xã Bình Trưng của huyện Thủ Đức), 9 (trên cơ sở tách các xã: Long Bình, Long Trường, Long Phước, Long Thạnh Mỹ, Phước Bình, Tăng Nhơn Phú, Phú Hữu và một phần bốn xã: Bình Trưng, Phước Long, Tân Phú và Hiệp Phú của huyện Thủ Đức), Thủ Đức (phần còn lại của huyện Thủ Đức cũ, gồm: Thị trấn Thủ Đức, các xã: Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Linh Đông, Linh Trung, Linh Xuân, Tam Bình, Tam Phú và một phần ba xã: Phước Long, Tân Phú và Hiệp Phú), 7 (trên cơ sở tách các xã: Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây, Tân Quy Đông, Tân Quy Tây, Phú Mỹ và một phần thị trấn Nhà Bè của huyện Nhà Bè), 12 (trên cơ sở tách các xã: Đông Hưng Thuận, Tân Thới Hiệp, Tân Thới Nhất, Thạnh Lộc, An Phú Đông và một phần hai xã: Trung Mỹ Tây và Tân Chánh Hiệp của huyện Hóc Môn)[54].
    • Nghị định số 130/2003/NĐ-CP ngày 05/11/2003 của Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam lập thêm hai quận: Tân Phú (trên cơ sở tách các phường: 16, 17, 18, 19, 20 và một phần hai phường: 14 và 15 của quận Tân Bình) và Bình Tân (trên cơ sở tách các xã: Bình Hưng Hòa, Bình Trị Đông, Tân Tạo và thị trấn An Lạc của huyện Bình Chánh)[55].
    • Từ tháng 11/2003 đến nay Thành phố Hồ Chí Minh có hai mươi bốn đơn vị hành chánh trực thuộc gồm: mười chín quận nội thành và năm huyện ngoại thành.
  • Tóm lại, địa giới hành chính hiện nay của Thành phố Hồ Chí Minh hình thành từ sự hợp nhất các đơn vị hành chính có vào năm 1930 thời Pháp thuộc sau đây:
    • Thành phố Sài Gòn;
    • Thành phố Chợ Lớn;
    • Tỉnh Gia Định (ngoại trừ tổng An Thủy, quận Thủ Đức; nay là toàn bộ thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và làng Phú Lễ, tổng Dương Hòa Hạ, quận Nhà Bè; nay là một phần xã Long Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An);
    • Quận Trung Quận của tỉnh Chợ Lớn (ngoại trừ tổng Long Hưng Hạ; nay là toàn bộ sáu xã: An Thạnh, Long Hiệp, Phước Lợi, Mỹ Yên, Thạnh Phú, Tân Bửu và thị trấn Bến Lức; cùng một phần xã Tân Hòa của huyện Bến Lức, tỉnh Long An);
    • Ba làng: Hưng Long, Qui Đức và Tân Quý Tây của tổng Phước Điền Thượng, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn; nay là ba xã: Hưng Long, Qui Đức và Tân Quý Tây thuộc huyện Bình Chánh;
    • Một phần làng Đức Hòa của tổng Cầu An Hạ, quận Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn; nay là ba xã Bình Lợi, Phạm Văn Hai và Lê Minh Xuân thuộc huyện Bình Chánh[11].
  • Về tổ chức quản lý thành phố:
    • Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan quyền lực trên địa bàn, quyết định ngân sách, các vấn đề dân sinh và giám sát hoạt động của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng này gồm 95 đại biểu do dân bầu, đứng đầu là vị Chủ tịch Hội đồng Nhân dân.
    • Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan chấp hành, quản lý toàn bộ mọi hoạt động an ninh, kinh tế, văn hoá và xã hội trên địa bàn thành phố. Ủy ban này cùng vị Chủ tịch của Ủy ban đều do Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bầu chọn và Thủ tướng quyết định chuẩn y.
    • Đối với cấp quận/huyện, Ủy ban Nhân dân của địa phương quản lý toàn diện mọi hoạt động trên địa bàn theo phân cấp của thành phố. Trước 01/04/2009 Ủy ban Nhân dân quận/huyện và vị Chủ tịch của Ủy ban này do Hội đồng Nhân dân của quận/huyện tương ứng bầu chọn và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố quyết định chuẩn y. Từ 01/04/2009 đến nay do thành phố được Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII cho phép làm thí điểm bỏ Hội đồng Nhân dân tại quận/huyện (theo nghị quyết số 26/2008/QH12 ngày 15/11/2008 và hai nghị quyết: số 724/2009/NQ-UBTVQH12 ngày 16/01/2009 và số 725/2009/NQ-UBTVQH12 ngày 16/01/2009[56][57]), nên Chủ tịch và các thành viên Ủy ban Nhân dân của cấp hành chính này đều do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bổ nhiệm.

Tổ chức hành chính dưới cấp quận, huyện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Các đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền tại phường, xã, thị trấn:
    • Về tổ chức cấp hành chính trực thuộc, quận nội thành chia thành các phường, huyện ngoại thành chia thành các xã và thị trấn. Số lượng các đơn vị hành chính cấp phường, xã, thị trấn (dưới đây gọi tắt là đơn vị) thường biến động:
      • Năm 1976 toàn thành phố có 345 đơn vị, gồm: 270 phường, 74 xã và 01 thị trấn.
      • Năm 1977 toàn thành phố có 353 đơn vị, gồm: 268 phường, 83 xã và 02 thị trấn, thay đổi so năm 1976 do:
        • Ngày 23/03/1977 thành lập thị trân Hóc Môn, thuộc huyên Hóc Môn, từ phần đất cắt ra của ba xã: Tân Thới Nhì, Thới Tam Thôn và Tân Hiệp cùng huyện;
        • Ngày 13/04/1977 thành lập hai xã mới: Phạm Văn Hai và Lê Minh Xuân thuộc huyên Bình Chánh, từ phần đất cắt ra của xã Bình Lợi cùng huyện;
        • Ngáy 22/06/1977 quận Tân Bình giải thể hai phường: 27 và 28, địa bàn hai phường giải thể nhập vào các phường kế cận; số lượng phường trực thuộc quận còn 26;
        • Ngày 29/12/1978 huyện Duyên Hải, tỉnh Đồng Nai (tiền thân là hai quận: Cần Giờ và Quảng Xuyên thuộc tỉnh Gia Định thời Việt Nam Cộng hòa) sáp nhập vào Thành phố Hồ Chí Minh. Huyện có 07 xã (Cần Thạnh, Long Hòa, Thạnh An, An Thới Đông, Bình Khánh, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp). Trước đây huyện này có 09 xã, trong thời gian thuộc tỉnh Đồng Nai, chính quyền đã nhập xã Tân Thạnh vào xã Thạnh An; sáp nhập hai xã: Đồng HòaLong Thạnh với nhau, thành xã Long Hòa.
      • Năm 1979 toàn thành phố có 347 đơn vị, gồm: 262 phường, 83 xã và 02 thị trấn, thay đổi so năm 1977 do:
        • Ngày 17/02/1979 quận 6 giải thể ba phường: 3, 5 và 12, địa bàn ba phường giải thể nhập vào các phường kế cận; số lượng phường trực thuộc quận còn 17;
        • Ngày 17/02/1979 quận 10 giải thể ba phường: 10, 13 và 18, địa bàn ba phường giải thể nhập vào các phường kế cận; số lượng phường trực thuộc quận còn 22;
      • Năm 1988 do thực hiện chủ trương chung trong thời kỳ này sáp nhập một số phường có quy mô dân số tương đối nhỏ thành phường có quy mô lớn hơn, nên số đơn vị giảm chỉ còn 283; bao gồm: 182 phường, 96 xã và 5 thị trấn, thay đổi so năm 1979 do:
        • Ngày 12/09/1981:
          • Huyện Bình Chánh chuyển xã An Lac thành thị trấn An Lạc;
          • Quận 3 giải thể ba phường: 2, 4 và 6, địa bàn các phường giải thể nhập vào các phường kế cận. Số phường trực thuộc quận 3 còn 22;
          • Quận 10 giải thể hai phường: 4 và 17, địa bàn các phường giải thể nhập vào các phường kế cận. Số phường trực thuộc quận 10 còn 20;
        • Ngày 17/02/1982 quận 3 giải thể hai phường: 16 và 18, địa bàn các phường giải thể nhập vào các phường kế cận. Số phường trực thuộc quận 3 còn 20;
        • Ngày 26/08/1982:
          • Quận 1 giải thể bốn phường: 2, 5, 9 và 16, địa bàn các phường giải thể nhập vào các phường kế cận. Số phường trực thuộc quận 1 còn 21;
          • Quận 4 sáp nhập phường 11 vào phường 18. Số phường trực thuộc quận 4 còn 17;
          • Quận Bình Thạnh giải thể hai phường: 8 và 20, địa bàn các phường giải thể nhập vào các phường kế cận; điều chỉnh địa giới của phường 18 và phường 19. Số phường trực thuộc quận còn 26;
          • Quận Phú Nhuận giải thể hai phường: 6 và 16, địa bàn các phường giải thể nhập vào các phường kế cận. Số phường trực thuộc quận còn 15, sự phân chia đơn vị hành chính này giữ ổn định cho đến nay;
        • Ngày 11/07/1983:
          • Quận 11 giải thể phường 2, địa bàn phường giải thể nhập vào các phường kế cận; số lượng phường trực thuộc quận còn 20;
          • Quận Gò Vấp giải thể năm phường: 2, 6, 8, 9 và 14; địa bàn các phường giải thể nhập vào các phường kế cận. Số lượng phường trực thuộc quận còn 12;
          • Huyện Củ Chi chia xã Trung Lập thành hai xã: Trung Lập Thượng và Trung Lập Hạ, lập thêm xã Phước Thạnh từ phần đất cắt ra của xã Phước Hiệp, đổi tên xã Phạm Văn Cội 1 thành Phạm Văn Cội và xã Phạm Văn Cội 2 thành An Phú;
        • Ngày 01/02/1985 huyện Củ Chi lập thị trấn Củ Chi từ phần đất cắt ra của xã Tân An Hội. Như thế huyện Củ Chi có 01 thị trấn và 20 xã, phân chia đơn vị hành chính này giữ ổn định cho đến nay;
        • Ngày 01/11/1985:
          • Quận 4 giải thể phường 7, địa bàn phường giải thể nhập vào phường 6 và phường 9; giải thể phường 17, địa bàn phường giải thể nhập vào phường 16 và phường 18. Như thế quận 4 còn lại 15 phường giữ ổn định cho đến nay;
          • Huyện Bình Chánh chia xã Vĩnh Lộc thành hai xã: Vĩnh Lộc A và Vĩnh Lộc B. Như thế lúc này huyện Bình Chánh có 01 thị trấn và 19 xã;
        • Ngày 26/04/1986 quận 5 giải thể 24 phường hiện hữu, thay thế bằng 15 phường mới, đánh số từ 1 đến 15. Sự phân chia đơn vị hành chính này giữ ổn định cho đến nay;
        • Ngày 17/07/1986 huyện Nhà Bè chia xã Tân Quy thành hai xã: Tân Quy Đông và Tân Quy Tây, chia xã Tân Thuận thành hai xã: Tân Thuận Đông và Tân Thuận Tây, lập thị trấn Nhà Bè từ phần đất cắt ra của xã Phú Xuân và xã Phú Mỹ. Như thế lúc này huyện Nhà Bè có 01 thị trấn và 11 xã;
        • Ngày 14/02/1987:
          • Quận 6 giải thể 17 phường hiện hữu, thay thế bằng 14 phường mới, đánh số từ 1 đến 14. Sự phân chia đơn vị hành chính này giữ ổn định cho đến nay;
          • Quận 8 giải thể 22 phường hiện hữu, thay thế bằng 16 phường mới, đánh số từ 1 đến 16. Sự phân chia đơn vị hành chính này giữ ổn định cho đến nay;
          • Quận 10 giải thể 20 phường hiện hữu, thay thế bằng 15 phường mới, đánh số từ 1 đến 15. Sự phân chia đơn vị hành chính này giữ ổn định cho đến nay;
          • Ngoại trừ phường 1 không đổi, quận 11 giải thể 19 phường còn lại, thay thế bằng 15 phường mới, đánh số từ 2 đến 16. Như thế quận 11 còn 16 phường, sự phân chia đơn vị hành chính này giữ ổn định cho đến nay;
          • Huyện Thủ Đức chia xã Hiệp Bình thành hai xã: Hiệp Bình Chánh và Hiệp Bình Phước, lập xã Linh Trung từ phần đất cắt ra của xã Linh Xuân, lập xã Tam Phú và xã Linh Đông từ phần đất cắt ra của xã Tam Bình, lập xã Tân Phú và xã Hiệp Phú từ phần đất cắt ra của xã Tăng Nhơn Phú. Như thế lúc này huyện Thủ Đức có 01 thị trấn và 22 xã;
        • Ngày 27/08/1988:
          • Quận Bình Thạnh giải thể sáu phường: 4, 9, 10, 16, 18 và 23; địa bàn các phường giải thể nhập vào các phường kế cận. Số lượng phường trực thuộc quận còn 20, sự phân chia đơn vị hành chính này giữ ổn định cho đến nay;
          • Quận Tân Bình giải thể 26 phường hiện hữu, thay thế bằng 20 phường mới, đánh số từ 1 đến 20;
          • Huyện Hóc Môn lập thêm hai xã: Bà Điểm (từ phần đất cắt ra của xã Tân Thới Nhất) và Tân Chánh Hiệp (từ phần đất cắt ra của xã Đông Hưng Thuận và xã Trung Mỹ Tây). Như thế lúc này huyện Hóc Môn có 01 thị trấn và 16 xã;
        • Ngày 17/09/1988 ngoài phường 1 và phường 3 không thay đổi, quận 3 giải thể 18 phường còn lại, thay thế bằng 12 phường mang tên số mới: 2, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 vá 14. Tổng cộng quận 3 còn 14 phường, sự phân chia đơn vị hành chính này giữ ổn định cho đến nay;
        • Ngày 21/12/1988 quận 1 giải thể toàn bộ 21 phường mang tên số, thay thế bằng 10 phường mang tên chữ: Tân Định, Đa Kao, Bến Nghé, Bến Thành, Nguyễn Thái Bình, Cầu Ông Lãnh, Cô Giang, Cầu Kho, Nguyễn Cư Trinh và Phạm Ngũ Lão. Sự phân chia đơn vị hành chính này giữ ổn định cho đến nay.
      • Từ ngày 06/01/1997 số đơn vị tăng lên 303, bao gồm: 238 phường, 61 xã và 04 thị trấn. thay đổi so năm 1988 do:
        • Giải thể huyên Thủ Đức với 01 thị trấn và 22 xã trực thuộc. Trên địa bàn huyện cũ lập ba quận mới:
          • Quận 2 có 11 phường: An Khánh, An Phú, Bình Khánh, Bình Trưng Đông, Bình Trưng Tây, An Lợi Đông, Cát Lái, Thảo Điền, Thạnh Mỹ Lợi, Bình An và Thủ Thiêm[58];
          • Quận 9 có 13 phườngL Phước Long A, Tăng Nhơn Phú A, Phước Long B, Tăng Nhơn Phú B, Phước Bình, Phú Hữu, Tân Phú, Hiệp Phú, Long Bình, Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Long Phước và Trường Thạnh[44];
          • Quận Thủ Đức có 12 phường: Linh Chiểu, Linh Đông, Linh Trung, Linh Xuân, Bình Chiểu, Bình Thọ, Tam Bình, Tam Phú, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Trường Thọ và Linh Tây[59];
        • Giải thể năm xã: Tân Thuận Đông, Tân Thuân Tây, Tân Quy Đông, Tân Quy Tây và Phú Mỹ của huyện Nhà Bè:
          • Trên địa bàn các xã giải thể cộng thêm một phần đất của thị trấn Nhà Bè vào lúc đó, lập quận 7 có 10 phường: Tân Thuận Đông, Tân Thuân Tây, Tân Quy, Phú Mỹ, Tân Kiểng, Tân Phong, Tân Hưng, Tân Phú, Phú Thuận và Bình Thuận[60];
          • Huyện Nhà Bè còn lại 01 thị trấn và 06 xã, giữ ổn định cho đến nay;
        • Giải thể bảy xã: Tân Thới Hiệp, An Phú Đông, Tân Thới Nhất, Tân Chánh Hiệp, Trung Mỹ Tây, Đông Hưng Thuận và Thạnh Lộc của huyện Hóc Môn:
          • Trên địa bàn các xã giải thể lập quận 12 có 10 phường: An Phú Đông, Tân Thới Nhất, Tân Chánh Hiệp, Trung Mỹ Tây, Đông Hưng Thuận, Thới An, Thạnh Xuân, Hiệp Thạnh, Tân Thới Hiệp và Thạnh Lộc[61];
          • Huyện Hóc Môn còn lại 01 thị trấn và 09 xã.
      • Từ ngày 05/11/2003 tổng số đơn vị là 317, bao gồm: 254 phường, 58 xã và 05 thị trấn, thay đổi so năm 1997 do:
        • Giải thể năm phường: 16, 17, 18, 19 và 20 của quận Tân Bình:
          • Trên địa bàn năm phường giải thể và phần đất cắt ra từ hai phường 14 và 15 của quận Tân Bình, lập quận Tân Phú có 11 phường: Tân Sơn Nhì, Tân Thới Hòa, Hòa Thạnh, Phú Thọ Hòa, Tân Quý, Sơn Kỳ, Hiệp Tân, Tây Thạnh, Tân Thành, Phú Thạnh và Phú Trung[62];
          • Quận Tân Bình còn lại 15 phường, giữ ổn định cho đến nay.
        • Giải thể thị trấn An Lạc và ba xã: Bình Trị Đông, Binh Hưng Hòa và Tân Tạo của huyện Bình Chánh:
          • Trên địa bàn các xã giải thể lập quận Bình Tân có 10 phường: Bình Trị Đông, Binh Hưng Hòa, Bình Trị Đông A, Binh Hưng Hòa; A,Bình Trị Đông B, Binh Hưng Hòa B, An Lạc, An Lạc A, Tân Tạo và Tân Tạo A[63];
          • Chuyển xã Tân Túc thành thị trấn Tân Túc thuộc huyện Bình Chánh. Như thế huyện này còn lại 01 thị trấn và 15 xã, giữ ổn định cho đến nay;
        • Lập hai xã: Trung Chánh và Xuân Thới Đông thuộc huyện Hóc Môn từ phần đất cắt ra của xã Tân Xuân cùng huyện. Như thế huyện này có lại 01 thị trấn và 11 xã, giữ ổn định cho đến nay;
        • Chuyển xã Cần Thạnh thành thị trấn Cần Thạnh thuộc huyện Cần Giờ (tức huyện Duyên Hải đổi tên từ ngày 18/12/1991). Như thế huyện này còn lại 01 thị trấn và 06 xã, giữ ổn định cho đến nay;
      • Từ ngày 23/11/2006 đến nay số đơn vị là 322, bao gồm: 259 phường, 58 xã và 05 thị trấn, thay đổi so năm 2003 do quy định tại nghị định số 143/2006/NĐ-CP ngày 05/11/2003 của Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:
        • Lập thêm phường Tân Hưng Thuận thuộc quận 12 từ phần đất cắt ra của phường Đông Hưng Thuận cùng quận. Như thế quận có 11 phường, giữ ổn định cho đến nay[61];
        • Lập thêm bốn phường: 6, 8, 9 và 14 tại quận Gò Vấp từ phần đất cắt ra của các phường khác cùng quận[64]. Như thế quận có 16 phường, giữ ổn định cho đến nay.
    • Về tổ chức chính quyền Ủy ban Nhân dân phường/xã/thị trấn quản lý toàn diện mọi hoạt động trên địa bàn theo phân cấp của thành phố và của quận/huyện. Trước 01/04/2009 Ủy ban Nhân dân phường và vị Chủ tịch của Ủy ban này do Hội đồng Nhân dân phường bầu chọn và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân quận quyết định chuẩn y. Từ 01/04/2009 đến nay do thành phố được Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII cho phép làm thí điểm bỏ Hội đồng Nhân dân tại phường (theo nghị quyết số 26/2008/QH12 ngày 15/11/2008 và hai nghị quyết: số 724/2009/NQ-UBTVQH12 ngày 16/01/2009 và số 725/2009/NQ-UBTVQH12 ngày 16/01/2009[56][57]), nên Chủ tịch và các thành viên của Ủy ban Nhân dân địa phương đều do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân quận bổ nhiệm. Đối với các xã/thị trấn, Ủy ban Nhân dân địa phương và vị Chủ tịch của Ủy ban này do Hội đồng Nhân dân xã/thị trấn bầu chọn và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện quyết định chuẩn y.
  • Tổ chức quản lý hành chính dưới cấp phường, xã, thị trấn
    • Đầu thập niên 1980 do nhu cầu quản lý hành chính tại địa phương, chính quyền thành phố lập ra khu phố tại phường nội thành. Mỗi phường gồm nhiều khu phố (bình quân một khu phố phụ trách khoảng 400-700 hộ dân (tương đương 1.600-2.800 nhân khẩu). Đây không phải là một cấp hành chính mà chỉ là "cánh tay nối dài" của phường. Đứng đầu mỗi khu phố là Trưởng ban điều hành khu phố (gọi tắt là Trưởng khu phố), có 1 Phó Trưởng ban giúp việc, đều do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân phường bổ nhiệm.
    • Dưới khu phố là tổ dân phố (gồm khoảng 40 hộ dân/tổ dân phố). Tổ dân phố có Tổ trưởng đúng đầu và 1-2 Tổ phó giúp việc, tất cả đều do dân trong tổ bầu chọn.
    • Hiện nay, tại các thị trấn thuộc huyện tổ chức hành chính tương tự phường nội thành: Chia thành nhiều khu phố, dưới khu phố là tổ dân phố.
    • Các xã thuộc huyện chia thành nhiều ấp (đứng đầu là Trưởng và Phó Trưởng ban Nhân dân ấp do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã bổ nhiệm). Cũng như khu phố, ấp không phải là một cấp hành chính. Ấp gồm nhiều tổ nhân dân, tổ chức tương tự với tổ dân phố của các khu phố tại nội thành..
    • Tính đến tháng 10/2013, trên địa bàn thành phố có tổng cộng 1.974 khu phố và ấp[65].

Khuynh hướng đặt tên các quận, huyện, phường, xã và thị trấn tại Thành phố Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Về tên gọi các huyện, xã và thị trấn tại Thành phố Hồ Chí Minh đều đặt tên chữ. Tuy nhiên tên đặt cho quận và phường không thống nhất. Thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa tên của mười một quận đặt theo số, tên phường đặt theo chữ. Từ ngày 30/04/1975 tuy đã nhiều lần thay đổi, nhưng hiện nay vẫn tồn tai cả bốn dạng:

  • Quận tên số, phường tên số (như tại các quận đã hình thành từ thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa, ngoại trừ quận 1). Hiện Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương duy nhất trong nước có tên quận đặt theo số.
  • Quận tên số, phường tên chữ (như tại quận 1 do từ 21/12/1988 làm thí điểm đổi tên phường từ số thành chữ và bốn quận: 2, 7, 9 và 12 mới lập năm 1997).
  • Quận tên chữ, phường tên số (tại các quận lập từ các xã của tỉnh Gia Định cũ).
  • Quận tên chữ, phường tên chữ (quận Thủ Đức và hai quận: Tân Phú và Bình Tân lập năm 2003).

Do việc sáp nhập nhiều phường quy mô nhỏ thành phường lớn hơn trong thập niên 1980, nên tại một số quận có tên phường đặt theo số, có tình trạng số đánh không liên tục. Điển hình là quận Bình Thạnh: Tuy hiện nay toàn quận chỉ có 20 phường, nhưng có phường 28, trong khi không có các phường 4, 8, 9, 10, 16, 18, 20, 23.

Khuynh hướng chung trong thời gian tới: Đối với các đơn vị hành chính thành lập mới sẽ đặt tên theo chữ chứ không theo số như trước.

Danh sách các quận, huyện Thành phố Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là Danh sách các quận, huyện Thành phố Hồ Chí Minh cùng diện tích và dân số của từng đơn vị

DANH SÁCH CÁC QUẬN, HUYỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tên quận/huyện
(từ 05/11/2003)
Số đơn vị trực thuộc
(từ 23/11/2006)
Diện tích (km²)
(từ 23/11/2006)
Dân số
(tính đến giữa năm 2011)[66]
Các quận
Quận 1 10 phường 7,73 185.715
Quận 2 11 phường 49,74 136.497
Quận 3 14 phường 4,92 188.898
Quận 4 15 phường 4,18 183.032
Quận 5 15 phường 4,27 175.217
Quận 6 14 phường 7,19 251.902
Quận 7 10 phường 35,69 265.997
Quận 8 16 phường 19,18 421.547
Quận 9 13 phường 114 269.098
Quận 10 15 phường 5,72 234.188
Quận 11 16 phường 5,14 234.293
Quận 12 11 phường 52,78 451.737
Quận Gò Vấp 16 phường 19,74 561.068
Quận Tân Bình 15 phường 22,38 430.350
Quận Tân Phú 11 phường 16,06 4 419.227
Quận Bình Thạnh 20 phường 20,76 479.733
Quận Phú Nhuận 15 phường 4,88 175.631
Quận Thủ Đức 12 phường 47,76 474.547
Quận Bình Tân 10 phường 51,89 611.170
Cộng các quận 259 phường 494,01 6.149.817
Các huyện
Huyện Củ Chi 20 xã và 1 thị trấn 434,50 362.454
Huyện Hóc Môn 11 xã và 1 thị trấn 109,18 363.171
Huyện Bình Chánh 15 xã và 1 thị trấn 252,69 465.248
Huyện Nhà Bè 6 xã và 1 thị trấn 100,41 109.949
Huyện Cần Giờ 6 xã và 1 thị trấn 704,22 70.499
Cộng các huyện 58 xã và 5 thị trấn 1.601 1.371.321
Toàn thành phố 259 phường, 58 xã và 5 thị trấn 2.095,01 7.521.138

Danh sách các phường, xã và thị trấn Thành phố Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là Danh sách các phường, xã và thị trấn Thành phố Hồ Chí Minh cùng diện tích và dân số của từng đơn vị

DANH SÁCH CÁC PHƯỜNG, XÃ VÀ THỊ TRẤN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tên phường, xã, thị trấn
(từ 23/11/2006)
Diện tích (km²)
(từ 23/11/2006)
Dân số
(Điều tra dân số 1/4/2009)
Tên phường, xã, thị trấn
(từ 23/11/2006)
Diện tích (km²)
(từ 23/11/2006)
Dân số
(Điều tra dân số 1/4/2009)
Quận 1 7,73 180.225 Quận 2 49,75 147.490
Phường Bến Nghé 2,49 16.906 Phường An Khánh 1,77 23.239
Phường Bến Thành 0,93 16.770 Phường An Lợi Đông 3,6 9.002
Phường Cô Giang 0,36 18.867 Phường An Phú 10,21 10.794
Phường Cầu Kho 0,34 16.239 Phường Bình An 1,85 14.362
Phường Cầu Ông Lãnh 0,23 15.515 Phường Bình Khánh 2,01 10.429
Phường Đa Kao 1 18.562 Phường Bình Trưng Đông 3,32 12.385
Phường Nguyễn Thái Bình 0,49 15.338 Phường Bình Trưng Tây 2,05 17.104
Phường Nguyễn Cư Trinh 0,76 20.444 Phường Cát Lái 6,62 10.826
Phường Phạm Ngũ Lão 0,49 17.858 Phường Thạnh Mỹ Lợi 13,01 11.933
Phường Tân Định 0,63 23.725 Phường Thảo Điền 3,81 12.234
Quận 3 4,92 190.553 Phường Thủ Thiêm 1,5 14.732
Phường 1 0,15 14.712 Quận 4 4,18 180.980
Phường 2 0,15 10.653 Phường 1 0,38 10.030
Phường 3 0,15 10.571 Phường 2 0,19 11.833
Phường 4 0,31 18.240 Phường 3 0,3 11.365
Phường 5 0,25 14.093 Phường 4 0,29 16.450
Phường 6 0,88 10.306 Phường 5 0,16 10.899
Phường 7 0,92 14.769 Phường 6 0,2 10.333
Phường 8 0,4 16.355 Phường 8 0,16 14.896
Phường 9 0,44 18.036 Phường 9 0,12 11.018
Phường 10 0,16 8.422 Phường 10 0,11 10.384
Phường 11 0,48 21.423 Phường 12 0,42 9.427
Phường 12 0,16 9.580 Phường 13 0,43 10.507
Phường 13 0,16 7.556 Phường 14 0,17 14.747
Phường 14 0,31 15.837 Phường 15 0,21 11.549
Quận 5 4,26 171.452 Phường 16 0,33 16.593
Phường 1 0,43 17.817 Phường 18 0,71 10.950
Phường 2 0,29 14.433 Quận 6 7,14 249.329
Phường 3 0,18 7.372 Phường 1 0,29 12.351
Phường 4 0,38 10.252 Phường 2 0,25 11.506
Phường 5 0,22 14.205 Phường 3 0,23 11.971
Phường 6 0,24 10.349 Phường 4 0,21 13.804
Phường 7 0,24 12.015 Phường 5 0,23 16.616
Phường 8 0,24 7.999 Phường 6 0,32 18.217
Phường 9 0,39 13.392 Phường 7 0,47 17.479
Phường 10 0,23 10.097 Phường 8 0,41 23.820
Phường 11 0,31 12.169 Phường 9 0,27 14.285
Phường 12 0,37 5.572 Phường 10 1,54 17.092
Phường 13 0,27 11.338 Phường 11 0,93 22.051
Phường 14 0,28 13.907 Phường 12 0,73 26.906
Phường 15 0,19 10.534 Phường 13 0,84 21.811
Quận 7 35,69 244.276 Phường 14 0,42 21.419
Phường Bình Thuận 1,62 19.014 Quận 8 19,18 408.772
Phường Phú Mỹ 3,85 17.229 Phường 1 0,49 26.539
Phường Phú Thuận 8,83 16.258 Phường 2 0,5 30.199
Phường Tân Hưng 2,2 35.125 Phường 3 0,51 28.447
Phường Tân Phong 4,47 8.949 Phường 4 1,46 37.657
Phường Tân Phú 4,3 19.603 Phường 5 1,62 36.427
Phường Tân Kiểng 1 33.444 Phường 6 1,46 28.878
Phường Tân Quy 0.86 29.102 Phường 7 5,7 18.681
Phường Tân Thuận Đông 7,51 32.445 Phường 8 0,29 16.386
Phường Tân Thuận Tây 1,05 33.108 Phường 9 0,44 29.416
Quận 9 114,01 256.257 Phường 10 0,25 27.015
Phường Hiệp Phú 2,24 32.479 Phường 11 0,27 16.223
Phường Long Bình 17,82 24.048 Phường 12 0,3 25.362
Phường Long Phước 24.5 10.393 Phường 13 0,25 13.501
Phường Long Trường 12,61 9.545 Phường 14 0,55 25.617
Phường Long Thạnh Mỹ 11,98 19.715 Phường 15 1,58 34.487
Phường Phú Hữu 11,86 8.813 Phường 16 3,55 13.937
Phường Phước Bình 0,99 28.629 Quận 10 5,72 230.345
Phường Phước Long A 2,37 24.030 Phường 1 0,21 12.910
Phường Phước Long B 5,88 25.525 Phường 2 0,2 17.686
Phường Tăng Nhơn Phú A 4,18 26.801 Phường 3 0,1 12.073
Phường Tăng Nhơn Phú B 5,29 14.820 Phường 4 0,16 12.537
Phường Tân Phú 4.45 21.361 Phường 5 0,16 11.120
Phường Trường Thạnh 9,84 10.098 Phường 6 0,22 8.091
Quận 11 5,14 226.854 Phường 7 0,11 10.702
Phường 1 0,27 13.827 Phường 8 0,15 11.434
Phường 2 0,21 12.098 Phường 9 0,2 18.156
Phường 3 0,79 22.468 Phường 10 0,19 11.547
Phường 4 0,17 10.997 Phường 11 0,22 12.247
Phường 5 0,67 23.916 Phường 12 1,29 22.422
Phường 6 0,17 12.593 Phường 13 0,47 23.498
Phường 7 0,16 12.953 Phường 14 1,27 21.374
Phường 8 0,33 13.835 Phường 15 0,77 24.548
Phường 9 0,15 9.584 Quận 12 52,83 405.360
Phường 10 0,25 9.505 Phường An Phú Đông 8,84 23.883
Phường 11 0,24 13.575 Phường Đông Hưng Thuận 2,55 70.484
Phường 12 0,13 10.499 Phường Hiệp Thành 5,44 34.413
Phường 13 0,19 13.273 Phường Tân Chánh Hiệp 4,24 32.341
Phường 14 0,31 17.006 Phường Tân Thới Hiệp 2,63 30.022
Phường 15 0,81 16.011 Phường Tân Thới Nhất 3,89 45.571
Phường 16 0,29 14.713 Phường Thạnh Lôc 5,83 26.499
Quận Gò Vấp 20,94 522.690 Phường Thạnh Xuân 9,67 26.068
Phường 1 0,58 21.078 Phường Thới An 5,18 22.357
Phường 3 1,45 36.958 Phường Trung Mỹ Tây 2,75 40.851
Phường 4 0,38 22.669 Phường Tân Hưng Thuận 1,81 52.922
Phường 5 1,57 24.815 Quận Thủ Đức 47,76 442.177
Phường 6 1,65 26.985 Phường Bình Chiểu 5,43 41.841
Phường 7 2,17 40.898 Phường Bình Thọ 1,21 24.850
Phường 8 1,17 30.081 Phường Hiệp Bình Chánh 6,48 53.909
Phường 9 0,84 27.520 Phường Hiệp Bình Phước 7,65 36.067
Phường 10 1,65 35.492 Phường Linh Chiểu 1,41 31.947
Phường 11 1,22 42.528 Phường Linh Đông 2,95 42.241
Phường 12 1,43 57.043 Phường Linh Tây 1,37 31.761
Phường 13 0,86 16.982 Phường Linh Trung 7,04 44.246
Phường 14 2,09 34.066 Phường Linh Xuân 3,88 38.461
Phường 15 1,43 19.942 Phường Tam Bình 2,19 24.960
Phường 16 1,28 33.147 Phường Tam Phú 3,12 31.039
Phường 17 1,17 52.487 Phường Trường Thọ 5,03 40.855
Quận Tân Phú 16,07 398.102 Quận Bình Tân 51,87 572.132
Phường Hòa Thạnh 0,93 27.683 Phường An Lạc 4,59 42.508
Phường Hiệp Tân 1,13 28.099 Phường An Lạc A 1,41 59.935
Phường Phú Thạnh 1,14 36.898 Phường Bình Hưng Hòa 4,7 50.348
Phường Phú Thọ Hòa 1,23 40.241 Phường Bình Hưng Hòa A 3,95 51.529
Phường Phú Trung 0,9 49.113 Phường Bình Hưng Hòa B 7,52 49.196
Phường Sơn Kỳ 2,12 24.062 Phường Bình Trị Đông 3,46 54.469
Phường Tân Thành 0,99 38.136 Phường Bình Trị Đông A 4,24 104.916
Phường Tân Thới Hòa 1,15 33.421 Phường Bình Trị Đông B 4,62 66.944
Phường Tân Quý 1,78 54.288 Phường Tân Tạo 5,66 56.349
Phường Tân Sơn Nhì 1,13 32.376 Phường Tân Tạo A 11,72 35.938
Phường Tây Thạnh 3,57 33.786 Quận Tân Bình 21,64 421.724
Quận Phú Nhuận 4,88 174.535 Phường 1 0,36 23.046
Phường 1 0,2 11.992 Phường 2 1,99 25.766
Phường 2 0,39 14.681 Phường 3 0,26 16.347
Phường 3 0,19 8.245 Phường 4 2,42 28.337
Phường 4 0,28 12.835 Phường 5 0,3 20.065
Phường 5 0,3 14.697 Phường 6 0,57 26.273
Phường 7 0,44 20.086 Phường 7 0,48 15.908
Phường 8 0,3 8.832 Phường 8 0,4 23.096
Phường 9 1,4 17.656 Phường 9 0,5 27.463
Phường 10 0,33 9.247 Phường 10 0,85 40.827
Phường 11 0,23 9.923 Phường 11 0,58 28.611
Phường 12 0,16 6.449 Phường 12 1,44 28.721
Phường 13 0,14 10.033 Phường 13 1,18 47.447
Phường 14 0,15 8.067 Phường 14 0,92 32.517
Phường 15 0,23 12.528 Phường 15 9,39 37.299
Phường 17 0,14 9.264 Huyện Cần Giờ 704,22 68.846
Quận Bình Thạnh 20,76 457.362 Thị trấn Cần Thạnh 24,09 10.983
Phường 1 0,26 16.276 Xã Thạnh An 131,42 4.830
Phường 2 0,33 23.838 Xã Long Hòa 133 10.710
Phường 3 0,44 27.073 Xã Lý Nhơn 158,16 5.124
Phường 5 0,37 16.359 Xã Tam Thôn Hiệp 110,38 5.510
Phường 6 0,3 12.154 Xã An Thới Đông 103,72 12.645
Phường 7 0,4 16.017 Xã Bình Khánh 43,45 19.044
Phường 11 0,77 30.966 Huyện Củ Chi 434,69 343.155
Phường 12 1,11 37.769 Thị trấn Củ Chi 3,82 15.359
Phường 13 2,62 20.464 Xã Trung Lập Thượng 23,21 14.397
Phường 14 0,32 13.731 Xã Trung Lập Hạ 16,94 10.476
Phường 15 0,51 23.472 Xã Thái Mỹ 24,02 13.842
Phường 17 0,65 25.843 Xã Tân Thông Hội 17,89 29.174
Phường 19 0,39 18.398 Xã Tân Thạnh Tây 11,48 9.529
Phường 21 0,39 25.905 Xã Tân Thạnh Đông 26,5 32.219
Phường 22 1,83 28.525 Xã Tân Phú Trung 30,76 29.591
Phường 24 0,57 25.633 Xã Tân An Hội 30,08 22.375
Phường 25 1,84 31.875 Xã Phước Vĩnh An 16,2 12.178
Phường 26 1,31 28.517 Xã Phước Hiệp 19,65 11.494
Phường 27 0,86 27.233 Xã Phước Thạnh 15,05 19.102
Phường 28 5,49 7.315 Xã Phú Hòa Đông 21,82 24.418
Huyện Bình Chánh 252,56 420.109 Xã Phú Mỹ Hưng 24,43 8.256
Thị trấn Tân Túc 8,56 15.748 Xã Phạm Văn Cội 23,43 7.905
Xã Tân Kiên 11,46 44.397 Xã Nhuận Đức 21,6 12.008
Xã Vĩnh Lộc A 19,78 53.224 Xã Bình Mỹ 25,43 18.825
Xã Vĩnh Lộc B 17,4 59.443 Xã An Phú 24,36 11.628
Xã Tân Quý Tây 8,35 14.626 Xã An Nhơn Tây 28,85 17.894
Xã Tân Nhựt 23,47 17.492 Xã Trung An 20,1 11.930
Xã Qui Đức 6,46 9.966 Xã Hòa Phú 9,07 10.558
Xã Phong Phú 18,68 23.092 Huyện Hóc Môn 109,26 349.065
Xã Phạm Văn Hai 27,45 18.193 Thị trấn Hóc Môn 1,75 27.129
Xã Lê Minh Xuân 35,08 24.503 Xã Bà Điểm 7,01 47.590
Xã Hưng Long 13,01 15.526 Xã Đông Thạnh 12,82 30.374
Xã Đa Phước 16,09 16.903 Xã Nhị Bình 8,53 13.367
Xã Bình Lợi 19.07 9.057 Xã Tân Hiệp 11,98 28.527
Xã Bình Hưng 13,74 65.810 Xã Tân Thới Nhì 17,21 30.969
Xã Bình Chánh 8,16 21.733 Xã Tân Xuân 2,67 18.485
Xã An Phú Tây 5,8 10.665 Xã Thới Tam Thôn 8,95 40.533
Huyện Nhà Bè 100,41 101.074 Xã Trung Chánh 1,74 33.442
Thị trấn Nhà Bè 5,99 23.375 Xã Xuân Thới Đông 3,09 27.157
Xã Phú Xuân 10,02 22.434 Xã Xuân Thới Sơn 14,95 21.127
Xã Long Thới 10,81 8.717 Xã Xuân Thới Thượng 18,56 30.365
Xã Hiệp Phước 38,02 13.136
Xã Nhơn Đức 14,54 11.577
Xã Phước Lộc 6,03 6.284
Xã Phước Kiển 15 15.551

Định hướng tổ chức hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đề án tổ chức chính quyền đô thị[67][68][69][70][71][72][73][74], dự kiến triển khai thực hiện từ năm 2020 (nếu được Quốc hội Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chấp thuận); tổ chức hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh cấu trúc lại theo mô hình hai cấp:

  • Cấp trung tâm là Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc trung ương (có tổng diện tích 2.095,6 km2). Thành phố có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân, người đứng đầu Ủy ban Nhân dân là vị Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh do Hội đồng Nhân dân bầu chọn và được Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê chuẩn.
    • Cấp trung tâm trực tiếp quản lý mười ba quận (có tổng diện tích 137,15 km2): 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Tân Bình, Tân Phú và Gò Vấp. Quận không phải là cấp chính quyền, mà chỉ là đại diện hành chính. Mỗi quận có Ủy ban Hành chính do vị Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Quận (hoặc Quận trưởng) đứng đầu, tất cả đều do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bổ nhiệm.
      • Mười ba quận chia thành 190 phường, Tương tự như quận, phường không phải là cấp chính quyền, mà chỉ là đại diện hành chính. Mỗi phường có Ủy ban Hành chính do vị Chủ tịch Phường (hoặc Phường trưởng) đứng đầu, tất cả đều do Chủ tịch Ủy ban Hành chính quận (hoặc Quận trưởng) bổ nhiệm.
  • Cấp cơ sở gồm:
    • Bốn thành phố trực thuộc Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (có tổng diện tích 652,99 km2), tạm gọi là: Đông, Tây, Nam, Bắc
    • Mỗi thành phố có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân, người đứng đầu Ủy ban Nhân dân là vị Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố (hoặc Thị trưởng), do Hội đồng Nhân dân bầu chọn và được Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phê chuẩn. Địa giới của bốn thành phố trực thuộc như sau:
      • Thành phố Đông gồm ba quận: 2, 9 và Thủ Đức hiện nay; có diện tích 211,72 km2;
      • Thành phố Tây gồm quận Bình Tân, một phần phường 16 và một phần phường 7 của quận 8, toàn bộ bốn xã: An Phú Tây, Tân Kiên, Vĩnh Lôc A và Vĩnh Lộc B của huyện Bình Chánh hiện nay; có diện tích 109,80 km2;
      • Thành phố Nam gồm quận 7, huyện Nhà Bè, một phần phường 7 của quận 8, toàn bộ hai xã: Bình Hưng và Phong Phú của huyện Bình Chánh hiện nay; có diện tích 169,29 km2;
      • Thành phố Bắc gồm quận 12 và huyện Hóc Môn hiện nay; có diện tích 162,18 km2.
        • Bốn thành phố trực thuộc chia thành 94 phường, Tương tự như phường thuộc mười ba quận, các phường này không phải là cấp chính quyền, mà chỉ là đại diện hành chính. Mỗi phường có Ủy ban Hành chính do vị Chủ tịch Phường (hoặc Phường trưởng) đứng đầu, tất cả đều do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố (hoặc Thị trưởng) cấp trên bổ nhiệm.
    • Các thị trấn và xã (có tổng diện tích 1.304,87 km2) do cấp trung tâm trực tiếp quản lý, thông qua ba Cơ quan đại diện Hành chính tại ba huyện: Bình Chánh, Cần Giờ và Củ Chi. Ba huyện này không phải là cấp chính quyền, mà chỉ là "cánh tay nối dài" của cấp trung tâm. Cụ thể ba huyện được cấp trung tâm ủy nhiệm quản lý các đơn vị hành chính sau: 03 thị trấn (Cần Thạnh, Tân Túc, Củ Chi) và 35 xã (Bình Chánh, Bình Lợi, Đa Phước, Hưng Long, Phạm Văn Hai, Quy Đức, Lê Minh Xuân, Tân Nhựt, Tân Quý Tây, Long Hòa, Thạnh An, An Thới Đông, Bình Khánh, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp, Tân An Hội, Tân Thông Hội, Phước Hiệp, Thái Mỹ, Trung Lập Thượng, Trung Lập Hạ, Phước Thạnh, Phước Vĩnh An, Tân Phú Trung, An Nhơn Tây, Bình Mỹ, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông, Phú Mỹ Hưng, Hòa Phú, Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây, Trung An, Phạm Văn Cội, An Phú). Mỗi đơn vị hành chính này có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân, người đứng đầu Ủy ban Nhân dân là vị Chủ tịch Ủy ban Nhân dân (đối với thị trấn có thể gọi là Thị trưởng), do Hội đồng Nhân dân bầu chọn và được Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phê chuẩn[75][76][77][78][79][80][81][82].

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  • ^ Ghi chú (1): Hiện nay năm 1698 được nhiều học giả xem là năm thành lập của Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1998 Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tổ chức long trọng kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh[83].
  • ^ Ghi chú (2): Khu thanh tra Tây Ninh thành lập ngày 17/02/1863 trên địa bàn của phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định. Lúc bấy giờ phủ này gồm cả huyện Bình Long (có sáu tổng: Bình Thạnh Thượng, Bình Thạnh Trung, Bình Thạnh Hạ, Long Tuy Thượng, Long Tuy Trung, Cầu An Hạ) của phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, sáp nhập vào từ ngày 14/08/1862. Đến ngày 11/02/1864 huyện Bình Long (lúc này chỉ có bốn tổng: Bình Thạnh Trung, Bình Thạnh Hạ, Long Tuy Thượng, Long Tuy Trung) tách khỏi khu thanh tra Tây Ninh, trả lại cho phủ Tân Bình như trước. Tổng Bình Thạnh Thượng chuyển thuộc huyện Tân Ninh, tổng Cầu An Hạ chuyển thuộc huyện Quang Hóa, trực thuộc khu thanh tra Tây Ninh. Ngày 03/02/1866 tổng Bình Thạnh Thượng được trả lại cho huyện Bình Long thuộc khu thanh tra Sài Gòn, nhưng đến ngày 05/06/1871 tổng này chuyển sang thuộc hạt Thủ Dầu Một (địa bàn của tổng cũ này, nay tương ứng với địa bàn một phần của hai huyện: Bến Cát và Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương). Còn tổng Cầu An Hạ đến ngày 03/02/1866 thuộc khu thanh tra Quang Hóa và từ ngày 05/06/1871 trực thuộc hạt Chợ Lớn, xem thêm Ghi chú (7).
  • ^ Ghi chú (3): Khác với chức vụ Chánh tham biện/Chủ tỉnh của các hạt/tỉnh tại Nam Kỳ, cũng như chức Đốc lý (Résident-maire) của ba thành phố nhượng địa (concession) Hà Nội, Hải Phòng và Tourane (Đà Nẵng) đều là công chức cao cấp trong hệ thống cai trị Đông Dương; chức vụ Thị trưởng hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn có thể do các nhân vật có nghề nghiệp khác đảm nhiệm.
  • ^ Ghi chú (4): Sau khi đảo chính Pháp ngày 09/03/1945, trong thời gian ngắn trực tiếp quản lý trước khi chuyển giao cho chính quyền Đế quốc Việt Nam; Nhật coi Khu Sài Gòn - Chợ Lớn là một quận (郡| gun), do Quận trưởng (郡長| Gunchou) đứng đầu, Vào thời bấy giờ tại Nhật, quận là cấp hành chính bao gồm nhiều thành phố (市| shi), thị trấn (町| machi) và làng (村| mura) trực thuộc.
  • ^ Ghi chú (5): Tổng Long Vĩnh Hạ thuộc khu thanh tra Long Thành (địa bàn huyện Long Thành, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hoà cũ) giải thể, nhập vào hạt Sài Gòn (liệt kê chung vào địa bàn huyện Ngãi An cũ) từ ngày 27/07/1871.
  • ^ Ghi chú (6): Trong một hạt có thể có nhiều viên chức cai trị cùng ngạch tham biện (administrateur); Chánh tham biện là vị tham biện có hạng (classe) cao nhất, đứng đầu hạt.
  • ^ Ghi chú (7): Khu thanh tra Chợ Lớn thành lập từ ngày 16/08/1867 theo nghị định của Thống đốc Nam Kỳ, trên địa bàn của huyện Tân Long thuộc phủ Tân Bình, tỉnh Sài Gòn; có năm tổng: Tân Phong Trung, Tân Phong Hạ, Long Hưng Thượng, Long Hưng Trung, Long Hưng Hạ; với tổng số 83 thôn; dân số năm 1870 là 70.522 người.[84]. Ngày 05/06/1871 khu thanh tra Chợ Lớn đổi tên thành hạt Chợ Lớn; đồng thời nhận thêm sáu tổng (Phước Điền Thượng, Phước Điền Trung, Phước Điền Hạ, Lộc Thành Thượng, Lộc Thành Trung, Lộc Thành Hạ) của khu thanh tra Cần Giuộc giải thể, tổng Cầu An Hạ của khu thanh tra Trảng Bàng giải thể và một phần tổng Cửu Cư Thượng của khu thanh tra Tân An. Ngày 16/01/1877 trả lại tổng Cửu Cư Thượng cho hạt Tân An. Đến ngày 24/02/1885 hạt Chợ Lớn nhận thêm tổng Dương Hòa Trung từ hạt Sài Gòn; ngày 12/01/1888 nhận thêm tổng Dương Minh từ hạt Hai Mươi giải thể. Ngày 02/05/1888 giải thể hai tổng: Dương Hòa Trung và Tân Phong Trung; các làng trực thuộc nhập vào tổng Dương Minh và tổng Long Hưng Thượng. Từ ngày 01/01/1900 hạt Chợ Lớn đổi thành tỉnh Chợ Lớn, với lỵ sở đặt chung trong thành phố Chợ Lớn (do lý do này mà trong nhiều thời kỳ vị Thị trưởng Chợ Lớn kiêm nhiệm luôn chức vụ Chủ tỉnh Chợ Lớn). Ngày 07/12/1901 chia tách tổng Cầu An Hạ, lập mới tổng Cầu An Thượng. Ngày 31/12/1907 giải thể tổng Dương Minh; các làng trực thuộc nhập vào tổng Tân Phong Hạ và thành phố Sài Gòn. Năm 1930 tỉnh Chợ Lớn có bốn quận: Cần Đước (gồm ba tổng: Lộc Thành Thượng, Lộc Thành Trung và Lộc Thành Hạ), Cần Giuộc (gồm ba tổng: Phước Điền Thượng, Phước Điền Trung và Phước Điền Hạ), Đức Hòa (gồm hai tổng: Cầu An Thượng và Cầu An Hạ) và Trung Quận, với dân số 227.588 người.
  • ^ Ghi chú (8): Trong kháng chiến chống Pháp, về hành chính chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đổi quận thành huyện, làng thành xã; bỏ cấp tổng. Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, tiến hành một số điều chỉnh về các đơn vị hành chính như sau: Tháng 08/1950 lập đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn bao gồm thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn (tức Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn), tỉnh Gia Định và huyện Trung Huyện (tức quận Trung Quận) của tỉnh Chợ Lớn hợp nhất[85]. Đến tháng 06/1951 tách khỏi đặc khu: ba huyện Hóc Môn, Gò Vấp, Trung Huyện nhập vào tỉnh Gia Định Ninh, huyện Thủ Đức nhập vào tỉnh Thủ Biên và huyện Nhà Bè nhập vào tỉnh Bà Chợ đều mới lập[86]. Ba tỉnh mới này tồn tại đến tháng 07/1954 thì giải thể, phân chia đơn vị hành chính trở lại giống như thời gian trước tháng 08/1950.
  • ^ Ghi chú (9): Về phía lực lượng kháng chiến chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa, cuối năm 1957 lập huyện Bình Chánh thay thế huyện Trung Huyện giải thể. Địa bàn huyện mới này chính là quận Bình Chánh của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cộng thêm khu vực Vườn Thơm[27], là một phần xã Đức Hòa, quận Đức Hòa, thuộc tỉnh Long An (từ tháng 10/1963 thuộc tỉnh Hậu Nghĩa) theo phân chia hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Năm 1961 khu vực Vườn Thơm được chia thành hai xã: Tân Bình và Tân Lợi, đến năm 1972 sáp nhập hai xã với nhau thành xã Bình Lợi.
  • ^ Ghi chú (10): Từ thập niên 1960 về phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, Đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định thường được coi là một đơn vị hành chính hợp nhất; với tên gọi là thành phố Sài Gòn - Gia Định, khu Sài Gòn - Gia Định[87] hoặc đặc khu Sài Gòn - Gia Định tùy theo từng thời kỳ. Đơn vị hành chính này gồm các quận (tương tự như phân chia các quận của Đô thành Sài Gòn) và các huyện: Bình Chánh (xem thêm Ghi chú (9)), Cần Giờ (có địa bàn tương đương với hai quận Cần Giờ và Quảng Xuyên theo phân chia hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa gộp lại), Củ Chi (có địa bàn tương đương với hai quận Củ Chi và Phú Hòa theo phân chia hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa gộp lại), Gò Vấp, Hóc Môn, Nhà Bè (gồm cả xã Hiệp Phước thuộc quận Cần Giuộc, tỉnh Long An theo phân chia hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa), Tân Bình và Thủ Đức. Đối với các huyện trực thuộc, có một số điều chỉnh như sau:
    • a, Tháng 05/1961 hợp nhất hai huyện: Gò Vấp và Hóc Môn thành huyện Gò Môn; nhưng đến tháng 11/1967 lại tách thành hai huyện như trước;
    • b. Từ tháng 06/1964 đến ngày 29/04/1975 chia nhỏ huyện Thủ Đức thành hai huyện: Bắc Thủ Đức (huyện này có thời kỳ trực thuộc tỉnh Thủ Dầu Một)[88] và Nam Thủ Đức. Sau đó hai huyện này lại hợp nhất như cũ;
    • c. Từ ngày 05/07/1968 sáp nhập huyện Cần Giờ với hai xã Phú Hữu, Phước Khánh của huyện Nhơn Trạch, tỉnh Biên Hòa và xã Long Sơn thuộc huyện Châu Thành tỉnh Bà Rịa; để lập huyện Duyên Hải trực thuộc tỉnh Biên Hòa;
    • d. Trong thời gian 08/1968-03/1973 chia nhỏ huyện Củ Chi thành hai huyện: Bắc Chi và Nam Chi. Sau đó hai huyện này lại hợp nhất như cũ[89];
    • e. Trong thời gian 1969-1972 chia nhỏ huyện Hóc Môn thành hai huyện: Đông Môn và Tây Môn. Sau đó hai huyện này lại hợp nhất như cũ[90];
    • f. Trong thời gian 03/1975-29/04/1975 tách ba xã: Phú Nhuận, Tân Sơn Nhì và Tân Sơn Hòa của huyện Tân Bình, để lập quận Phú Tân Sơn mới[91]. Sau đó Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam kế nhiệm chia quận này thành ba quận: Phú Nhuận, Tân Sơn Nhì và Tân Sơn Hòa.
  • ^ Ghi chú (11): Hai xã Phạm Văn Hai và Lê Minh Xuân thành lập ngày 13/04/1977 từ phần đất tách ra của xã Bình Lợi. Địa bàn hai xã này trước đây là làng Hòa Thạnh, tổng Cầu An Hạ, hạt Chợ Lớn; sáp nhập vào làng Đức Hòa cùng tổng từ ngày 23/06/1879.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Bình
  2. ^ http://www.hochiminhcity.gov.vn/thongtinthanhpho/gioithieu/Lists/Posts/Post.aspx?CategoryId=9&ItemID=5453&PublishedDate=ngày 22 tháng 6 năm 2011T00:00:00Z
  3. ^ http://www.hocmon.hochiminhcity.gov.vn/pages/gioi-thieu-chung.aspx
  4. ^ http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k58365329/f14.image
  5. ^ http://www.hochiminhcity.gov.vn/thongtinthanhpho/gioithieu/Lists/Posts/Post.aspx?List=9efd7faa%2Df6be%2D4c91%2D9140%2De2bd40710c29&ID=5542&Web=9d294a7f%2Dcaf2%2D456d%2D8ca0%2D36b393b8c052
  6. ^ http://www.hochiminhcity.gov.vn/thongtinthanhpho/gioithieu/Lists/Posts/Post.aspx?CategoryId=11&ItemID=5542&PublishedDate=ngày 18 tháng 7 năm 2011T02:00:00Z
  7. ^ a ă http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5774514m/f159.image.r=Saigon%20administratif.langEN
  8. ^ a ă http://www.hochiminhcity.gov.vn/thongtinthanhpho/gioithieu/Lists/Posts/Post.aspx?CategoryId=9&ItemID=5451&PublishedDate=ngày 15 tháng 6 năm 2011T00:00:00Z
  9. ^ http://www.thienlybuutoa.org/Books/LSCD1920-1926/1-DatNamKy.htm
  10. ^ http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k56041001/f319.image.r=Province%20de%20Giadinh.langEN
  11. ^ a ă http://www.hochiminhcity.gov.vn/thongtinthanhpho/gioithieu/Lists/Posts/Post.aspx?CategoryId=9&ItemID=5450&PublishedDate=ngày 13 tháng 6 năm 2011T00:00:00Z
  12. ^ Notice historique, administrative et politique sur la ville de Saïgon. Publiée par les soins du secrétaire général de la mairie
  13. ^ Dictionnaire de bio-bibliographie générale, ancienne et moderne de l'Indochine française, publié après la mort de l'auteur par Antoine Cabaton
  14. ^ Annuaire de la Cochinchine française
  15. ^ http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5603647v/f639.image.r=Province%20de%20Giadinh.langEN
  16. ^ Annuaire de la Cochinchine française
  17. ^ http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5603647v/f682.image.r=Province%20de%20Giadinh.langEN
  18. ^ http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k57791297/f334.image.r=Administratif%20de%20la%20cochinchine.langEN
  19. ^ http://nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/but-ky-tap-van/nhung-sai-lam-kien-thuc-lich-su-sai-gon-xua.html
  20. ^ Annuaire de la Cochinchine française
  21. ^ a ă http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5603647v/f735.image.r=Province%20de%20Giadinh.langEN
  22. ^ Bảo tàng Lịch sử quốc gia/Tin tức
  23. ^ http://www.hcmc-museum.edu.vn/vi-vn/tintuc-1120.aspx
  24. ^ http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_tphcm/_mobile_chuyenxuachuyennay/item/19275202.html
  25. ^ Annuaire administratif de l'Indochine
  26. ^ http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,24069.10.html
  27. ^ a ă http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,24069.20.html
  28. ^ a ă â b c d http://gslhcm.org.vn/libol/attach/doc/doc20070625IACU.pdf
  29. ^ http://www.cefurds.com/index.php?option=com_phocadownload&view=category&download=2%3Athu-muc-tai-lieu-ban-do&id=1%3Athu-vien&Itemid=286&lang=vi
  30. ^ http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5774514m/f161.image.r=Saigon%20administratif.langEN
  31. ^ http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k57730402/f143.image.r=Saigon%20administratif.langEN
  32. ^ http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5603647v/f799.image.r=Province%20de%20Giadinh.langEN
  33. ^ Annuaire général de l'Indo-Chine française ["puis" de l'Indochine]
  34. ^ http://dnulib.edu.vn:1025/collect/dcdn/index/assoc/HASH0151.dir/doc.pdf
  35. ^ Tien Giang
  36. ^ Annuaire de la Cochinchine française
  37. ^ Giới thiệu
  38. ^ http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/2331-nguyen-thanh-loi-dia-danh-chau-thanh.html
  39. ^ http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/5530544147/
  40. ^ http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=67307519-0f17-42b5-8d9e-61ad8323c0a8&groupId=13025
  41. ^ a ă Lịch sử hình thành
  42. ^ http://www.fileden.com/files/2008/7/30/2027302/Image/SaigonMap1975.jpg
  43. ^ http://www.govap.hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/lists/posts/post.aspx?Source=/gioithieu&Category=Gi%E1%BB%9Bi+thi%E1%BB%87u&ItemID=2&Mode=1
  44. ^ a ă http://www.quan9.hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/lists/posts/post.aspx?Source=/gioithieu&Category=Giới+thiệu+chung&ItemID=7&Mode=1
  45. ^ http://www.quocgiahanhchanh.com/trantrunglap.htm
  46. ^ a ă http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/lists/posts/post.aspx?Source=/gioithieu&Category=Gi%e1%bb%9bi+thi%e1%bb%87u+t%e1%bb%95ng+qu%c3%a1t&ItemID=30&Mode=1
  47. ^ http://www.quan5.hochiminhcity.gov.vn/pages/gioi-thieu-chung.aspx
  48. ^ Quản lý Sài Gòn ngày đầu giải phóng - Bài 1: Giữ ổn định sau tiếp quản - Chính trị - Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh Online
  49. ^ http://saigon-vietnam.fr/saigon_en12.php
  50. ^ http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_page=1&mode=detail&document_id=9775
  51. ^ Lịch sử hình thành - Giới thiệu - Bà Rịa Vũng Tàu Portal
  52. ^ Lịch sử Đảng bộ
  53. ^ Lịch sử Đảng bộ
  54. ^ http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/
  55. ^ http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_page=28&mode=detail&document_id=12331
  56. ^ a ă http://www.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=25432
  57. ^ a ă http://www.govap.hochiminhcity.gov.vn/chinhquyendiaphuong/lists/posts/post.aspx?Source=/chinhquyendiaphuong&Category=Chủ+trương+và+các+văn+bản+quy+phạm&ItemID=740&Mode=1
  58. ^ http://www.quan2.hochiminhcity.gov.vn/pages/gioi-thieu-tong-quat.aspx
  59. ^ http://www.thuduc.hochiminhcity.gov.vn/pages/gioi-thieu-tong-quat.aspx
  60. ^ http://www.quan7.hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/lists/posts/post.aspx?Source=/gioithieu&Category=Giới+thiệu&ItemID=27&Mode=1
  61. ^ a ă http://www.quan12.hochiminhcity.gov.vn/pages/gioi-thieu-tong-quat.aspx
  62. ^ http://www.tanphu.hochiminhcity.gov.vn/gioithieu/lists/posts/post.aspx?Source=/gioithieu&Category=Giới+thiệu+chung&ItemID=5&Mode=1
  63. ^ http://www.binhtan.hochiminhcity.gov.vn/pages/gioi-thieu-tong-quat.aspx
  64. ^ http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_page=18&mode=detail&document_id=17997
  65. ^ http://news.lhu.edu.vn/441/82849/Tuyen-duong-khu-dan-cu-va-truong-ban-cong-tac-mat-tran-tieu-bieu.html
  66. ^ Năm 2011 - Cục Thống Kê TP.HCM
  67. ^ http://www.thanhnien.com.vn/pv_obj_cache/pv_obj_id_AB66311DDEC9904D8EF529D88143D6F93464CF00/filename/chinh_quyen_do_thi_tphcm.pdf
  68. ^ http://nld.com.vn/20130817113239298p0c1002/phai-bat-dau-tu-cong-tac-can-bo.htm
  69. ^ http://vneconomy.vn/20130811103116869P0C17/tphcm-muon-tach-13-quan-thanh-chinh-quyen-rieng-biet.htm
  70. ^ http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/100569/TPHCM-du-kien-lap-bón-thanh-pho-moi.html
  71. ^ ref://www.sggp.org.vn/chinhtri/2013/8/325177/
  72. ^ http://phapluattp.vn/20130808011821322p0c1013/mo-hinh-chinh-quyen-do-thi-nang-dong-xu-ly-nhanh.htm
  73. ^ http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/134700/tp-hcm-se-co-thi-truong-.html
  74. ^ http://sgtt.vn/Goc-nhin/182243/Phap-nhan-cong-quyen-–-diem-dot-pha-tu-duy.html
  75. ^ Đề xuất đổi tên Ủy ban nhân dân TP HCM - VnExpress
  76. ^ SGGP Online- Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phân định rõ trách nhiệm từng cán bộ cơ sở
  77. ^ TP HCM sẽ phát triển theo mô hình chùm đô thị - VnExpress
  78. ^ http://tuoitre.vn/chinh-tri-xa-hoi/499506/Thành phố Hồ Chí Minh-de-nghi-thanh-lap-thi-xa-binh-chanh.html
  79. ^ http://phapluattp.vn/20120707121336261p0c1013/de-xuat-binh-chanh-Thành phố Hồ Chí Minh-thanh-thi-xa-thay-ao-moi-de-phuc-vu-dan-tot-hon.htm
  80. ^ http://nld.com.vn/2012072910065102p0c1002/khi-nao-xa-thanh-phuong.htm
  81. ^ ref://daidoanket.vn/PrintPreview.aspx?ID=52281
  82. ^ http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2013/6/321314/
  83. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Chi-thi-27-CT-UB-NC-to-chuc-ky-niem-300-nam-thanh-lap-thanh-pho-Sai-Gon-Ho-Chi-Minh-1698-1998-vb92376.aspx
  84. ^ http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5774514m/f163.image.r=Saigon%20administratif.langEN
  85. ^ http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=24069.50
  86. ^ http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,24069.60.html
  87. ^ http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,24069.80.html
  88. ^ http://www.binhduong.gov.vn/vn/sobannganh_detail.php?id=5221&idcat=143&idcat2=150
  89. ^ http://www.cuchi.hochiminhcity.gov.vn/pages/lich-su.aspx
  90. ^ Giới thiệu chung
  91. ^ http://www.sonoivu.hochiminhcity.gov.vn/danh-sach-ucv-qh-13/lists/posts/post.aspx?Source=/danh-sach-ucv-qh-13&Category=%C4%90%C6%A1n+v%E1%BB%8B+b%E1%BA%A7u+c%E1%BB%AD+s%E1%BB%91+4&ItemID=21&Mode=1

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Cabaton, Antoine (1935). Dictionnaire de bio-bibliographie générale, ancienne et moderne de l'Indochine française. Paris: Société. 
  2. Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh (2011). Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh 2010. TP Hồ Chí Minh: Thống kê. 
  3. Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh (2012). Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh 2011. TP Hồ Chí Minh: Thống kê. 
  4. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên) (1987). Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (Tập 1). TP Hồ Chí Minh: Thành phố Hồ Chí Minh. 
  5. Gouvernement de la Cochinchine française (1871–1888). Annuaire de la Cochinchine française pour l'années 1870-1887. Saigon. 
  6. Gouvernement de l'Indo-Chine française (1891–1898). Annuaire de l'Indo-Chine française sur l'années 1890-1897. Saigon. 
  7. Gouvernement de l'Indo-Chine française (1901–1926). Annuaire général de l'Indo-Chine française sur l'années 1900-1925. Hanoi. 
  8. Gouvernement de l'Indochine (1927–1938). Annuaire administratif de l'Indochine sur l'années 1926-1937. Hanoi. 
  9. Lê Trung Hoa (chủ biên) (2003). Từ điển địa danh Thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh. TP Hồ Chí Minh: Trẻ. 
  10. Đào Văn Hội (1971). Gió bụi quan trường. Sài Gòn. 
  11. Đào Văn Hội (1961). Lịch trình hành chánh Nam Phần. Sài Gòn: Văn khoa. 
  12. Huyện Bình Chánh (1995). Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Bình Chánh (1930-1975). TP Hồ Chí Minh. 
  13. Huỳnh Minh (1973). Gia Định xưa và nay. Sài Gòn. 
  14. Trần Hải Phụng, Lưu Phương Thanh (chủ biên) (1994). Lịch sử Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định kháng chiến (1945-1975). TP Hồ Chí Minh: Thành phố Hồ Chí Minh. 
  15. Thạch Phương, Lê Trung Hoa (chủ biên) (2008). Từ điển Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh. TP Hồ Chí Minh: Trẻ. 
  16. Trần Hữu Quang (2012). Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu. TP Hồ Chí Minh: Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. 
  17. Sécrétaire Général de la Mairie de Saigon (1917). Notice historique, administrative et politique sur la ville de Saigon. Saigon. 
  18. Vương Hồng Sển (1960). Sài Gòn năm xưa. Sài Gòn: Khai Trí. 
  19. Lê Thị Ngọc Sương (1973). Diễn trình thành lập nền hành chánh Đô thành (luận văn tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh). Sài Gòn. 
  20. Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Đình Tư (2001). Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh. Hà Nội: Văn hoá - Thông tin. 
  21. Tổng cục Thống kê (2010). Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội: Thống kê. 
  22. Nguyễn Đình Tư (2008). Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ. Hà Nội: Chính trị Quốc gia. 
  23. Viện Quốc gia Thống kê (1965). Dân số Việt Nam Cộng hòa theo đơn vị hành chánh năm 1964. Sài Gòn. 
  24. Viện Quốc gia Thống kê (1966). Dân số Việt Nam Cộng hòa theo đơn vị hành chánh năm 1965. Sài Gòn. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]