Danh sách các hệ máy console bán chạy nhất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
PlayStation 2 của Sony là máy chơi game bán chạy nhất thế giới, với hơn 155 triệu đơn vị này được bán ra.[1]

Video game console hay hệ máy console là một loại máy tính tương tác xuất qua thiết bị hiển thị như màn TV hay màn hình máy tính, có từ những năm 50 của 1950. Danh sách dưới đây bao gồm cả máy chơi game gia đìnhmáy chơi game cầm tay:

Danh sách các hệ máy console bán chạy nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Nintendo-DS-Fat-Blue.jpg
Hệ máy Nintendo DS là máy chơi game tay cầm bán chạy nhất thế giới, với hơn 154 triệu đơn vị bán ra, chỉ đứng sau PlayStation 2.[2]
Nintendo-DSi-Bl-Open.jpg
Hai thành viên từ dòng Nintendo DSDSi BL (trên) và DSi XL (dưới) đã giúp mở rộng doanh thu, đơn vị bán ra hai hệ máy này lên tới 41 triệu.[3]

Đối với những hãng sản xuất hệ máy console được đánh màu:  Atari ,  Microsoft ,  Nintendo ,  Sega ,  Sony  thì sẽ có thêm hai danh sách máy cầm tay và máy gia đình, còn những hãng không đánh màu để trắng là không có thêm danh sách nào.

  • Có dấu > tức là hơn số bán ra hiện tại.
  • Không có dấu > tức là số bán ra vẫn không hơn.
Các hệ máy console bán chạy nhất [theo thứ tự của số đơn vị bán ra (triệu)]
Hệ máy Hãng sản xuất Năm phát hành Đơn vị bán ra (số máy bán được của một hệ máy) Tham khảo
PlayStation 2 Sony 2000 >155 triệu [1]
Nintendo DS Nintendo 2004 >154 triệu [2]
Game Boy, Game Boy Color Nintendo 1989, 1998 118.69 triệu [note 1]
PlayStation Sony 1994 102.49 triệu [6]
Wii Nintendo 2006 101.63 triệu [5]
PlayStation 4 Sony 2013 91.6 triệu [7][8][9]
Xbox 360 Microsoft 2005 84 triệu [note 2]
PlayStation 3 Sony 2006 >83.8 triệuGT [note 3]
PlayStation Portable Sony 2004 82 triệu [note 3]
Game Boy Advance Nintendo 2001 81.51 triệu [5]
Nintendo 3DS Nintendo 2011 73.53 triệu [15]
Nintendo Entertainment System Nintendo 1983 61.91 triệu [5]
Super Nintendo Entertainment System Nintendo 1990 49.1 triệu [5]
Xbox One Microsoft 2013 39.1 triệu
(dự đoán)
[note 2]
Nintendo 64 Nintendo 1996 32.93 triệu [5]
Nintendo Switch Nintendo 2017 32.27 triệu [15]
Sega Genesis Sega 1988 30.75 triệu [note 4]
Atari 2600 Atari 1977 30 triệu [16]
Xbox Microsoft 2001 24 triệu [17]
GameCube Nintendo 2001 21.74 triệu [5]
Wii U Nintendo 2012 13.56 triệu [5]
Sega Game Gear Sega 1990 10.62 triệu [18]
PlayStation Vita Sony 2011 10–15 triệu
(dự đoán)
[note 3]
Master System Sega 1986 10–13 triệu [note 5]
TurboGrafx-16 NEC/Hudson Soft[note 6] 1987 10 triệu [26]
Sega Saturn Sega 1994 9.26 triệu [27]
Dreamcast Sega 1998 9.13 triệu [27][28][29][30]
Super NES Classic Edition Nintendo 2017 5.28 triệu [31]
Sega Pico Sega 1993 >3.4 triệuGT [note 7]
WonderSwan Bandai 1999 3.5 triệu [note 8]
Color TV-Game Nintendo 1977 3 triệu [40][41]
Intellivision Mattel 1980 3 triệu [42]
N-Gage Nokia 2003 3 triệu [43]
NES Classic Edition Nintendo 2016 2.3 triệu [44]
ColecoVision Coleco 1982 >2 triệuGT [note 9]
Magnavox Odyssey² Magnavox/Philips 1978 2 triệu [48]
Atari Lynx Atari 1989 >1 triệuGT [note 10]
Philips CD-i Philips 1991 >1 triệuGT [note 11]
Telstar Coleco 1976 >1 triệuGT [53][note 12]
Atari 5200 Atari 1982 1 triệu [55]

Máy chơi game gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

PSX-Console-wController.jpg
Chỉ PlayStationWii có hơn 100 triệu đơn vị bán ra trong dòng hệ máy chơi game gia đình, đồng con số với PlayStation 2.
Các hệ máy thuộc máy chơi game gia đình bán chạy nhất
Hệ máy Hãng sản xuất [2]Năm phát hành Đơn vị bán ra (số máy bán được của một hệ máy) Tham khảo
PlayStation 2 Sony 2000 >155 triệuGT [note 3]
PlayStation Sony 1994 102.49 triệu [6]
Wii Nintendo 2006 101.63 triệu [5]
PlayStation 4 Sony 2013 91.6 triệu [7][8][9]
Xbox 360 Microsoft 2005 84 triệu [note 2]
PlayStation 3 Sony 2006 >83.8 triệuGT [note 3]
Nintendo Entertainment System Nintendo 1983 61.91 triệu [5]
Super Nintendo Entertainment System Nintendo 1990 49.10 triệu [5]
Xbox One Microsoft 2013 39.1 triệu
(dự đoán)
[note 2]
Nintendo 64 Nintendo 1996 32.93 triệu [5]
Sega Genesis Sega 1988 30.75 triệu [note 4]
Atari 2600 Atari 1977 30 triệu [16]
Xbox Microsoft 2001 24 triệu [17]
Nintendo Switch Nintendo 2017 22.86 triệu [15]
GameCube Nintendo 2001 21.74 triệu [5]
Wii U Nintendo 2012 13.56 triệu [5]
Master System Sega 1986 10–13 triệu [note 5]
TurboGrafx-16 NEC/Hudson Soft
[note 6]
1987 10 triệu [26]
Sega Saturn Sega 1994 9.26 triệu [27]
Dreamcast Sega 1998 9.13 triệu [27][28][29][30]
Sega Pico Sega 1993 >3.4 triệuGT [note 7]
Intellivision Mattel 1980 3 triệu [42]
ColecoVision Coleco 1982 >2 triệuGT [note 9]
Magnavox Odyssey² Magnavox/Philips 1978 2 triệu [48]
Philips CD-i Philips 1991 >1 triệuGT [note 11]
Atari 5200 Atari 1982 1 triệu [55]

GTSố liệu cuối chính xác hơn số liệu trong báo cáo. Xem chú thích

Máy chơi game cầm tay[sửa | sửa mã nguồn]

PlayStation Portable của Sony đã đánh dấu sự xuất hiện của công ty trên thị trường máy chơi game cầm tay. Penelope Patsuris, biên tập viên của Forbes cho rằng "Cuộc thi giữa các máy chơi game này đánh dấu lần đầu tiên khi có một công ty thực sự thách thức Nintendo trong ngành máy chơi game cầm tay suốt 15 năm qua."[59]
Các hệ máy thuộc máy chơi game cầm tay bán chạy nhất
Hệ máy Hãng sản xuất Năm phát hành[2] Đơn vị bán ra (số máy bán được của một hệ máy) Tham khảo
Nintendo DS Nintendo 2004 154.02 triệu [5]
Game Boy, Game Boy Color Nintendo 1989, 1998 118.69 triệu [note 1]
PlayStation Portable Sony 2004 82 triệu [note 3]
Game Boy Advance Nintendo 2001 81.51 triệu [5]
Nintendo 3DS Nintendo 2011 73.53 triệu [15]
Nintendo Switch Nintendo 2017 22.86 triệu [15]
Sega Game Gear Sega 1990 10.62 triệu [18]
PlayStation Vita Sony 2011 10–15 triệu
(dự đoán)
[note 3]
WonderSwan Bandai 1999 3.5 triệu [note 8]
N-Gage Nokia 2003 3 triệu [43]
Atari Lynx Atari 1989 >1 triệuGT [note 10]

GTSố liệu cuối chính xác hơn số liệu trong báo cáo. Xem chú thích.

Máy chơi game chuyên dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các hệ máy thuộc máy chơi game chuyên dụng bán chạy nhất
Hệ máy Hãng sản xuất [2]Năm phát hành Đơn vị bán ra (số máy bán được củ một hệ máy) Tham khảo
Super NES Classic Edition Nintendo 2017 5.28 triệu [31]
Color TV Game Nintendo 1977 3 triệu [40][41]
NES Classic Edition Nintendo 2016 2.3 triệu [44]
Telstar Coleco 1976 >1triệu GT [53][note 12]

GTSố liệu cuối chính xác hơn số liệu trong báo cáo. Xem chú thích

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Nnintendo chỉ cung cấp thông tin về tổng số doanh thu của máy bán được.[4] Trước khi phát hành Game Boy Color vào cuối năm 1998, các mẫu trước đó đã bán được 64,42 triệu đơn vị trên toàn thế giới.[5]
  2. ^ a ă â b Microsoft đã công bố vào tháng 10 năm 2015 rằng số liệu bán được của các hệ máy sẽ không còn được tiết lộ. Công ty đã chuyển qua quan tâm đến lượng người dùng hoạt động trên Xbox Live là của mình. [10] Số người đăng ký Active XBox Live đạt mức 59 triệu vào tháng 3.[10] Active XBox Live đã đạt 59 triệu người đăng ký vào tháng 3 năm 2018.[11] Xbox 360: Bán được 84 triệu máy vào tháng 6 năm 2014.[12] Xbox One: Giám đốc điều hành Microsoft Satya Nadella đã tuyên bố vào ngày 3 tháng 12 năm 2014 tại buổi giới thiệu giá cổ đông rằng 10 triệu máy đã được bán.[13] Công ty nghiên cứu IHS Markit đã ước tính khoảng 39.1 triệu đơn vị máy đã bán được vào cuối tháng 3 năm 2018.[14]
  3. ^ a ă â b c d đ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên PlayStation family
  4. ^ a ă 30.75 triệu máy bán được bởi Sega trên thế giới vào tháng 3 năm 1996,[18][27] không bao gồm số máy của bên thứ ba. Ngoài ra, Tec Toy đã bán được 3 triệu máy ở Brazil,[56][57] Majesco Entertainment dự bán sẽ thu được 1.5 triệu đô la Mỹ ở Hoa Kỳ.[58]
  5. ^ a ă 10–13 triệu, không bao gồm số liệu gần đây của Brazil.[19][20] Screen Digest đã viết trong một ấn phẩm năm 1995 rằng lượng người dùng Master System ở Tây Âu đạt 6,25 triệu vào năm 1993. Những quốc gia đạt đỉnh là Pháp ở 1,6 triệu, Vương quốc Anh ở mức 1,35 triệu, Đức ở mức 700.000, Tây Ban Nha ở mức 550.000, Hà Lan ở mức 200.000 và các nước Tây Âu khác ở mức 1,4 triệu. Tuy nhiên, Bỉ đạt vào năm 1991 với 600.000 và Ý năm 1992 với 400.000. Do đó, ước tính có khoảng 6,8 triệu đơn vị được mua ở những khu vực này của châu Âu.[21] 1 triệu máy được bán tại Nhật Bản vào năm 1986.[22] 2 triệu máy bán được ở Mĩ.[23] 8 triệu máy đã được Tectoy bán tại Brazil vào năm 2016.[24]
  6. ^ a ă Thiết kế bởi Hudson và được sản xuất/tiếp thị bởi NEC.[25]
  7. ^ a ă Sega đã bán số máy này vào tháng 4 năm 2005.[32] Người kế thừa của nó ra mắt vào ngày 6 tháng 8 năm 2005.[33] Majesco tái sản xuất và phân phối Pico tại Hoa Kỳ bắt đầu từ cuối năm 1999.[34]
  8. ^ a ă Bandai phát hành 3 lần WonderSwan.[35] Một bài viết Famitsu từ tháng 3 năm 2003 đã thông báo một bản báo cáo rằng chiếc máy nguyên gốc (1999)[36] và các phiên bản màu của nó (2000)[36] có tổng 3 triệu máy bán ra,[37] trong khi SwanCrystal (2002)[35] bán được 200.000 máy.[37] Bandai tuyên bố chuyển phần cứng cho bên thứ ba phát triển vào tháng 2 năm 2003 do doanh số giảm và sẽ cung cấp phần mềm cho Game Boy Advance của bên đối thủ vào tháng 3 năm 2004.[38] Doanh số trung bình hàng tuần của Famitsu trong quá trình chuyển đổi chỉ vài trăm đơn vị máy,[1] và SwanCrystal đã bắt đầu được chế tạo vào mùa thu 2003.[37] Nhà thiết kế phần cứng của WonderSwan, Koto, tuyên bố hơn 3,5 triệu máy đã được bán.[39]
  9. ^ a ă ColecoVision đạt 2 triệu đơn vị máy được bán vào mùa xuân năm 1984. Doanh số của console giảm đáng kể vào thời gian này, nhưng nó vẫn tiếp tục bán tốt.[45][46] một lượng lớn số máy còn trong kho của hãng đã bán sạch tính tới tháng 10 năm 1985.[47]
  10. ^ a ă The Wall Street Journal ra một bản báo cáo vào tháng 11 năm 1992 cho rằng xấp xỉ 1 triệu máy đã được bán.[49] Vào tháng 11 năm 1994, Atari đã quan tâm đến Jaguar hơn Lynx.[50]
  11. ^ a ă Bản báo cáo Philips này được dự đoán mà ra trong tờ The New York Times vào ngày 15 tháng 9 năm 1994.[51] CD-i sau đó ngừng sản xuất vào năm 1998.[52]
  12. ^ a ă Coleco ra mắt Telstar vào năm 1976 và bán được một triệu máy. Các vấn đề về sản xuất và giao hàng hay các máy chơi game chuyên dụng đều bị thay thế bằng các máy chơi game cầm tay điện tử, điều đó làm giảm đáng kể doanh số bán hàng vào năm 1977. Hơn một triệu máy Telstars đã bị loại bỏ vào năm 1978, làm tiêu tốn 22,3 triệu đô la trong năm đó,[46] gần như phá sản cả công ty.[54]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă GameCentral (ngày 27 tháng 6 năm 2013). “Xbox 360 beats Wii as the UK's best selling console”. Metro. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2019. 
  2. ^ a ă Michael McWhertor (ngày 18 tháng 1 năm 2018). “The Nintendo 3DS just had its best month in years”. Polygon. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2019. 
  3. ^ "Historical Data: Consolidated Sales Transition by Region" (xlsx)”. Nintendo (Nhật Bản). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2019. 
  4. ^ Edwards, Benj (ngày 21 tháng 4 năm 2009). “Happy 20th b-day, Game Boy: here are 6 reasons why you’re #1”. Ars Technica. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2014. 
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n “Historical Data: Consolidated Sales Transition by Region” (xlsx). Nintendo. 27 tháng 4 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2017.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “nintendosales” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “nintendosales” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  6. ^ a ă “PlayStation Cumulative Production Shipments of Hardware”. Sony Computer Entertainment. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013. 
  7. ^ a ă “Sony Consolidated Historical Data 2012-2015 (Unaudited)” (xlsx). Sony. Ngày 30 tháng 10 năm 2018. tr. 9. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  8. ^ a ă “Sony Consolidated Historical Data 2016-2018 (Unaudited)” (xlsx). Sony. Ngày 30 tháng 10 năm 2018. tr. 9. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018. 
  9. ^ a ă Mateo, San (ngày 7 tháng 1 năm 2019). “PlayStation 4 Sales Surpass 91.6 Million Units Worldwide After The Strong Holiday Season”. PR Newswire. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2019. 
  10. ^ Futter, Mike (ngày 22 tháng 10 năm 2015). “[Update] Microsoft Will Focus Primarily On Xbox Live Usership, Not Console Shipments”. Game Informer. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015. 
  11. ^ Crecente, Brian (ngày 3 tháng 5 năm 2018). “Microsoft Explains Why it Isn’t Releasing Xbox One Sales Numbers Anymore”. Variety. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2018. 
  12. ^ Makuch, Eddie (ngày 9 tháng 6 năm 2014). “E3 2014: $399 Xbox One Out Now, Xbox 360 Sales Rise to 84 million”. GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  13. ^ “Microsoft Annual Meeting of Shareholders”. Microsoft. Ngày 3 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015. Finally, our gaming business is thriving with the Xbox One hitting 10 million units sold. I am thrilled to welcome Mojang and Minecraft community to Microsoft.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  14. ^ “E3: Xbox One chief teases Halo Infinite video game”. BBC. Ngày 10 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2018. 
  15. ^ a ă â b c “Dedicated Video Game Sales Units”. Nintendo. Ngày 31 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2018. 
  16. ^ a ă “AtGames to Launch Atari Flashback 4 to Celebrate Atari's 40th Anniversary!” (Thông cáo báo chí). PR Newswire. Ngày 12 tháng 11 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014. 
  17. ^ a ă “Gamers Catch Their Breath as Xbox 360 and Xbox Live Reinvent Next-Generation Gaming”. Xbox.com. Ngày 10 tháng 5 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2007. 
  18. ^ a ă â “Yearly market report”. Famitsu Weekly (bằng tiếng Japanese) (392): 8. 21 tháng 6 năm 1996. 
  19. ^ Buchanan, Levi (ngày 20 tháng 3 năm 2009). “Genesis vs. SNES: By the Numbers”. IGN. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013. Nintendo moved 49.1 million Super NES consoles over the course of the generation and beyond, far surpassing the Genesis, which sold a still impressive 29 million units. [...] The Master System sold an anemic 13 million to the NES count of 62 million. 
  20. ^ Forster, Winnie (2005). The Encyclopedia of Game.Machines: Consoles, Handhelds, and Home Computers 1972–2005. Magdalena Gniatczynska. tr. 139. ISBN 3-00-015359-4. 
  21. ^ “Sega Consoles: Active installed base estimates”. Screen Digest. Tháng 3 năm 1995. tr. 60.  (cf. here [1], here [2], and here [3])
  22. ^ Nihon Kōgyō Shinbunsha (1986). “Amusement”. Business Japan (Nihon Kogyo Shimbun) 31 (7-12): 89. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2012. 
  23. ^ Sheff & Eddy 1999, tr. 349: "Atari sold a handful of its 5200s and 7800s, and Sega sold a total of 2 million Master Systems."
  24. ^ Azevedo, Théo (12 tháng 5 năm 2016). “Console em produção há mais tempo, Master System já vendeu 8 mi no Brasil” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Universo Online. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2016. Comercializado no Brasil desde setembro de 1989, o saudoso Master System já vendeu mais de 8 milhões de unidades no país, segundo a Tectoy. 
  25. ^ name="NEC and HS"
  26. ^ a ă Phillips, Tom (ngày 11 tháng 4 năm 2012). “SNES celebrates 20th birthday in UK”. Eurogamer. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2014. 
  27. ^ a ă â b c Ernkvist, Mirko (21 tháng 8 năm 2012). Zackariasson, Peter; Wilson, Timothy, biên tập. The Video Game Industry: Formation, Present State, and Future. Routledge. tr. 158. ISBN 9781136258244. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2015. 
  28. ^ a ă “Sega Corporation Annual Report 2001” (PDF). Sega Corporation. Ngày 1 tháng 8 năm 2001. tr. 14. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2015. A total of 3.39 million hardware units and 23.87 million software units were sold worldwide during fiscal 2001, for respective totals of 8.20 million units and 51.63 million units since Dreamcast was first brought to market. 
  29. ^ a ă “Revisions to Annual Results Forecasts” (PDF). Sega Corporation. Ngày 23 tháng 10 năm 2001. tr. 4. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2015. Regarding sales of Dreamcast hardware from inventory resulting from the withdrawal from Dreamcast production [...] the Company exceeded initial targets with domestic sales of 130,000 units and U.S. sales of 530,000 units for the first half. Consequently, at the end of the half, Dreamcast inventories totaled 40,000 units domestically and 230,000 units for the United States, and we anticipate being able to sell all remaining units by the holiday season as initially planned.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  30. ^ a ă “Sega Corporation Annual Report 2002” (PDF). Sega Corporation. Ngày 1 tháng 7 năm 2002. tr. 6. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2015. The year ended ngày 31 tháng 3 năm 2002 was a turning point for Sega. We exited the hardware business, ceasing production of Dreamcast and selling through the remaining inventory. 
  31. ^ a ă “Consolidated Financial Statements” (PDF). Nintendo. Ngày 26 tháng 4 năm 2018. tr. 3. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2018. 
  32. ^ “Business Strategy: Interactive Education Business”. Sega Toys. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 
  33. ^ “食育、安全などの"五育"を取り入れ、エデュテイメント事業を推進「遊びながら学ぶ」が進化する『Advanced PICO Beena』(アドバンスピコ ビーナ)8月発売” (PDF) (Thông cáo báo chí) (bằng tiếng Japanese). Sega Toys. Ngày 5 tháng 4 năm 2005. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  34. ^ “Majesco Signs Licensing Deal to Distribute Sega Pico Educational Systems: Systems Will Be Available In All Major Toy Retailers By Holiday Season” (Thông cáo báo chí). Business Wire. Ngày 5 tháng 8 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 
  35. ^ a ă Ricciardi, John (ngày 1 tháng 10 năm 2002). “Hands-On With Bandai's SwanCrystal; Move over, Game Boy Advance - there's a new bird in town”. Electronic Gaming Monthly (EGM Media Group) (159): 58. ISSN 1058-918X. On July 12, toy giant Bandai unleashed a third iteration (in stylish red and blue models) of their handheld WonderSwan system, the new-and- improved SwanCrystal, in Japan. 
  36. ^ a ă “Bandai to Launch WonderSwan Color in Dec.”. Jiji Press English News Service. Ngày 30 tháng 8 năm 2000. A new colored version of Bandai Co.'s <7967> WonderSwan handheld game machine will hit Japanese stores in early December, the Japanese game maker said Wednesday. [...] The original WonderSwan, with its black-and-white displays, has sold 1.55 million units since its debut in March 1999. 
  37. ^ a ă â “第21回 スワンクリスタル受注生産へ! ワンダースワンのこれまでとこれからを探る! 【見習い記者の取材日記】”. Famitsu (bằng tiếng Japanese). Ngày 8 tháng 3 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  38. ^ “Bandai to Supply Software for Nintendo's Game Boy”. Jiji Press English News Service. Ngày 18 tháng 2 năm 2003. The move reflects declining sales of Bandai's WonderSwan mobile game machine. The major Japanese toy maker is looking to supply two or three software titles for the rival company's popular game machine by March next year. Bandai will shift its focus from sales of hardware to software for "multiple platforms," including personal digital assistants, Takasu told a press conference. 
  39. ^ “Device solution”. Koto. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  40. ^ a ă Parish, Jeremy (ngày 13 tháng 7 năm 2013). “The Famicom Legacy”. USgamer. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2014. 
  41. ^ a ă Sheff & Eddy 1999, tr. 27–28: "[Color TV Game 6] was followed by a more powerful sequel, Color TV Game 15. A million units of each were sold. The engineering team also came up with systems that played a more complex game, called "Blockbuster," as well as a racing game. Half a million units of these were sold."
  42. ^ a ă “Intellivision: Intelligent Television”. GameSpy. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013. 
  43. ^ a ă Androvich, Mark (19 tháng 2 năm 2008). “N-gage's Second Coming”. Gamesindustry.biz. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2014. We had 700,000 active users and we had 3 million N-Gage devices out there. 
  44. ^ a ă https://www.gamasutra.com/view/news/297102/Nintendo_sold_23_million_NES_Classic_Editions.php
  45. ^ “Coleco Industries sales report” (Thông cáo báo chí). PR Newswire. Ngày 17 tháng 4 năm 1984. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2013. 'First quarter sales of ColecoVision were substantial, although much less that [sic] those for the year ago quarter,' Greenberg said in a prepared statement. He said the company has sold 2 million ColecoVision games since its introduction in 1982. 
  46. ^ a ă Kleinfield, N. R. (21 tháng 7 năm 1985). “Coleco Moves Out Of The Cabbage Patch”. The New York Times. tr. F4. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2014. Coleco is now debating whether to withdraw from electronics altogether. Colecovision still sells, but it is a shadow of its former self. 
  47. ^ Associated Press (19 tháng 10 năm 1985). “Coleco's Net In Sharp Rise”. The New York Times. tr. 45. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2014. Thursday, Coleco said the entire inventory of its troubled Adam personal computer has been sold, along with much of its Colecovision inventory. The company's chairman, Arnold Greenberg, said Coleco expects no more charges against earnings from the two discontinued products. 
  48. ^ a ă “Top 25 Video Game Consoles of All Time (Magnavox Odyssey 2)”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013. 
  49. ^ Pereira, Joseph (ngày 16 tháng 11 năm 1992). “Technology (A Special Report): At Our Leisure --- (Not So) Great Expectations: Hand-held Video Games Will Get Better, But Big Improvements May Take a While”. The Wall Street Journal. tr. R10. ISSN 0099-9660. Meanwhile, Nintendo, the first on the market with its black-and-white Game Boy, has sold approximately 7.5 million portable systems, analysts estimate. Sega has sold about 1.6 million units of its color Game Gear system, while Atari Inc. has sold about one million units of its $99 Lynx color portable system. 
  50. ^ Dvorak, John (tháng 9 năm 1999). “The Riddle of the Lynx”. Computer Shopper (SX2 Media Labs): 97. ISSN 0886-0556. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2014. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). The Jaguar looked to be a winner, with popular new games and hot sales. Around June of 1994 the company decided to stop supporting the Lynx and concentrate on the Jaguar. 
  51. ^ Elrich, David (ngày 15 tháng 9 năm 1994). “Video-Game Wars: Fighting It Out Off-Screen”. The New York Times. tr. C2. ISSN 0362-4331. According to Philips, there are 1 million CD-i owners worldwide. 
  52. ^ Townsend, Allie (ngày 4 tháng 11 năm 2010). “Top 10 Failed Gaming Consoles”. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  53. ^ a ă Dillon, Roberto (ngày 12 tháng 4 năm 2011). The Golden Age of Video Games: The Birth of a Multibillion Dollar Industry. Taylor & Francis. tr. 22–23. ISBN 9781439873236. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013. 
  54. ^ Mehegan, David (8 tháng 5 năm 1988). “Putting Coleco Industries Back Together”. The Boston Globe. tr. A1. ISSN 0743-1791. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2014. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). When the game [Telstar] crashed hard, earnings fell 50 percent in 1977 and the company lost $22 million in 1978, barely skirting bankruptcy after Handel -- then chief financial officer -- found new credit and mollified angry creditors after months of tough negotiation. 
  55. ^ a ă Schrage, Michael (ngày 22 tháng 5 năm 1984). “Atari Introduces Game In Attempt for Survival”. The Washington Post: C3. ISSN 0190-8286. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). The company has stopped producing its 5200 SuperSystem games player, more than 1 million of which were sold. 
  56. ^ Théo Azevedo (ngày 30 tháng 7 năm 2012). “Vinte anos depois, Master System e Mega Drive vendem 150 mil unidades por ano no Brasil” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). UOL. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012. Base instalada: 5 milhões de Master System; 3 milhões de Mega Drive 
  57. ^ Sponsel, Sebastian (ngày 16 tháng 11 năm 2015). “Interview: Stefano Arnhold (Tectoy)”. Sega-16. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015. 
  58. ^ “Sega farms out Genesis”. Consumer Electronics. Ngày 2 tháng 3 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2012. 
  59. ^ Patsuris, Penelope (ngày 7 tháng 6 năm 2004). “Sony PSP Vs. Nintendo DS”. Forbes. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2013. 

Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “NEC and HS” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “GDC16 eedar” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “reporting style” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “PS4 Q4 FY2014” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “PSP discontinued” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “best ps2” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “IGN guess-estimate” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “IGN 82million sold” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “PS2 Q2 and beyond” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “PS3 80mil” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Q1 2009 PSP and PS2” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “PSP Q2 and beyond” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “PSVita” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “PSVita2” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “sony combined” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “sony stop combined” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

1 Nguồn từ WonderSwan và Famitsu

2 Nguồn về năm phát hành

Tài liệu tham khảo