Danh sách tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa cải tạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Sơ lược[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày Giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 1975, Chính quyền mới mang danh nghĩa Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tạm thời ổn định tình hình an ninh trật tự trên toàn miền Nam dưới chế độ "Quân quản". Sau giải phóng hơn một tháng Chính quyền này đã ra lệnh cho tất cả các cựu quân nhân, công chức thuộc Việt Nam Cộng hòa từ binh sĩ đến sĩ quan các cấp, từ công chức ngoại ngạch đến các cấp công chức chính ngạch, phải ra trình diện Uỷ ban Quân quản của các đơn vị hành chính từ cấp địa phương đến cấp quận, huyện, tỉnh và thành phố với mục tiêu học tập chính sách của Chính quyền mới và chỉ phải học trong một thời gian ngắn.

Tuy nhiên, thời gian học tập từ 5 đến 10 ngày chỉ áp dụng cho các binh sĩ, hạ sĩ quan và công chức hạng thấp, được coi là không gây nhiều nguy cơ đe dọa đối với chính quyền mới.

Hầu hết tướng lĩnh cấp cao, một số sĩ quan, công chức cấp trung và cao bị cho là thành phần có nợ máu với nhân dân sẽ phải đi học tập cải tạo lâu hơn.

(Ngoài ra, còn xét lý lịch đối với những người trong gia tộc có các đời cha và ông đã từng phục vụ cho các chế độ nước ngoài mà được gọi là "thực dân Pháp, Mỹ xâm lược" và tay sai "ngụy quân, ngụy quyền").

Các thành phần vừa nói hầu hết đã không được dừng học tập ở thời gian ngắn như lúc đầu Chính quyền mới đã tuyên bố, mà phải tập trung tại các trại gọi là trại "cải tạo lao động" được lập ra trên toàn đất nước từ Nam ra đến Bắc. Chính quyền mới coi đây là biện pháp để đảm bảo an ninh, tránh nguy cơ mất an ninh từ quan chức chế độ cũ.

Trong thành phần kể trên, có những người được trả tự do sau một thời gian ngắn (từ 6 tháng đến dưới 3 năm) nếu chức vụ không quá cao, hoặc xét thấy có chuyển biến tốt về lập trường tư tưởng. Số còn lại từ 3 năm đến 17 năm. Có một số được trả về nhưng bị bắt trở lại với nhiều lý do mà Nhà nước cho là phạm pháp, kích động bạo loạn, gián điệp v.v.... Hiện nay có những người vẫn còn thụ án trong các trại tù giam.

Có nhiều tù nhân cấp cao của chính quyền chế độ cũ bị giam giữ với thời gian dài, gồm số sĩ quan các cấp tá và tướng của Việt nam Cộng hòa.

Thành phần Sĩ quan cao cấp là cấp tá và tướng bị giam giữ với thời gian lâu nhất.

Sau đây là danh sách 37 cựu tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa gồm 7 Trung tướng, 11 Thiếu tướng và 19 Chuẩn tướng đã bị tù khổ sai (cải tạo tư tưởng và lao động khổ sai).

Danh sách[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Thời gian
cải tạo
Chú thích
1
Nguyễn Hữu Có
(1925-2012)[1]
Trung tướng
5/1975-9/1987
Cựu Trung tướng đã giải ngũ năm 1967. Ngày 28-4-1975 tái ngũ với cấp bậc cũ giữ chức Phụ tá Tổng tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu.
2
Dương Văn Đức
(1925-2000)
nt
5/1975-9/1987
Cựu Trung tướng đã giải ngũ cuối năm 1964.
3
Lê Văn Kim
(1918-1987)
nt
1975-1982
Cựu Trung tướng đã giải ngũ giữa năm 1965.
4
Nguyễn Vĩnh Nghi
(1932)
nt
4/1975-2/1988
Là tướng lãnh có cấp bậc cao nhất bị đối phương bắt tại mặt trận.
5
Lâm Thành Nguyên
(1904-1977)
nt
1975-1977
Từ trần năm 1977 trong khi bị Chính quyền Cách mạng cầm tù ở Đề lao Chí Hòa.
6
Lâm Văn Phát
(1920-1998)
nt
4/1975-8/1986
Cựu Thiếu tướng giải ngũ cuối năm 1965. Ngày 29-4-1975 tái ngũ được thăng cấp Trung tướng giữ chức Tư lệnh Biệt khu Thủ đô.
7
Nguyễn Văn Vỹ
(1916-1981)
nt
5/1975-5/1979
Ở tù đến cuối năm 1975, bị trọng bệnh được điều trị ở Bệnh viện Saint Paut, Sài Gòn trong tình trạng bị quản thúc cho đến tháng 5 năm 1979, nhờ sự can thiệp của Thứ trưởng Quốc phòng Pháp, ông được trả tự do và xuất cảnh sang Pháp điều trị bệnh.
8
Nguyễn Chấn Á
(1923)
Thiếu tướng
5/1975-2/1988
9
Huỳnh Văn Cao
(1927-2013)
nt
5/1975-9/1987
Cựu Thiếu tướng giải ngũ năm 1966. Đệ nhất phó Chủ tịch Thượng viện.
10
Văn Thành Cao
(1924)
nt
5/1975-2/1988
11
Trần Văn Chơn
(1920)
nt
5/1975-9/1987
Cựu Đề đốc Hải quân giải ngũ cuối năm 1974. Là tướng lĩnh Hải quân duy nhất không di tản sau ngày 30 tháng 4.
12
Trần Bá Di (*)[2]
(1931-2018)
nt
5/1975-5/1992
13
Lê Minh Đảo (*)
(1934)
nt
5/1975-5/1992
14
Đỗ Kế Giai (*)
(1929-2016)
nt
5/1975-5/1992
15
Vũ Ngọc Hoàn
(1922-1993)
nt
1975-1980
16
Đoàn Văn Quảng
1923-1984)
nt
5/1975-3/1984
Từ trần năm 1984 trong trại tù Nam Hà, miền Bắc.
17
Nguyễn Thanh Sằng
(1926-2005)
nt
5/1975-9/1987
Cựu Thiếu tướng giải ngũ năm 1973
18
Nguyễn Xuân Trang
(1924-2015)
nt
5/1975-9/1987
19
Lý Tòng Bá
(1931-2015)
Chuẩn tướng
4/1975-2/1988
20
Trần Văn Cẩm
(1930)
nt
4/1975-2/1988
21
Vũ Văn Giai
(1934-2012)
nt
5/1975-9/1987
Đang thụ án của Tòa án binh QL VNCH tại Đề lao Chí Hòa đã được 3 năm, tiếp tục bị tù bởi Chính quyền Cách mạng.
22
Hồ Trung Hậu
(1931-1995)
nt
5/1975-2/1988
23
Lý Bá Hỷ
(1923-2015)
nt
5/1975-2/1988
24
Trần Quang Khôi (*)
(1930)
nt
5/1975-5/1992
25
Huỳnh Văn Lạc
(1927)
nt
5/1975-2/1988
26
Trần Quốc Lịch
(1935)
nt
5/1975-2/1988
Đang thụ án của Tòa án binh QL VNCH tại Đề lao Chí Hòa từ cuối năm 1974, tiếp tục bị tù bởi Chính quyền Cách mạng.
27
Bùi Văn Nhu
(1920-1984)
nt
5/1975-3/1984
Từ trần năm 1984 trong trại tù Nam Hà, miền Bắc.
28
Phan Xuân Nhuận
(1916)
nt
5/1975-9/1987
Cựu Chuẩn tướng giải ngũ năm 1966.
29
Phạm Ngọc Sang (*)
(1931-2002)
nt
4/1975-2/1992
30
Phạm Duy Tất (*)
(1934)
nt
5/1975-2/1992
31
Phạm Hà Thanh
(1926)
nt
1975-1977
32
Lê Văn Thân (*)
(1932-2005)
nt
5/1975-5/1992
33
Phan Đình Thứ
(1919-2002)
nt
5/1975-9/1988
Cựu Chuẩn tướng giải ngũ năm 1973.
34
Lê Trung Trực
(1927-2002)
nt
5/1975-3/1983
35
Mạch Văn Trường (*)
(1936)
nt
5/1975-2/1992
36
Lê Văn Tư
(1931)
nt
5/1975-2/1988
Đang thụ án của Tòa án binh QL VNCH từ cuối năm 1974, tiếp tục bị tù bởi Chính quyền Cách mạng.
37
Lê Trung Tường
(1927-2009)
nt
5/1975-2/1988

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Năm sinh và năm mất
  2. ^ (*) Các vị tướng bị tù đày 17 năm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]