Bước tới nội dung

Danh sách tỉnh cũ của Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Danh sách này liệt kê các tỉnh thành và đặc khu cũ đã từng tồn tại ở Việt Nam, tính từ năm 1830 đến nay. Có rất nhiều tỉnh bị giải thể nhưng sau đó được tái lập lại một thời gian rồi sau đó lại bị giải thể, vì vậy danh sách này sẽ chỉ liệt kê năm thành lập lần đầu tiên và năm giải thể lần cuối cùng.

Danh sách[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tỉnh Năm thành lập Năm giải thể Thuộc địa phận ngày nay Chú thích
An Xuyên 1956 1976 Cà Mau
Bà Rịa 1899 1956 Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai
Bà Rịa - Chợ Lớn 1951 1954 Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An có tên gọi Bà Chợ
Ba Xuyên 1956 1975 Sóc Trăng, Bạc Liêu Do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thành lập do hợp nhất hai tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu. Đến năm 1964, phần đất thuộc tỉnh Bạc Liêu trước đây được tách ra để tái lập tỉnh Bạc Liêu, phần còn lại tương ứng với tỉnh Sóc Trăng trước năm 1956 nhưng vẫn giữ nguyên tên gọi là tỉnh Ba Xuyên.

Chính quyền cách mạng không công nhận tên gọi tỉnh Ba Xuyên mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Sóc Trăng.

Bắc Thái 1965 1996 Thái Nguyên, Bắc Kạn
Biên Hòa 1832 1975 Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh
Bình Long 1956 1975 Bình Phước, Bình Dương
Bình Trị Thiên 1975 1989 Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế
Bình Tuy 1956 1976 Bình Thuận
Đặc khu Cam Ranh 1965 1975 Khánh Hòa
Cao Lạng 1975 1978 Cao Bằng, Lạng Sơn
Cần Thơ 1899 2004 TP. Cần Thơ, Hậu Giang
Châu Đốc 1899 1975 An Giang, Đồng Tháp
Chợ Lớn 1899 1956 Thành phố Hồ Chí Minh, Long An
TP. Chợ Lớn 1965 1931 Thành phố Hồ Chí Minh
Chương Thiện 1961 1976 Hậu Giang, Bạc Liêu, Kiên Giang
Côn Sơn / Côn Đảo 1956 1974 Huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có tên gọi Cơ sở hành chính Côn Sơn (1965 - 1974)
Cửu Long 1975 1991 Vĩnh Long, Trà Vinh Do hợp nhất 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Trước đó 2 tỉnh này đã từng hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Trà, tồn tại từ năm 1951 - 1954.
Định Tường 1832 1975 Trước năm 1869: Đồng Tháp (phần tả ngạn Sông Tiền), Tiền Giang, Long An (phần hữu ngạn sông Vàm Cỏ Tây)

Từ 1956 - 1975: Tiền Giang

Tỉnh thành lập từ năm 1832. Tỉnh bị mất tên gọi từ năm 1869 (do đổi thành tỉnh Mỹ Tho) sau khi Thực dân Pháp xâm chiếm tỉnh này. Tỉnh được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tái lập lại do hợp nhất hai tỉnh Mỹ Tho và Gò Công. Đến năm 1963, phần đất thuộc tỉnh Gò Công trước đây được tách ra để tái lập tỉnh Gò Công, phần còn lại gần tương ứng với tỉnh Mỹ Tho trước năm 1956 nhưng vẫn giữ nguyên tên gọi là tỉnh Định Tường.

Chính quyền cách mạng không công nhận tên gọi tỉnh Định Tường mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Mỹ Tho.

Đồng Nai Thượng 1899 1957 Lâm Đồng
Gia Định 1832 1975 Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Tiền Giang có tên gọi Phiên An (1832 - 1835)
Gia Định Ninh 1951 1954 Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh
Gia Lai - Kon Tum 1975 1991 Gia Lai, Kon Tum
Gò Công 1899 1976 Tiền Giang
Hà Bắc 1962 1996 Bắc Ninh, Bắc Giang
Hà Đông 1902 1965 TP. Hà Nội có tên gọi Cầu Đơ (1902 - 1904)
Hà Nam Ninh 1975 1991 Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình
Hà Sơn Bình 1975 1991 Hòa Bình, TP. Hà Nội
Hà Tây 1965 2008 TP. Hà Nội Do hợp nhất 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây. Từ năm 1975 tỉnh tiếp tục hợp nhất với tỉnh Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Từ năm 1978 một phần tỉnh Hà Tây (phần lớn là đất tỉnh Sơn Tây cũ) được sáp nhập vào thành phố Hà Nội. Năm 1991 tỉnh Hà Tây được tái lập lại theo địa giới hành chính năm 1965. Năm 2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào thành phố Hà Nội.
Hà Tiên 1832 1956 Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu
Hà Tuyên 1975 1991 Hà Giang, Tuyên Quang
Hải Hưng 1968 1996 Hải Dương, Hưng Yên
Hải Ninh 1906 1963 Quảng Ninh, Lạng Sơn
Hậu Giang 1976 1991 Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng
Hậu Nghĩa 1963 1976 Long An, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh
Hoàng Liên Sơn 1975 1991 Lào Cai, Yên Bái
Đặc khu Hồng Gai 1949 1955 Quảng Ninh
Khu Hồng Quảng 1955 1963 Quảng Ninh, TP. Hải Phòng
Hưng Hóa 1831 1891 Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Phú Thọ, Yên Bái Tên gọi Hưng Hóa tiếp tục tồn tại đến năm 1903 thì được đổi tên thành tỉnh Phú Thọ. [1]
Kiến An 1888 1962 TP. Hải Phòng có tên gọi Phù Liễn (1902 - 1906)
Kiến Hòa 1956 1975 Bến Tre (trừ huyện Chợ Lách) Do chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đổi tên từ tỉnh Bến Tre.

Chính quyền cách mạng không công nhận tên gọi tỉnh Kiến Hòa mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Bến Tre.

Kiến Phong 1956 1976 Phần tả ngạn sông Tiền của tỉnh Đồng Tháp Nguyên là đất thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường thời nhà Nguyễn. Đến thời Pháp thuộc đất đai được chia lại cho các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc.

Khi mới thành lập tỉnh có tên là tỉnh Phong Thạnh.

Năm 1956, chính quyền cách mạng cũng thành lập tỉnh Kiến Phong như chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đến năm 1974 thì giải thể.

Kiến Tường 1956 1976 Vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Long An (các huyện Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hóa, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, thị xã Kiến Tường) và một phần nhỏ của tỉnh Tiền Giang Nguyên là quận Mộc Hóa tách ra từ tỉnh Tân An.

Khi mới thành lập tỉnh có tên là tỉnh Mộc Hoá.

Năm 1957, chính quyền cách mạng cũng thành lập tỉnh Kiến Tường như chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đến năm 1976 thì giải thể, hợp nhất với tỉnh Long An, một phần tỉnh Hậu Nghĩa thành tỉnh Long An mới.

Lâm Viên 1916 1957 Lâm Đồng
Long Châu Hà 1950 1976 An Giang, Kiên Giang
Long Châu Hậu 1947 1950 An Giang [2]
Long Châu Sa 1951 1954 An Giang, Đồng Tháp [3]
Long Châu Tiền 1947 1976 Đồng Tháp, An Giang [4]
Long Khánh 1956 1975 Đồng Nai
Long Xuyên 1899 1956 An Giang, TP. Cần Thơ, Đồng Tháp
Lục Nam 1889 1891 Bắc Giang
Minh Hải 1975 1996 Cà Mau, Bạc Liêu Do hợp nhất 2 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu. Khi mới thành lập tỉnh lấy tên là tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu, nhưng tên gọi này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
Mỹ Tho 1899 1976 Tiền Giang, Bến Tre có tên gọi Tân Mỹ Gò (1951 - 1954)
Nam Hà 1965 1996 Nam Định, Hà Nam
Nghệ Tĩnh 1975 1991 Nghệ An, Hà Tĩnh
Nghĩa Bình 1975 1989 Quảng Ngãi, Bình Định
Nghĩa Lộ 1962 1975 Yên Bái
Phan Rang 1901 1913 Ninh Thuận Năm 1922, tỉnh Phan Rang được tái lập và đổi tên thành tỉnh Ninh Thuận.
Phong Dinh 1956 1976 TP. Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng
Phú Bổn 1962 1975 Gia Lai, Đắk Lắk
Phú Khánh 1975 1989 Phú Yên, Khánh Hòa
Đặc khu Phú Quốc 1956 1975 Kiên Giang
Phúc Yên 1901 1950 Vĩnh Phúc, TP. Hà Nội có tên gọi Phù Lỗ (1901 - 1904)
Phước Long 1956 1975 Bình Phước, Bình Dương, Lâm Đồng
Phước Thành 1959 1965 Bình Dương, Bình Phước
Phước Tuy 1956 1975 Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hòa
Pleiku 1932 1976 Gia Lai
Quảng Đức 1959 1976 Đắk Nông, Đắk Lắk
Quảng Nam - Đà Nẵng 1975 1996 Quảng Nam, TP. Đà Nẵng
Quảng Tín 1962 1976 Quảng Nam
Quảng Yên 1831 1955 Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang, TP. Hải Phòng
Rạch Giá 1899 1976 Kiên Giang, Bạc Liêu
Sa Đéc 1899 1976 Đồng Tháp
TP. Sài Gòn 1931 Thành phố Hồ Chí Minh
Đô thành Sài Gòn 1931 1976 Thành phố Hồ Chí Minh có tên gọi Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn (1931 - 1956)
Sông Bé 1976 1996 Bình Dương, Bình Phước Do hợp nhất 2 tỉnh Thủ Dầu Một (chính là tỉnh Bình Dương của Việt Nam Cộng hoà) và Bình Phước. Khi mới thành lập tỉnh lấy tên là tỉnh Bình Thủ, nhưng tên gọi này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
Sơn Tây 1831 1965 TP. Hà Nội, Hòa Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang
Tam Cần 1956 1956 Trà Vinh, Vĩnh Long
Tân An 1899 1956 Phần hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông của tỉnh Long An
Tân Bình 1944 1945 Thành phố Hồ Chí Minh
Khu tự trị Tây Bắc 1955 1975 Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái (các huyện Trạm Tấu, Văn Chấn, Mù Cang Chải, thị xã Nghĩa Lộ) Trong giai đoạn từ 1955 - 1963, khu tự trị có tên Khu tự trị Thái - Mèo, không chia đơn vị hành chính cấp tỉnh, các tỉnh tồn tại trước đó là Sơn La, Lai Châu bị giải thể. Từ năm 1963 được đổi tên thành Khu tự trị Tây Bắc, đồng thời thành lập 3 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Nghĩa Lộ trực thuộc khu tự trị.
Thủ Biên 1951 1961 Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh
Thủ Dầu Một 1899 1956 Bình Dương, Bình Phước
Thuận Hải 1975 1989 Ninh Thuận, Bình Thuận
Thừa Thiên 1831 1975 Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị
Tuyên Đức 1958 1976 Lâm Đồng
Khu tự trị Thái trước thế kỷ 17 1954 Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái Ban đầu được kiểm soát bởi Xiêm La
Khu tự trị Việt Bắc 1956 1975 Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang
Vĩnh Bình 1956 1976 Trà Vinh (trước năm 1968 bao gồm thêm 2 huyện Vũng Liêm, Trà Ôn của tỉnh Vĩnh Long) Do chính quyền Việt Nam Cộng hoà đổi tên từ tỉnh Trà Vinh.

Chính quyền cách mạng không công nhận tên gọi tỉnh Vĩnh Bình mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Trà Vinh.

Đặc khu Vĩnh Linh 1954 1976 Quảng Trị (Vĩnh Linh)
Vĩnh Phú 1968 1996 Vĩnh Phúc, Phú Thọ
Đặc khu Quân sự Quảng Ninh 1979 1989 Quảng Ninh
Vĩnh Trà 1951 1954 Vĩnh Long, Trà Vinh Tỉnh do chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập nhưng không được chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau này là Việt Nam Cộng hòa công nhận.
Vĩnh Yên 1899 1950 Vĩnh Phúc (trừ thành phố Phúc Yên)
Vũng Tàu (Cap Saint Jacques) 1895 1976 Thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Vũng Tàu đã nhiều lần được tách ra thành đơn vị hành chính cấp tỉnh riêng nhưng sau đó lại được nhập trở lại vào tỉnh Bà Rịa / Phước Tuy:
  • Thành phố tự trị (commune autonome) Cap Saint Jacques, tồn tại từ năm 1895 - 1899
  • Tỉnh Cap Saint Jacques, tồn tại từ năm 1929 - 1934
  • Tỉnh Vũng Tàu (bao gồm cả huyện Cần Giờ), tồn tại từ năm 1947 - 1952
  • Đặc khu Vũng Tàu (hay Thị xã Vũng Tàu), đơn vị hành chính trực thuộc trung ương của Việt Nam Cộng hòa, tồn tại từ năm 1964 - 1975
Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo 1979 1991 Thành phố Vũng Tàu và huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  • ^ Ghi chú (1): Chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi các tỉnh Nam Phần do chính quyền Việt Nam Cộng hoà đặt ra mà vẫn gọi các tỉnh theo tên cũ trước năm 1956.
  • ^ Ghi chú (2): Tỉnh do chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập nhưng không được chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau này là Việt Nam Cộng hòa công nhận.
  • ^ Ghi chú (3): Sau khi thực dân Pháp cắt phần lớn đất đai để thành lập các tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, địa bàn tỉnh Hưng Hóa chỉ còn lại 2 huyện Tam Nông và Thanh Thủy. Từ năm 1891, nhiều châu, huyện của các tỉnh Sơn Tây, Tuyên Quang, Yên Bái, Sơn La được chuyển về tỉnh Hưng Hóa. Đến năm 1903, tỉnh được đổi tên thành tỉnh Phú Thọ. Ngày nay tỉnh Phú Thọ xem năm 1891 là năm thành lập tỉnh, vì thế tỉnh Hưng Hóa trên thực tế đã bị giải thể kể từ năm 1891.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]