Bước tới nội dung

Danh sách xoáy thuận nhiệt đới tại Việt Nam (trước năm 1945)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trước khi Việt Nam giành độc lập năm 1945, những trận bão phần lớn đươc ghi chép lại qua các sử liệu của triều Nguyễn, qua các tài liệu của Pháp (bao gồm Cơ quan khí tượng Đông Dương, đặt tại đài Phù Liễn) và báo chí của chế độ phong kiến cũng như của Pháp. Từ năm 1928, Cơ quan Khí tượng Đông Dương bắt đầu ghi chép một cách có hệ thống về thời tiết, khí hậu, thủy văn ở Đông Dương trong các ấn phẩm "Annales du Service Météorologique" (Biên niên sử Khí tượng Đông Dương, có thể hiểu như Đặc điểm khí tượng thủy văn của ngành khí tượng Việt Nam sau này).[1]

Một số số liệu do quan trắc một cách thủ công nên có thể không chuẩn hoặc không đầy đủ, mang tính chất tham khảo.

Danh sách các cơn bão có tác động đáng kể đến Việt Nam trước năm 1945

[sửa | sửa mã nguồn]

Trước 1884

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Cuối năm 1698, miền Trung Đại Việt gặp bão lớn đánh vào, thương vong thảm hại nặng nề. Đại Nam thực lục chép: “Mùa đông, tháng 10, gió Đông Bắc thổi to, sấm mưa dữ dội suốt một ngày đêm, nước lụt tràn ngập, mặt đất nước sâu 4-5 thước, nhà cửa, người và súc vật bị trôi chết rất nhiều." Linh mục Jean Antoine Arnedo cho rằng trận bão này có lợi cho tín đồ Cơ Đốc, ông nói: “Nếu không phải ngay lúc này xảy ra một trận thiên tai, bức hại có lẽ cũng sẽ có bước phát triển mới." Trận thiên tai này thực sự lớn, lúc bấy giờ ở khu vực Quảng Nam có hơn một nửa số chùa chiền đình miếu, nhà dân và đình đài cung điện của triều đình bị sụp đổ, hơn 4.000 chiếc thuyền lương thực đều bị chìm, hơn 1.000 con tàu ở ven bờ bị gió bão cuốn đi, không tìm lại được, ước tính có 100.000 người thiệt mạng trong cơn bão.[2]
  • Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), một trận bão đổ bộ miền Trung nước Đại Nam, Nghệ An có 40.753 ngôi nhà bị đổ nát, 696 thuyền buôn và thuyền đánh cá bị chìm, nước biển dâng lên 14 - 15 thước (khoảng 3,5 - 4 mét), 5.240 người bị chết, đặc biệt là ở các vùng ven biển thuộc hạt Đông Thành, An Thành và Chân Lộc. Tại kinh thành (Huế), hơn 700 nhà dân bị lật đổ, nhiều người chết đuối. Ngoài ra Đại Nam thực lục còn cho biết, trận bão này cũng càn quét qua các tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Hà Tĩnh.[3]
  • Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), lại có một trận bão xảy ra vào tháng 5 nhuận. Các tỉnh bị thiệt hại nặng nhất vẫn là Nghệ An và Hà Tĩnh. Nghệ An có 22.980 ngôi nhà bị sụp đổ, 296 thuyền bị đắm, 722 đình chùa, đền miếu bị hư hại nặng nề, 120 người bị chết. Hà Tĩnh có 1.913 ngôi nhà sụp đổ, 38 đền chùa bị tan hoang, 9 chiếc thuyền của dân bị đắm, 34 người chết.[3]
  • Năm Tự Đức thứ 20 (1867), một trận bão kinh hoàng đổ bộ vào Bắc Kỳ vào tháng 5, đã làm đổ nát hơn 10 vạn ngôi nhà, hàng nghìn chiếc thuyền bị đắm, vỡ đê, nước biển dâng cao. Các tỉnh bị thiệt hại nặng nề nhất là: Sơn Tây, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Hải Dương, Quảng Yên, Ninh Bình.[3]
  • Một cơn bão mạnh đã tàn phá Hải Phòng đầu tháng 10 năm 1881 khiến 3000 người thiệt mang. Tại Hà Nội, cơn bão này đã cuốn phăng nhiều ngôi nhà, cây cối trong khu Nhượng địa Pháp (nay là phố Phạm Ngũ Lão). Theo ước tính, cơn bão đã gây thiệt hại khoảng 7.000 đến 8.000 frs Pháp.[4] Theo ước tính của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Việt Nam, cơn bão có thể có sức gió tương đương cấp 13–14.[5]

Thời kỳ 1884–1918

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Năm 1887 vào tháng 4 âm lịch có trận bão lớn ảnh hưởng dọc ven biển Trung Kỳ. Theo Đại Nam thực lục, "Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, đều bị bão lụt (lúa chiêm chưa gặt, mạ mùa đã gieo, cùng hết thảy hoa lợi, đều bị ngâm nước tổn hại) ; tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An cũng bị nạn bão (ruộng lúa phần nhiều bị tổn thương)".[6]
  • Tháng 7 năm 1889, ghi nhận một cơn bão đổ bộ Bắc Kỳ, tàn phá thủ đô Hà Nội.[7]
  • Tháng 10 năm 1897, một trận bão dữ dội tràn qua ba tỉnh Trung Kỳ, "duy trì khá lâu", tàn phá và gây ra nạn đói kéo dài. Một trong ba tỉnh là Đồng Hới, nằm trọn trong vùng tâm bão khi mùa màng còn chưa thu hoạch và đã bị mất trắng, vườn cây ăn quả bị bật rễ đến cây cuối cùng, các đàn gia súc bị chết đuối gần hết, hàng nghìn người chết.[8]
  • Ngày 9 tháng 11 năm 1899 có một cơn bão được cho "lớn chưa từng có" đổ bộ vào Hải Phòng. L'Avenir du Tonkin của Pháp mô tả: "Tất cả cây cối trong thành phố đều bị bật gốc, không một con phố nào thoát khỏi, một số cây bị gãy đổ hoàn toàn, và tất cả đều bị gãy cành."[9]
  • Vào tháng 9 đến tháng 10 năm 1900: khu vực Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi đã bị 3 trận bão lớn tấn công liên tục kéo dài từ ngày 29 tháng 9 tới 9 tháng 10. Chỉ riêng trận bão xuất hiện vào ngày 29 tháng 9 đã gây ra thảm họa kinh hoàng ở khu vực khi giết chết tới 1600 người. Theo trích dẫn từ các thông tin của Trung tâm thương mại Kaenga Maru của Nhật Bản, cơn bão ngày 29 tháng 9 "có sức tàn phá khủng khiếp không như như bất kỳ cơn thịnh nộ nào đã hoành hành dọc theo An Nam", hoành hành trong 48 giờ liên tục và phá hủy nhiều tòa nhà và gần như hủy hoại 100% diện tích lúa canh tác ở khu vực. Đến khoảng ngày 16 tháng 10 trận bão thứ 4 đã tấn công vào Quy Nhơn và tàn phá nặng nề các đồn cà phê, nó cũng gây lũ lụt kéo dài thêm cho Đà Nẵng - Quảng Ngãi.[10][11]
  • Một trận bão vào tháng 7 năm 1902 (khoảng ngày 12 tháng 7) đổ bộ vào Bắc Kỳ, trong đó có Hà Nội, làm đền và tượng vua Lê ở góc phố Beauchamps (phố Lê Thái Tổ) và phố Jules Ferry (phố Hàng Trống) bị hư hỏng nặng. Để khắc phục hậu quả do bão, Đốc lý Hà Nội đã được nhận 250 đồng bạc Đông Dương (trong chương XI, điều 6, khoản 1 và 2 thuộc ngân sách Bắc Kỳ) để tôn tạo tượng vua Lê.[4] Theo Cục khí tượng Philippines thì cơn bão đổ bộ Tonquin (Bắc Kỳ) với cường độ mạnh hơn khi ra khỏi Archipelago.[12]
  • Ngày 7 tháng 6 năm 1903, một trận bão được cho là rất mạnh đã đổ bộ vào Nam Định, Bắc Kỳ. Theo báo cáo từ Nam Định vào sáng ngày 7, gió tây bắc bắt đầu thổi với sức mạnh ngày càng tăng cho đến giữa trưa, sau một thời gian ngắn lặng gió, gió bắt đầu thổi từ phía tây nam với sức mạnh khủng khiếp, đến mức hầu hết các ngôi nhà trong địa phương này đều bị phá hủy. Khu vực phía tây Bắc Kỳ cũng phải chịu những thảm họa tương tự. Điều đáng tiếc nhất là số người chết, theo báo cáo, lên tới 2.000 người.[13] Báo chí đương thời dùng từ “trận bão” để mô tả. Không chỉ Bệnh viện De Lanessan bị hư hại nặng mà trận bão 1903 còn hủy hoại một số công trình khác ở Hà Nội như Văn Miếu - Quốc Tử Giám.[4] Nhiều tỉnh Bắc Kỳ khác cũng chịu những thiệt hại nặng nề.[14]
  • Vào ngày 1 tháng 5 năm 1904, một cơn bão đổ bộ vào vùng Nam Bộ ngày nay, địa bàn chịu ảnh hưởng đến cả Campuchia, đã khiến ít nhất 3000 người chết và tổng thiệt hại tài sản hơn 1000 tỷ đồng (theo thời giá năm 2016).[15][16] Điển tích "Năm Thìn bão lụt" đi vào ca dao, tục ngữ Nam Bộ cũng được cho là bắt nguồn từ trận bão này.[17][18]
  • 4 tháng sau, vào ngày 11 tháng 9 năm 1904 (2 tháng 8 âm lịch), một trận bão lớn được cho là ở cấp 11[19] đổ bộ vào kinh thành Huế. Đại Nam thực lục chép: "Ngày 2 Mậu thân kinh sư có bão lớn, nước dâng lên ngập hết cung điện trong cấm thành và quan thự trong kinh thành, nhà cửa nóc ngói bay tung, tường vách sụp đổ, công văn vật hạng bị ngâm nước hư hại rất nhiều. Cột cờ trên kỳ đài gãy ngang rơi xuống, cầu sắt Trường Tiền cũng bị trôi đổ. Đền chùa nhà cửa thuyền bè ruộng vườn đồ vật của dân gian tổn hại, nhân dân và gia súc bị đè bị dìm chết và bị thương không biết bao nhiêu mà kể (trong kinh thành thuộc viên bộ Lễ chết 2 người, bị thương 2 người, quân binh chết 2 người, bị thương hơn 40 người, nhân dân các phường chết 13 người nam nữ, nhà cửa bị sập đổ hư hại 898 gian. Ở 6 huyện nhân dân chết và bị thương 765 người nam nữ, đình chùa miếu mạo nhà cửa sập đổ hư hại 28.220 gian, súc vật bị trôi bị chết 587 con, thuyền bè bị chìm bị mất 787 chiếc. Tỉnh Quảng Trị nhân dân chết đuối 163 người nam nữ, nhà cửa đền chùa bị trôi bị hỏng 3.168 gian, súc vật chết 3.672 con, thuyền bè bị chìm bị mất 32 chiếc. Tỉnh Quảng Bình hai phủ huyện Quảng Ninh Lệ Thủy nhân dân chết đuối 411 người nam nữ, nhà cửa đình miếu bị trôi bị hỏng 5.888 gian, súc vật chết 2.814 con, thuyền bè bị chìm bị mất 74 chiếc. Nghệ An Hà Tĩnh bão lụt hơn bình thường cũng tổn hại nhiều."[20]
  • Năm 1905 ghi nhận 3 trận bão lớn ở Bắc Kỳ:
    • Hai trận bão ngày 31 tháng 8 và 20 tháng 9 năm 1905 gây nhiều thiệt hại cho vùng Bắc Kỳ.[21]
    • Ngày 29 tháng 9 năm 1905, một trận bão được cho là mạnh (Philippines gọi là "Cantabria", do cường độ rất mạnh tàn phá Philippines khi đó và ghi nhận áp tại đây là 919 hPa, nhận được sự quan tâm đặc biệt lớn của dư luận thời đó),[22] đã đổ bộ vào vùng Đồng bằng Bắc Kỳ ở khu vực Phủ LýNam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), trên đường đi tâm bão cũng đã đi qua tỉnh Hà Đông. Tờ L'Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ) cho biết, vào rạng sáng ngày 29 tháng 9 khoảng 4 giờ, ở tỉnh Hà Đông ghi nhận hiện tượng lặng gió và một tiếng sau thì những cơn gió mạnh quật ngược lại với cường độ mạnh hơn, khu vực Ứng Hòa chịu thiệt hại nặng nề nhất, Sơn Tây cũng ghi nhận gió mạnh gây thiệt hại nặng nề;[23] ở Hà Nội ghi nhận gió giật từ hướng Bắc và hướng Đông trong khi phần đuôi quét qua Hải Phòng.[24][25] Hậu quả của gió bão không quá lớn, song nó gây ra một đợt mưa lũ muộn được cho là "hiếm gặp" ở Bắc Kỳ, với mười ngày mưa xối xả.[21] L'Avenir du Tonkin mô tả, ngày 29 tháng 9 Hà Nội mưa 102,2 mm, "đê Kim Bảng bị vỡ", "hầu hết các ngôi nhà chìm trong biển nước", "nước đã tràn vào tất cả các cánh đồng lúa và cây lúa đã thối rữa trên mặt đất", vụ mùa tháng 10 tại Bắc Kỳ bị xem là "coi như mất trắng", hệ quả là giá gạo "tăng gấp đôi" so với trước khi có bão lụt. Lũ muộn trên sông Hồng trong đợt mưa bão này có đỉnh lên đến 10,36m vào ngày 4 tháng 10 năm 1905 tại trạm Hà Nội. Mức độ thiệt hại về lúa mùa do bão lụt tại các địa phương phổ biến 35–55%. Giao thông từ Hà Nội đi Nam Định, vốn đã gián đoạn từ tháng 8, tiếp tục gián đoạn đến đầu tháng 11 năm 1905. Điều này được cho là hệ quả của việc trước đó ba tháng 6, 7, 8 "mưa ở vùng châu thổ không đủ cho mùa màng".[24][25][26][27] Nhà thờ Kẻ Sở (Hà Nam) cũng bị ngập lên đến 1,6 mét.[21]
  • Tháng 9 dương lịch (tháng 8 âm lịch) năm 1906, có bão ở Huế và Trung Kỳ. Theo Đại Nam thực lục, "ngày 7 tháng ấy [tháng 8 âm lịch năm Bính Ngọ, 1906] gió đông bắc nổi mạnh, nước sông dâng cao hơn lúc thường tới bốn năm thước, nhà cửa dân cư sụp đổ, hoa lợi ruộng vườn tổn thất rất nhiều".[20] Tuy nhiên cơn bão này, theo Philippines Weather Bureau, được cho là "ít dữ dội".[28]
  • Trong các tháng 6–7 năm 1909 ghi nhận 4 cơn bão đổ bộ vào Bắc Kỳ và phía Bắc của Trung Kỳ (Thanh Hóa, Nghệ An). Ngày 24 tháng 6 có một trận bão (không rõ cường độ) đổ bộ vào Phù Liễn. Hơn 3 tuần sau, đến rạng sáng ngày 16 tháng 7 năm 1909, một trận bão rất mạnh đổ bộ vào Phù Liễn (Hải Phòng). Theo Đài quan sát Phù Liễn (ghi lại trong tài liệu của Philippines), sức gió mạnh nhất đạt 38,9 m/s (140 km/h) vào khoảng 3 đến 4 giờ sáng ngày 16 tháng 7 và khí áp thấp nhất tuyệt đối là 952,3 hPa (đo ở cao độ hơn 100m so với mực nước biển) còn áp suất bề mặt đo được 725,3mmHg (967hPa) vào ngày 16 tháng 7 năm 1909.[29][30] Ngày 21 tháng 7, có một trận bão đổ bộ vào Thanh Hóa và ngày 24–25 tháng 7 có một trận bão đổ bộ vào Nghệ An (ở gần Vinh). Theo Đại Nam thực lục, "Thanh Hóa, Nghệ An bị bão (buổi chiều ngày 8 [24 tháng 7] nổi lên, đến sáng sớm ngày 9 [25 tháng 7] thì tắt, công thự trường thi đều đổ sập, nhà cửa thuyền bè, người và gia súc ruộng vườn trong hạt phần nhiều bị tổn thất)". Đến đầu tháng 9 năm 1909 có một cơn bão khác vào phía Bắc Đông Dương, khu vực Nam đồng bằng Bắc Bộ (vĩ tuyến 20).[20][29][31]
  • Cuối năm 1909 cũng có bão dồn dập ở phía Nam Trung Kỳ. Vào ngày 6–10 tháng 10 năm 1909, một trận bão di chuyển hướng Tây Tây Bắc, đến phía Bắc Đà Nẵng thì đi đổi hướng theo hướng Bắc, đi vào đất liền Đông Dương ở vĩ độ cao hơn 20oB một chút (là vùng Nam Đồng bằng Bắc Kỳ) vào tối 10 tháng 10, có thể nhận định là bão đi dọc bờ biển lên Bắc.[29] Theo Đại Nam thực lục mô tả, "ngày 23, 24 tháng ấy [tháng 8 âm lịch, tương đương ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1909] gió bão rất lớn, nước dâng cao hơn mức thường, từ Thừa Thiên tới các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình, Trị, Quảng Nam, Bình Thuận ruộng vườn đều bị tổn thất rất nhiều".[20] Ngày 31 tháng 10, một trận bão đổ bộ vào Nha Trang. Ngày 9 tháng 11 năm 1909, một trận bão rất mạnh đã tàn phá dữ dội các tỉnh từ Huế đến Quảng Ngãi. Theo báo cáo của đài Phù Liễn (ghi nhận trong tài liệu của Philippines) thì trận bão đã quét qua khu vực phía Bắc Đà Nẵng và lúc 21h45 phút tối tại đây đã quan sát được khí áp 730,9 mmHg (974,5 hPa).[29][31]
  • Năm 1910 có 13 cơn bão đổ bộ Việt Nam,[32] phần lớn tại Trung Kỳ. Riêng tháng 9 năm 1910 (tháng 8 âm lịch Canh Tuất) có bão dồn dập (tuy không quá mạnh) nhưng gây thiệt hại lớn. Có hai cơn bão được cho là mạnh nhất và đáng chú ý nhất, một là trận bão ngày 1 tháng 9 năm 1910 đổ bộ Ninh Bình, với khí áp trạm này ghi nhận được (đo bằng phương pháp thủ công) là 734,7 mmHg (979,5 hPa);[31][33] và hai là trận bão vào ngày 26 tháng 9 năm 1910 đổ bộ vào Quảng Bình có cường độ cũng rất mạnh, với khí áp trên biển được một tàu hơi nước tên "Colombo" xuất phát từ Đà Nẵng đo vào tâm bão, tại 17,3 độ vĩ Bắc và 107,8 độ kinh Đông (17o15'B, 107o50'Đ, ở vùng biển Quảng Bình–Quảng Trị, vị trí này cách đảo Cồn Cỏ khoảng 150 km về phía Đông) đo được giá trị khí áp 717 mmHg (956 hPa) bằng phương pháp thủ công, song sau đó tàu bị lật, cơn bão về sau được gọi là "Colombo typhoon".[33] Đại Nam thực lục chép: "Các tỉnh từ Thừa Thiên tới Hữu Trực kỳ [vùng Bắc Trung Kỳ, không kể phủ Thừa Thiên] đều báo tin bị bão (tỉnh Quảng Bình nặng nhất, dinh thự Tòa sứ ở tỉnh và nhà cửa thuyền bè của dân chung quanh đều bị hư hại chìm mất, văn thư đều bị ngâm nước), sai quan địa phương khám xét trù hoạch cứu giúp."[20] Đến đầu tháng 11 năm 1910, Nam Trung Bộ có một cơn bão lớn đổ bộ ở Quảng Ngãi và Bình Định (khoảng ngày 3 tháng 11 dương lịch).[33] Theo Đại Nam thực lục, vào tháng 10 (âm lịch, tương đương tháng 11 năm 1910) "tỉnh Quảng Ngãi bị bão lụt (hơn 10 người chết đuối, nhà cửa thuyền bè dọc sông hư hỏng chìm mất có tới hàng vạn), chuẩn trích tiền lưu lại 1.000 đồng chẩn cấp".[20] Một cây đa di sản trăm năm tuổi ở Quảng Ngãi cũng từng bị hư hỏng do bão (trận bão năm Canh Tuất).[34]
  • Vào cuối năm 1912, có 3 trận bão khá mạnh đổ bộ vào Nam Trung Bộ, ngày 13 và 19 tháng 10 ở Quảng Ngãi và ngày 8 tháng 11 năm 1912 ở Khánh Hòa (tâm bão đi qua vùng Ninh Hòa, phía Bắc thành phố Nha Trang ngày nay; trận bão này trước đó có tên "Tacloban typhoon" vì tàn phá vô cùng nghiêm trọng Philippines[35][36][37]). Trận bão ngày 8 tháng 11 năm 1912 ở Nha Trang ghi nhận khí áp 729,9 mmHg (973 hPa). Theo dư luận thời đó, đây là "cơn bão dữ dội nhất từng đi qua Nha Trang trong trí nhớ của con người", đã gây ra thiệt hại đáng kể. Tất cả các ngôi nhà của người châu Âu đều ít nhiều bị ảnh hưởng; hầu hết các ngôi nhà đều bị cuốn trôi mái nhà và trần nhà sụp xuống. Nền móng của Viện Pasteur Nha Trang bị lộ ra và mái nhà của phòng thí nghiệm và nơi ở của nhân viên bị thổi bay.[38] Một nhà thờ ở Nha Trang cũng bị bão làm quật đổ.[39]
  • Ngày 18 tháng 8 năm 1913, một trận bão lớn khác được cho là đã đổ bộ vào vùng Đông Bắc Bắc Kỳ (khu vực Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang).[40] Bão tiếp tục gây mưa lớn và lũ lụt diện rộng ở Bắc Kỳ (cùng với đợt mưa từ trước đó), vỡ đê xảy ra nhiều nơi, gây thiệt hại nặng về mùa màng và giao thông, kể cả đường sắt Hà Nội–Hải Phòng.[41] Ngày 14 tháng 9 năm 1913, có một cơn bão khác cũng tấn công vùng Đông Bắc Bắc Kỳ.[40]
  • Vào cuối tháng 10 năm 1915, một trận bão rất mạnh đã tấn công Tourane (Đà Nẵng ngày nay) và Quảng Nam vào khoảng 18h45 ngày 27 tháng 10. Theo các tài liệu, trận bão đổ bộ ở gần phía Nam của Đà Nẵng (có thể ở Hội An, Quảng Nam), cường độ của trận bão không được nêu rõ ràng. Theo một tài liệu của Philippines, cơn bão tàn phá cực kỳ dữ dội tới tận vùng biên giới giữa Quảng Nam và Lào ngày nay, theo lãnh đạo Đài quan sát Phù Liễn thì áp suất đo được ở bán đảo Sơn Trà ở cửa ngõ Đà Nẵng là 721,3 mmHg (961,8 hPa), tuy nhiên nó được cho không phải áp suất thấp nhất trong cơn bão do bão được ghi nhận đổ bộ về phía nam của trạm, mặc dù vậy giá trị khí áp này cũng không được ghi nhận một cách chính thức trong các tài liệu lúc bấy giờ. Nước dâng ở bờ biển từ Thừa Thiên đến Huế, nước dâng hơn 0,50 m. Bão hoành hành ở vùng núi An Nam, đường dây điện báo bị đổ, cây cối bị xoắn, gãy hoặc bật gốc, nhà cửa của người bản xứ bị gió lớn thổi bay hoặc cuốn trôi, nhiều người chết đuối, thuyền và xuồng máy cùng một tàu hơi nước bị đẩy vào bờ hoặc vào đất liền. Nước sông dâng cao gây ra lũ lụt và sự tàn phá mùa màng, thiệt hại lớn cho đường sá. Mưa lớn kéo dài từ Quảng Ngãi đến Đồng Hới và thậm chí đến Vinh.[42] Theo Đại Nam thực lục, tháng 9 (âm lịch) năm 1915, "gió bão nổi lớn, mưa to nước lụt. Sắc cho bộ Lễ phái ủy đường quan thuộc viên chia nhau tới các tôn điện hội đồng kiểm điểm trù tính việc tu bổ".[20]
  • Tháng 9 năm 1916 ghi nhận một cơn bão ở Quảng Ninh và một cơn bão ở Hà Tĩnh.[43]

Thời kỳ 1918–1945

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Năm 1919 ghi nhận hai cơn bão lớn: ngày 24 tháng 8 năm 1919 ở khu vực Đông Bắc Bắc Kỳ (Quảng Ninh) và ngày 21 tháng 10 ở phía Nam của Đà Nẵng.[44]
  • Năm 1920 ghi nhận các cơn bão: ngày 4 tháng 7 năm 1920 ở Bắc Kỳ, ở Hà Tĩnh và Quảng Bình ngày 26 tháng 8 và ngày 21 tháng 9 ở khu vực Quảng Ngãi - Bình Định.[45]
  • Tháng 7 năm 1921 có hai trận bão mạnh đổ bộ vào Bắc Kỳ. Một trận đổ bộ chiều 7 tháng 7 năm 1921 ở gần Phù Liễn, Hải Phòng[31][46] và một trận đi qua phía Bắc đảo Hải Nam đổ bộ vào Móng Cái ngày 24, 25 tháng 7.[47]
  • Ngày 7 tháng 11 năm 1922 ghi nhận bão đổ bộ Nam Kỳ, khí áp tại Cap Saint Jacques (Vũng Tàu) 748 mmHg (994,3 hPa).[31]
  • Năm 1924 có 3 trận bão lớn:[48]
    • Một ở Bắc Kỳ ngày 24 tháng 8 (đổ bộ vào tỉnh Quảng Ninh ngày nay, giữa Hải Phòng - Móng Cái - Lạng Sơn), với sức gió theo Đài khí tượng Phù Liễn quan trắc được là 33 m/s giật từ 35 đến 45 m/s (hướng Nam Đông Nam), tương tự với gió ở Lạng Sơn (hướng Bắc Đông Bắc) kèm mưa lũ, lượng mưa ghi nhận được là 152 mm tại Hải Phòng và 166 mm tại Hà Nội.[49] Bão lũ gây thiệt hại nghiêm trọng về người, về của, hàng trăm nghìn người mất nhà mất cửa. Xảy ra vụ vỡ đê được cho là lớn nhất từ trước đến nay đã xảy ra ở đoạn đê thuộc làng Phi Liệt (nay thuộc Văn Giang, Hưng Yên). Chủ tịch Ủy ban Cứu tế Bắc Kỳ đã phải gửi công văn đến Trưởng ban Kinh tế Đông Dương (ngày 29 tháng 8 năm 1924) nhằm kêu gọi chung tay cứu trợ đồng bào vùng lũ ở Bắc Kỳ.[50]
    • Trận bão ngày 6 tháng 10, tâm bão lúc 9 giờ sáng được xác định ở 20 độ Bắc, 107 độ Đông và di chuyển hướng Tây Tây Bắc, đi vào giữa Hải Phòng và Thanh Hóa (bờ biển Nam đồng bằng sông Hồng, vị trí tương đương tỉnh Ninh Bình ngày nay);[51] ngày 7 tháng 10 đã ghi nhận suy yếu và tâm ở trên vùng Nam đồng bằng sông Hồng.[52] Lượng mưa ghi nhận được ở mức 129 mm tại Móng Cái, 53 mm tại Lạng Sơn, 107 mm tại Hà Nội, 156 mm tại Thanh Hóa, 129mm tại Vinh, 65mm tại Đồng Hới và 52 mm tại Quảng Trị. Hải Phòng chịu thiệt hại nặng.[51][52]
    • Ngày 23 tháng 10, một cơn bão/áp thấp nhiệt đới khác đổ bộ vào khu vực Phú Yên và được đánh giá "diễn biến không như quy luật hằng năm", gây mưa 184mm tại Quảng Ngãi.[53] Bão kết hợp nhiễu động gió Đông gây mưa 102mm tại Quảng Trị, 103mm tại Đà Nẵng.[54]
    • Theo bài "Tình hình Đông Dương" của Nguyễn Ái Quốc, "vào tháng 10, nhiều tỉnh đã bị lụt và bão tàn phá. Những sự thiệt hại không được rõ, Chính phủ không muốn cho biết điều này. Theo những thông tin cá nhân thì có những nơi có tới nửa số dân chết đuối hay chết đói".[55]
  • Năm 1928 ghi nhận các cơn bão ngày 15-16 tháng 7 (Bắc Kỳ, tâm đi qua phía Nam Phù Liễn), ngày 21 tháng 7 và ngày 3 tháng 10 (các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình), trong đó cơn bão ngày 16 tháng 7 gây thiệt hại nghiêm trọng tại Bắc Kỳ.[1]
  • Năm 1929 ghi nhận 17 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ở biển Đông.[56]
    • Các cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ Việt Nam: ngày 30 tháng 7 (Hải Phòng), ngày 20 tháng 8 (Thái Bình), các ngày 2, 6 và 21 tháng 9 ở các tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh; ngày 10 tháng 10 ở Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng; ngày 18 tháng 10 ở Phú Yên (giữa Quy Nhơn và Nha Trang) và ngày 16 tháng 11 tại Quảng Ngãi. Đầu tháng 12 có một cơn bão đi qua bán đảo Cà Mau.[56]
    • Đáng chú ý nhất là ngày 30 tháng 7 năm 1929, một trận bão lớn đổ bộ vào vùng Đồng Bằng Bắc Kỳ, điểm đặc biệt là tính đột ngột của bão, khi đi đến vùng biển phía Đông Móng Cái đổi hướng Tây Nam, tâm đi qua phía Nam Phù Liễn, khí áp mực nước biển đo được ở Phù Liễn là 739,8 mmHg (986,3 hPa).[56] Trận bão gây ra thiệt hại đáng kể ở các địa phương như Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Phủ Lý, Nam Định, Ninh Bình và Thanh Hóa.[57] Tại Hải Phòng, bão ảnh hưởng nặng nề nhất đến khu nghỉ mát ven biển Đồ Sơn, một số tòa nhà bị tốc mái, hầu hết các biệt thự bị hư hại nghiêm trọng và nhiều cây cối bị đốn hạ, thuyền của ngư dân mặc dù được che chắn nhưng vẫn bị sóng đánh trôi và vỡ tan trên bờ. Một tàu hải quan mang tên "Espadon" đã bị mất tích trên biển, cả người và tài sản. Tỉnh Kiến An có 187 người chết, 1.860 ngôi nhà bị lật, 14 nhà thờ, 8 chùa chiền và 6 trường học bị phá hủy, hơn 23.000 ha ruộng lúa bị tàn phá, 76 thuyền nan bị chìm. Tuyến đường từ Hải Dương đi Hải Phòng bị ngập ở nhiều điểm. Ở Thái Bình và Nam Định, các công trình hành chính, nhà cửa, nhà máy đều bị hư hại nghiêm trọng hoặc sập, đặc biệt là bệnh viện; tất cả các túp lều rơm đều bị san phẳng, nhiều cây bị bật gốc; tuyến đường sắt đã bị cắt; riêng tại Nam Định, bão đã làm 32 người ở xã Đông Bình tử vong, phát hiện 10 thi thể trôi dạt vào bờ sông Hồng; một nhà truyền giáo người Tây Ban Nha đã chết ngạt dưới đống đổ nát của giáo xứ của ông ở Trung Linh; thiệt hại gây ra cho các tòa nhà Cotonnière ở thành phố Nam Định được cho là lên tới 100.000 piastres. Ở Ninh Bình, nhà ở của người dân bản địa và ruộng lúa cũng bị thiệt hại nghiêm trọng do ngập lụt.[31][56] Nhiều tuyến đường sắt bị hư hại, gián đoạn.[58] Theo Đại tướng Mai Chí Thọ, "trận bão lụt khủng khiếp tàn phá đồng bằng Bắc Bộ, quê hương tôi, làm sập đổ 99% nhà cửa, cuốn trôi sạch mùa màng, cây trái".[59] Cơn bão ngày 20 tháng 8 cũng gây một số thiệt hại cho vùng Văn Lý - Lạc Quần (Nam Định).[60]
  • Năm 1930 ghi nhận 2 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam.
    • Cơn bão đầu tiên đổ bộ vào Hải Phòng ngày 29 tháng 9.[61]
    • Đáng chú ý là cơn bão thứ hai đổ bộ vào Cà Mau ngày 5 tháng 11 năm 1930, trước đó đã tàn phá Côn Đảo, tại đây nhà tù xây dựng từ thế kỷ 18 bị sập (trại giam Sở Lưới). Số người chết lên tới 48, bao gồm một lính canh bản địa và 47 tù nhân. 2 thủy thủ bản địa, 40 tù nhân bị thương nặng; bị thương: 3 người Pháp và 60 tù nhân bị thương (theo cuốn "Huyền thoại Côn Đảo" thì 75 tù khổ sai tử thương).[61][62] Thiệt hại đối với nhà tù rất lớn. Tất cả các tòa nhà đều bị tốc mái; các xưởng và đồn điền bị phá hủy.[61] Theo Tạp chí Cộng sản, tính từ đầu năm 1930 đến sau bão, nghĩa địa Hàng Dương đã vùi xác 311 tù nhân, chiếm tỷ lệ cao nhất trong số tù nhân chết của các nhà tù Đông Dương.[63] Cơn bão cũng đã tàn phá Cà Mau trên diện tích khoảng 75 km từ bắc xuống nam và 100 km từ đông sang tây. Ông báo cáo có một số người chết và một số lượng đáng kể người bị thương.[61]
  • Năm 1931, có hai cơn bão nhưng cường độ không mạnh. Một ở Nghệ An ngày 4 tháng 10 (đáng chú ý trong cơn bão này thì Vinh ghi nhận gió giật 30 m/s) và một cơn bão đổ bộ Quảng Ngãi ngày 10 tháng 10.[64] Riêng đối với trận bão tại Nghệ An, theo lưu truyền thì khoảng ngày 18 tháng 8 âm lịch Tân Mùi, có một cơn bão nhấn chìm hầu như toàn bộ thuyền bè đánh bắt ngoài khơi, làng chài Diêm Phố (Hậu Lộc, Thanh Hóa) có 344 người tử nạn do bão,[65] trong khi tài liệu của cơ quan khí tượng Đông Dương thì có bão vào ngày 4 tháng 10 năm 1931 rơi vào 23 tháng 8 âm lịch năm Tân Mùi (không rõ có sự liên quan nào hay không).
  • Năm 1932
    • Trận bão đáng chú ý nhất diễn ra ngày 4 tháng 5 năm 1932, một trận bão lớn đổ bộ vào Mũi Dinh (Ninh Thuận) và tại đây ghi nhận áp suất 714 mmHg (951 hPa), song số liệu này đo thủ công và còn nhiều nghi ngờ. Thiệt hại là đáng kể, đặc biệt là ở các vùng Dran, Phan Rí, Phan Rang. Bão đã gây ra lượng mưa rất lớn trên toàn Nam Trung Bộ và cả Nam Kỳ tại Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu). Ở Nha Trang, ghi nhận mưa lớn 230mm. Tại Phan Rang, lũ lụt sau cơn bão đã gây ngập lụt ở trung tâm đô thị vào sáng ngày 4 tháng 5, nơi này bị cô lập hoàn toàn và thiệt hại rất lớn. Tại Đà Lạt, mưa lũ lớn và ngập lụt nhiều cây cầu bị cuốn trôi và đê của hai hồ Đà Lạt bị vỡ đã góp phần lớn vào việc làm biến mất ngôi làng Dran, nơi có 2 người Pháp và 65 người bản xứ chết đuối.[66][67][68] Theo tờ Sài Gòn, Phan Rí "tan hoang hết, không còn một nóc nhà tranh nào đứng được"; tổng cộng bão đã làm đến 800 người chết.[69] Sau cơn bão này 2 tuần, đêm 19 rạng sáng 20 tháng 5 năm 1932 một cơn bão nhỏ/áp thấp nhiệt đới đã đổ bộ vào Móng Cái (Quảng Ninh), nhưng không có gì đáng chú ý.[68][70][31]
    • Trong phần thời gian còn lại của năm 1932 ghi nhận một số cơn bão khác: ngày 23 tháng 7 (đổ bộ Thanh Hóa - Nghệ An), ngày 17 tháng 9 (vào biên giới Việt Nam và Trung Quốc); ngày 24 tháng 9 (Bắc Kỳ), ngày 16 tháng 10 và ngày 25 tháng 10 (ở Bình Định - Phú Yên); ngày 1 tháng 11 (ở Quảng Trị đến Đà Nẵng).[68][31]
  • Năm 1933 có hai trận bão đáng chú ý:
    • Ngày 3 tháng 10 năm 1933, có một cơn bão đổ bộ vùng đồng bằng Bắc Kỳ ở Hải Phòng và Thái Bình (tâm bão đi qua phía Nam của Hải Phòng, và cũng được cho là có đi qua đài khí tượng Phù Liễn) gây sức gió 37 m/s tại trạm Phù Liễn; vận tốc gió [giật] tối đa trong cơn bão có thể lên đến 45–50 m/s; được xem là "cơn bão lớn nhất trong 40 năm qua tính ở thời điểm này [tháng 10] hằng năm tại Bắc Kỳ".[71] Tờ Sài Gòn ngày 5 tháng 10 năm 1933 dùng từ "bão lớn" trong nhan đề khi nói về trận bão này ở Hà Nội, kèm nhận xét "hư hại nhiều lắm";[72] và trong số báo ngày hôm sau (6 tháng 10) cho biết "các tỉnh bị thiệt hại nhà cửa, cây cối và đường xá rất nhiều".[73] 60 người chết đuối hoặc mất tích, 500 thuyền buồm hoặc thuyền tam bản bị đánh chìm hoặc phá hủy, 50% diện tích mất mùa, tất cả các tòa nhà công cộng hoặc tư nhân ít nhiều bị hư hại. Mưa rất lớn trên khắp Bắc Bộ gây lũ quét ở nhiều con sông và gây ngập lụt một số đô thị.[71] Thiệt hại được ghi nhận trên toàn vùng đồng bằng ven biển Bắc Kỳ mà nghiêm trọng nhất ở Hải Phòng, Kiến An và Thái Bình.[74] Khí áp thấp nhất đo được tại Phù Liễn trong cơn bão này là 964,6 hPa.[30]
    • Chưa đầy 1 tháng sau trận bão ở Bắc Kỳ, ngày 1 tháng 11 năm 1933, một trận bão mạnh khác đổ bộ vào Quy Nhơn,[75] Phan Bội Châu miêu tả cảnh tượng "tang thương", "như bãi chiến trường" trong bài thơ "Sau trận bão Quy Nhơn".[76] Trong cơn bão này Đài khí tượng Đông Dương cho biết khí áp thấp nhất ghi nhận tại trạm Quy Nhơn là 708 mmHg (944 hPa), tuy nhiên giá trị khí áp này đo bằng phương pháp thủ công, và còn nhiều nghi ngờ.[31][71] Theo Hà Thành ngọ báo, tại Phú Yên có 212 người chết do bão,[77] tổng số người chết trong cơn bão này ước tính trên 300 người.[78] Đáng chú ý, cơn bão có khuynh hướng đi dọc bờ biển và ghi nhận lần cuối ở Hà Tĩnh.[71] Selga mô tả "cơn bão nghiêm trọng nhất ở Đông Dương trong 11 năm".[31]
    • Có ba cơn bão khác đổ bộ vào Việt Nam: ngày 31 tháng 7 (Nghệ An), ngày 15 tháng 9 (Ninh Thuận) và ngày 28 tháng 10 (Quảng Nam, khí áp Đà Nẵng 749,3 mmHg tức 999 hPa).[71][31]
  • Năm 1934
    • Vào ngày 24 tháng 10 năm 1934, một cơn bão đổ bộ vào khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị. Cường độ cơn bão này được cho không phải là mạnh nhưng lại gây ra một đợt mưa lũ rất lớn tại các tỉnh Bắc Trung Kỳ. Tổng lượng mưa tại Đồng Hới ghi nhận trong đợt mưa này lên đến 600mm, tại Tư Dung (nay thuộc Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) có tổng lượng mưa 1224mm trong 36 giờ, "là lượng mưa lớn nhất được quan sát thấy kể từ năm 1907 trong chuỗi số liệu mưa của Đông Dương". Lũ lụt diễn ra trên diện rộng, nhà cửa ngập sâu, giao thông chia cắt, điện nước gián đoạn, hoa màu ngập úng cùng rất nhiều gia súc, gia cầm bị lũ cuốn trôi. Đoạn đường sắt đi qua địa phận Hà Tĩnh bị hư hỏng toàn bộ: đường ray bị gãy, biến dạng hoặc bị dịch chuyển, đá dăm bị rỗng; có những nơi bị ngập, nứt, hao mòn. Có 3 cây cầu bị sập. 428 người được cho là đã thiệt mạng (tại tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Đồng Hới) trong đợt mưa lũ này. Thiệt hại tại Hà Tĩnh ít nhất khoảng 800.000 piastres, chi phí cải tạo đường sắt mất ít nhất 100.000 piastres.[79][80] Một phong trào ủng hộ đồng bào bão lụt lớn đã diễn ra khắp Đông Dương lúc bấy giờ.[80] Trước đó, bão cũng được cho là không quá mạnh nhưng gây ra mưa lũ lớn cho Philippines từ 19 đến 21 tháng 10. Tại Naga, trận mưa lũ "một trong những trận lũ tồi tệ nhất trong lịch sử". Nhiều nơi Philippines mưa lớn ngập sâu, mùa màng mất trắng và thiệt hại ít nhất 4 triệu peso.[31]
    • Một số cơn bão khác đổ bộ: ngày 3 tháng 7 (Nghệ An), ngày 16 tháng 9 (Hà Tĩnh), ngày 29 tháng 9 (Đồng Hới), ngày 2 tháng 10 (Quảng Ninh) và ngày 5 tháng 11 (khu vực Mũi Đại Lãnh - Varella).[79] Trận bão ngày 29 tháng 9 tại Đồng Hới ghi nhận trị số khí áp 977,9 hPa.[81] Trận bão ngày 2 tháng 10 năm 1934 đổ bộ Móng Cái, Hòn Gai cũng gây một số thiệt hại.[82][83]
  • Năm 1935 ghi nhận một số cơn bão: ngày 10 tháng 9 tại Hà Tĩnh, ngày 20 tháng 9 tại Quảng Bình, ngày 12 và 13 tháng 10 tại Quảng Trị và ngày 11-12 tháng 12 tại Quảng Ngãi - Quy Nhơn, trận bão vào tháng 12 được coi là "đặc biệt", "là lần đầu tiên kể từ khi Cơ quan Khí tượng Đông Dương bắt đầu theo dõi bão, một cơn bão được ghi nhận hình thành vào tháng 12 ở vĩ độ cao như vậy ở đại dương và đổ bộ vào bờ biển An Nam".[84]
  • Năm 1936 ghi nhận một số cơn bão: ngày 21 tháng 7 tại Hà Tĩnh, ngày 14 tháng 8 tại Quảng Ninh (cách Móng Cái 25km về phía Tây Nam, tương đương vùng Tiên Yên) và ngày 28 tháng 8 tại Ninh Bình (vùng Phát Diệm - Kim Sơn).[85][86][87] Cơn bão ngày 28 tháng 8 gây mưa, lũ ở Bắc Bộ và gây ra một vụ sạt lở đất nghiêm trọng ở Bắc Kạn (tuyến đường quốc lộ 3), cách Thái Nguyên 103 km.[88]
  • Năm 1937, ghi nhận 3 cơn bão tấn công phía bắc An Nam giữa Thanh Hóa và Đồng Hới (ngày 19 tháng 7, ngày 29 tháng 8 và 21 tháng 9); hai cơn tấn công phía nam An Nam, ở vùng Varella (mũi Đại Lãnh, thuộc Phú Yên) và một cơn tan dần ngoài khơi Padaran (Mũi Dinh, Ninh Thuận).[89]
    • Đáng chú ý nhất vào cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1937, có một số cơn bão đổ bộ vào Bắc Trung Kỳ: Đồng Hới (ngày 29 tháng 8); Thanh Hóa, Nghệ An (cơn ngày 21 tháng 9) đồng thời có một số cơn bão đổ bộ vào miền nam Trung Quốc: Quảng Tây (22 tháng 8), Hồng Kông (ngày 2 tháng 9), sau đều di chuyển về biên giới Việt-Trung, gây ra mưa lớn cho các tỉnh Bắc Kỳ, Bắc Trung Kỳ.[89] Các trận mưa lớn dồn dập khiến nước sông lên cao, nhưng không có bất kỳ cảnh báo lũ nào. Lũ lụt xảy ra nghiêm trọng, 40 vạn dân lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, báo chí truyền thông Đông Dương đưa tin rất nhiều.[90] 148.000 hecta ruộng lúa thuộc các tính Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, Sơn Tây, Phú Thọ và Phúc Yên đều bị lũ ngập.[91] Trong trận bão ngày 21 tháng 9 đổ bộ vào phía Nam của tỉnh Thanh Hóa, Phù Liễn đã ghi nhận gió mạnh 30m/s (cấp 11) lúc 9 giờ sáng (giờ Đông Dương).[89][92]
    • Ngày 21 tháng 10 và 13 tháng 11 có hai cơn bão đổ bộ khu vực Quy Nhơn - Mũi Đại Lãnh (Varella) gây mưa lớn.[89]
  • Năm 1938
    • Ngày 27 tháng 8 năm 1938 có một cơn bão đổ bộ Bắc Kỳ (Quảng Ninh).[93][94] Ngày 13 tháng 9 năm 1938 tiếp tục ghi nhận một cơn bão khác đổ bộ vào các tỉnh Hải Phòng - Nam Định gây gió mạnh cấp 7.[30]
    • Vào đầu tháng 10 có 2 trận bão liên tiếp đổ bộ Bắc Kỳ ngày 5 (ở Hải Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng) và 8 tháng 10. Trong đó trận bão ngày 8 tháng 10 đổ bộ vào Kiến An và Quảng Yên (nay là Quảng Ninh và Hải Phòng; tâm bão qua phía Quảng Yên ở khu vực Cẩm Phả),[95] khí áp thấp nhất của nó ghi nhận là 970,2 hPa tại trạm Phù Liễn, và cho biết giá trị này "tiệm cận mức thấp nhất được ghi nhận từ trước đến nay" (se rapprochant du minimum enregistré à ce jour). Bão gây gió mạnh cấp 12 trên phạm vi rộng (Phù Liễn ghi nhận gió mạnh trên 33 m/s), ảnh hưởng mạnh toàn Bắc Kỳ, thậm chí đến cả Lạng Sơn hay Thái Nguyên.[30] Báo chí Đông Dương đương thời mô tả đây là trận bão rất "khủng khiếp", gây thiệt hại nặng cho vùng Bắc Kỳ, cây đổ nhiều nơi, giao thông tê liệt hoặc gián đoạn, lúa bị giập ngã khi đang giai đoạn giỗ bông.[95][96][97] Mưa rất lớn trong các ngày 8 đến 10 tháng 10 năm 1938 ở Bắc Kỳ, bao gồm Hà Nội gây ngập lụt nhiều nơi.[30][97]
    • Cuối năm 1938, liên tiếp ghi nhận bão ở các tỉnh phía Nam An Nam (Nam Trung Bộ). Ngày 26 tháng 9 một cơn bão đổ bộ vào vùng Bồng Sơn (Bình Định) - Quảng Ngãi. Đặc biệt là chuỗi bão và áp thấp nhiệt đới cuối tháng 10 đến đầu tháng 12: bão ngày 24 tháng 10 tại Nha Trang - Mũi Dinh, áp thấp nhiệt đới ngoài khơi Nam Trung Bộ 3-5 tháng 11, bão ngày 13 tháng 11 (vùng biển ngoài khơi Mũi Dinh), bão ngày 27 tháng 11 (vùng biển Quy Nhơn), bão ngày 2 tháng 12 (bắc Nha Trang) và ngày 10 tháng 12 (giữa Quy Nhơn và Bồng Sơn, thuộc Bình Định); những cơn bão này gây ra mưa lũ kéo dài tại Nam Trung Bộ giai đoạn kể trên.[30]
  • Năm 1939 ghi nhận các cơn bão: ngày 20 tháng 8 ở Thanh Hóa - Nghệ An, ngày 24 tháng 8 ở Nam Định - Thanh Hóa, ngày 19 tháng 9 ở Nghệ An - Quảng Bình, ngày 30 tháng 9 ở Đà Nẵng - Quảng Nam và ngày 24 tháng 10 ở Quảng Ngãi, các cơn bão đều không quá mạnh.[30]
  • Năm 1940, ngày 24 tháng 8 ghi nhận một cơn bão ở Thanh Hóa - Nghệ An.[98]
  • Ngày 11 tháng 10 năm 1942, một trận bão lớn khác đổ bộ vào vùng Đồng bằng Bắc Kỳ với cường độ được cho là rất mạnh, bão đi qua địa phận tỉnh Bắc Giang (theo các cụ già kể lại, bão gây gió giật mạnh làm cuốn cả cối đá để ngoài sân).[99] Theo tờ Sài Gòn phản ánh, ở Hải Phòng "cây cối ở các phố ngã la liệt", "trận gió này tuy mưa ít nhưng mạnh gấp bội lần trước"; còn tại Hải Dương "mưa như trút nước", gió bão to "làm bay mái hiên ở các nhà trong phố".[100] Toàn Bắc Kỳ có 207 người chết do bão, riêng tỉnh Thái Bình có 62 người chết, trong đó 52 người chết do nước biển tràn vào.[101]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b "Annales du Service Météorologique - Annee 1928" (PDF).
  2. ^ Trịnh Vĩnh Thường (2024), Lịch sử Cơ đốc giáo Việt Nam thế kỷ 16-19, Nhà Xuất bản Hồng Đức, tr. 101
  3. ^ a b c "Nhìn lại những trận bão kinh hoàng trong lịch sử". Báo Công an nhân dân. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
  4. ^ a b c "Những cơn bão lớn đi qua Hà Nội trong quá khứ". Trung tâm lưu trữ Quốc gia 1. ngày 8 tháng 9 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
  5. ^ Đồng Lộc (ngày 2 tháng 11 năm 2017). "Những trận bão chết chóc nhất châu Á từ thập niên 1970". Báo Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
  6. ^ "Đại Nam thực lục tập 9" (PDF). sugia.vn.
  7. ^ "L'Avenir du Tonkin, 20 Juliet 1889, Le Typhon".
  8. ^ "Xứ Đông Dương - Paul Doumer - bản dịch tiếng Việt 2022" (PDF).
  9. ^ "L'Avenir du Tonkin, 12 novembre 1899 (LA TEMPÊTE DU 9 NOVEMBRE À HAIPHONG)".
  10. ^ "FEARFUL TYPHOON". ngày 15 tháng 12 năm 1900 – qua Trove.
  11. ^ The Statistician and Economist
  12. ^ "Monthly Bulltein 1902". Philippines Weather Bureau. 1903.
  13. ^ "Monthly Bulltein 1903". Philippines Weather Bureau. 1904.
  14. ^ "Ảnh Ký ức Lịch sử (kỳ 65): Những trận bão hơn 1 thế kỷ trước". Thể Thao Văn Hóa. ngày 10 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
  15. ^ thanhnien.vn (ngày 8 tháng 3 năm 2024). "Tìm lại dấu xưa: 'Năm Thìn bão lụt' qua các tư liệu xưa". thanhnien.vn. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  16. ^ VnExpress. "Chuyện ít biết về cơn bão từng làm chết 3.000 người ở Sài Gòn". vnexpress.net. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  17. ^ Công Hằng (ngày 19 tháng 9 năm 2024). "Sách xưa đã nói đến một năm Thìn bão lụt 1844". Báo Công giáo và Dân tộc. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2025.
  18. ^ Đông Phương (ngày 12 tháng 2 năm 2024). "Chuyện từ… "hồi năm Thìn bão lụt!"". Báo Vĩnh Long. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2025.
  19. ^ "Những trận bão lụt kinh hoàng trong lịch sử". Báo Kinh tế Đô thị. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
  20. ^ a b c d e f g "Đại Nam thực lục tập cuối", NXB Giáo dục
  21. ^ a b c "Modèle de rapport - 1906 - CHAPITRE V - GROUPE DES MISSIONS DU TONKIN" (PDF).
  22. ^ "Monthly Bulletin 1905". Philippines Weather Bureau. 1906.
  23. ^ "L'Avenir du Tonkin". ngày 2 tháng 10 năm 1905.
  24. ^ a b "L'Avenir du Tonkin". ngày 30 tháng 9 năm 1905. tr. 1–2
  25. ^ a b "L'Avenir du Tonkin". ngày 1 tháng 10 năm 1905. tr. 3
  26. ^ "Những trận " Đại Hồng Thủy " ở Bắc Kỳ". Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I. ngày 11 tháng 6 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2024.
  27. ^ Đảng ủy phường Văn Đẩu (2018), Lịch sử Phong trào Cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân phường Văn Đẩu - Kiến An - Hải Phòng (PDF), Hải Phòng: Nhà xuất bản Hải Phòng, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2025. Trong sách có câu "Trận bão năm Ất Tỵ (1905), ngập lụt làm đình làng xuống cấp".
  28. ^ "Monthly Bulltein 1906". Philippines Weather Bureau. 1907. tr. 248
  29. ^ a b c d "Monthly Bulltein 1909". Philippines Weather Bureau. 1910.
  30. ^ a b c d e f g Climatologie 1938 et 1939 (PDF), Đài Khí tượng Đông Dương, 1940, truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2025
  31. ^ a b c d e f g h i j k l "The Selga Chronology, 1901-1934". Đại học Complutense Madrid. ngày 9 tháng 8 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2025.
  32. ^ "Bão trên Biển Đông". VUSTA. ngày 22 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2025.
  33. ^ a b c Monthly Bulletins (bằng tiếng Anh). Cục Thời tiết Philippines. 1910. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2025.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngày tháng và năm (liên kết)
  34. ^ "Công nhận cây di sản Việt Nam ở Quảng Ngãi". Dân Trí. ngày 16 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2025.
  35. ^ Humanities, National Endowment for the (ngày 29 tháng 11 năm 1912). "The evening world. [volume] (New York, N.Y.) 1887-1931, November 29, 1912, Night Edition, Image 2". tr. 2. ISSN 1941-0654. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2022.
  36. ^ "15,000 Die in Philippine Storm". Washington Herald. ngày 30 tháng 11 năm 1912. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2013.
  37. ^ Diola, Camille. "1912 reports on Tacloban storm 'killing' 15,000 resurface". Philstar.com. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2022.
  38. ^ "Monthly Bulltein 1912". Philippines Weather Bureau. 1913.
  39. ^ "Hình ảnh Đức Giám Mục giáo phận thăm viếng và ban bí tích thêm sức tại giáo xứ Cây Vông". Giáo phận Nha Trang. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2025.
  40. ^ a b "Monthly Bulltein 1913". Philippines Weather Bureau. 1914. tr. 221–225, 272, 273
  41. ^ "Các trận lũ lụt, ngập úng điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2008.
  42. ^ "Monthly Bulletins 1915". Philippines Weather Bureau. 1916. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
  43. ^ "Monthly Weather Bulletins Philippines 1916, p. 197".
  44. ^ "Monthly Weather Bulletins 1919". Philippines Weather Bureau. tr. 169, 171, 213, 214, 215.
  45. ^ "Monthly Weather Bulletins Philippines 1920". tr. 145, 148, 179, 180, 215, 217.
  46. ^ "Monthly Weather Buttleins 1921". Philippines Weather Bureau. 1922. tr.199-200
  47. ^ Philippines Weather Bureau 1922, sđd, tr.200, 203
  48. ^ Philippines Weather Bureau (1925). Monthly Weather Bullteins 1924
  49. ^ "L'Avenir du Tonkin 27 August 1924".
  50. ^ Hoạt động cứu trợ bão lũ 100 năm trước Znews
  51. ^ a b "L'Avenir du Tonkin, 6 tháng 10 năm 1924".
  52. ^ a b "L'Avenir du Tonkin 8 Octobre 1924".
  53. ^ "L'Avenir du Tonkin, 24 Octobre 1924".
  54. ^ "L'Avenir du Tonkin 25 Octobre 1924".
  55. ^ "Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2 (1924-1929)" (PDF). Nhà xuất bản CTQG Sự thật. 2011. tr. 11
  56. ^ a b c d "Climatologie 1929" (PDF). Đài khí tượng Đông Dương. 1930.
  57. ^ "L Avenir du Tonkin, 31 Juliet 1929, Les dégâts causés par les typhons".
  58. ^ "Trận bão vừa rồi làm thiệt hại những đâu?". Hà Thành Ngọ Báo 1/8/1929.
  59. ^ cand.com.vn. "Vĩnh biệt Đại tướng Mai Chí Thọ, nguyên Bộ trưởng Bộ Công an". Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2025.
  60. ^ "Tin Bão". Thực nghiệp dân báo 21/8/1929.
  61. ^ a b c d "Annals 1930" (PDF).
  62. ^ "Huyền thoại Côn Đảo" (PDF). NXB Thông tấn xã Việt Nam.
  63. ^ "Tôn Đức Thắng và cuộc đấu tranh trong ngục tù Côn Đảo (1930-1945)". Tạp chí Cộng sản.
  64. ^ "Annale 1931" (PDF).
  65. ^ Trí, Dân (ngày 11 tháng 12 năm 2013). "Ngôi miếu thờ 344 ngư dân tử nạn sau một cơn bão". Báo điện tử Dân Trí. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  66. ^ "Ngày 2, 3, 4 Mai 1932. Một trận mưa bão ngất trời đã tàn phá một miền nam bộ xứ Trung Kỳ suốt từ ba ngòi đến Phan Thiết". Hà Thành Ngọ Báo, Số 1423. ngày 30 tháng 5 năm 1932.
  67. ^ Nguyễn Vĩnh Nguyên (ngày 4 tháng 9 năm 2022). "Đà Lạt và chuyện... lũ lụt trong lịch sử". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
  68. ^ a b c "Climatologie - Année 1932" (PDF). Đài Khí tượng Đông Dương. 1933.
  69. ^ "Sài Gòn, Số 56". ngày 8 tháng 5 năm 1932.
  70. ^ "L'Avenir du Tonkin". ngày 20 tháng 5 năm 1932. tr.2
  71. ^ a b c d e Climatologie 1933 (PDF), Đài Khí tượng Đông Dương, 1933, truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2025
  72. ^ "Hà Nội có bão lớn !". Báo Sài Gòn số 129. ngày 5 tháng 10 năm 1933.
  73. ^ "Về trận bão ở Bắc kỳ: ở Hải Phòng có hai người thiệt mạng và mấy người bị thương. Ở Sơn tây có 8 người chết và ở Bắc Ninh có một người". Sài Gòn, số 130. ngày 6 tháng 10 năm 1933.
  74. ^ "L'Avenir du Tonkin". ngày 6 tháng 10 năm 1933.
  75. ^ "Chuyện chưa kể về trại phong Quy Hòa - Kỳ 1: Vùng biệt lập của những người cùi". Báo Gia Lai điện tử. ngày 28 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2024.
  76. ^ Bài thơ "Sau trận bão Quy Nhơn". Phan Bội Châu, 1933.
  77. ^ "Hà Thành ngọ báo 10 Tháng Mười Hai 1933". Thư viện Quốc gia Việt Nam. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2025.
  78. ^ "Ngoài 3 trăm người chết trong trận bão lụt ngày 1er Nov ở Trung Kỳ". Hà Thành ngọ báo số 1580. ngày 10 tháng 11 năm 1933.
  79. ^ a b "Année 1934" (PDF). Đài khí tượng Đông Dương. 1935.
  80. ^ a b "Cơn bão tháng 10 năm 1934 tại miền Trung 90 năm nhìn lại". Sở KHCN Nghệ An. ngày 15 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  81. ^ Nguyễn Đức Ngữ; Nguyễn Trọng Hiệu (2013), Chuyên khảo Khí hậu Việt Nam (PDF), Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2025
  82. ^ "Tối nay có bão thổi qua Hanoi". Hà Thành Ngọ báo.
  83. ^ "Bão tại Vịnh Bắc Kỳ".
  84. ^ "Annals 1935" (PDF).
  85. ^ "Annals 1936" (PDF).
  86. ^ "L Avenir du Tonkin 14/8/1936 - un typhoon".
  87. ^ "L Avenir du Tonkin 28/8/1936 - Typhon".
  88. ^ "L'Avenir du Tonkin 29/8/1936 - Les Crues".
  89. ^ a b c d "L'Annee 1937" (PDF). Khí tượng Đông Dương. 1938.
  90. ^ "Hội đồng cứu tế nạn dân Bắc Kỳ tại Huế, nghĩa tình đồng bào trong cơn hoạn nạn - Tạp chí Sông Hương". tapchisonghuong.com.vn. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  91. ^ Nam, Báo Pháp Luật Việt (ngày 12 tháng 12 năm 2019). "Nguồn cơn nạn đói kinh hoàng khiến gần 2 triệu người chết năm Ất Dậu". Báo Pháp Luật Việt Nam. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  92. ^ Reverend Bernard F. Doucette (1937). "Typhoons and Depressions over the Far East, September 1937" (PDF). Monthly Weather Review. 65 (9): 350–351. Bibcode:1937MWRv...65..350D. doi:10.1175/1520-0493(1937)65<350:TADOTF>2.0.CO;2. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  93. ^ "L'Avenir du Tonkin, 27 Aout 1938".
  94. ^ "1938 UNNAMED (1938236N18117)".
  95. ^ a b "L'Avenir du Tonkin". ngày 13 tháng 10 năm 1938. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2025. tr.2
  96. ^ "Trận bão vừa qua tại Quảng Yên". Trung Hòa Nhật Báo. ngày 13 tháng 10 năm 1938.
  97. ^ a b "L'Avenir du Tonkin". ngày 10 tháng 10 năm 1938. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2025. tr. 2–5
  98. ^ "L'Avenir du Tonkin, 25/8/1940, "Bulletin Météorologique", p.5".
  99. ^ Hoàng Mạnh Thường (ngày 16 tháng 1 năm 2013). "Năm 2012: Bão xuất hiện bất thường và có đường đi kỳ dị". Sở TNMT Hà Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
  100. ^ "Suốt cả ngày 11 Octobre, Hai Phong vùi trong trận gió táp mưa sa". Báo Sài Gòn số 15190. ngày 20 tháng 10 năm 1942.
  101. ^ "Theo một bản thống kê chánh thức, 207 người chết trong trận bão ở Bắc vừa qua". Dân Báo, số 1015. ngày 16 tháng 11 năm 1942.