Dani Ceballos

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Dani Ceballos
CSKA-RM18 (10).jpg
Ceballos trong màu áo Real Madrid năm 2018
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Daniel Ceballos Fernández[1]
Ngày sinh 7 tháng 8, 1996 (23 tuổi)[2]
Nơi sinh Utrera, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,79 m[3]
Vị trí Tiền vệ trung tâm
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Arsenal
(mượn từ Real Madrid)
Số áo 8
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2004–2009 Sevilla
2009–2011 Utrera
2011–2014 Betis
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2014–2017 Betis 98 (7)
2014 Betis B 4 (0)
2017– Real Madrid 35 (5)
2019–Arsenal (mượn) 7 (1)
Đội tuyển quốc gia
2014–2015 U-19 Tây Ban Nha 13 (0)
2015–2019 U-21 Tây Ban Nha 29 (8)
2018– Tây Ban Nha 9 (1)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 30 tháng 9 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 15 tháng 10 năm 2019

Daniel Ceballos Fernández (phát âm tiếng Tây Ban Nha[ˈdani θeˈβaʎos]; sinh ngày 7 tháng 8 năm 1996) là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Tây Ban Nha, hiện đang chơi cho Arsenal theo dạng cho mượn từ Real Madrid, và đội tuyển Tây Ban Nha ở vị trí tiền vệ trung tâm.

Sự nghiệp cấp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Betis[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra ở Utrera, một tỉnh của Seville, Ceballos gia nhập đội trẻ của Sevilla vào năm 2004 lúc 8 tuổi, nhưng bị trả về năm 2009 vì viêm phế quản mãn tính.[4] Sau đó anh chơi cho câu lạc bộ ở địa phương CD Utrera, và hoàn thành khóa học ở Real Betis sau khi đăng ký vào năm 2011;[5] anh đã ký hợp đồng chuyên nghiệp với câu lạc bộ này vào ngày 22 tháng 2 năm 2014, khi vẫn ở tuổi thiếu niên.[6]

Ngày 26 tháng 4 năm 2014, bỏ qua giai đoạn chơi cho đội B, Ceballos đã chơi trận chính thức đầu tiên cho đội bóng vùng Andalusians, vào thay người những phút cuối trận thua 0–1 tại La Liga trên sân nhà, trước Real Sociedad.[7] Anh ghi bàn đầu tiên trong sự nghiệp vào ngày 21 tháng 12, đó là bàn mở tỷ số trong trận thắng 2–0 trên sân nhà trước Racing de Santander tại giải Segunda División;[8] anh ra sân 33 trận và ghi 5 bàn cho đội bóng vùng Verdiblancos tại giải, giúp họ trở lại La Liga[9]

Ngày 15 tháng 20 năm 2015, sau quá trình dài đàm phán, Ceballos đã gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ đến năm 2020.[10] Anh ghi bàn đầu tiên tại La Liga ngày 16 tháng 4 năm 2017, đó là bàn ấn định tỷ số 2–0 trên sân nhà trước SD Eibar.[11]

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Real Madrid thông báo đã ký hợp đồng có thời hạn 6 năm với Ceballos,[12] với mức phí chuyển nhượng 18 triệu euro.[13] Anh ra sân lần đầu cho Madrid ngày 16 tháng 8, thay người cho Toni Kroos ở phút 80 trong trận đấu lượt về tại giảiSiêu cúp Tây Ban Nha, đó là trận thắng 2–0 trên sân nhà trước FC Barcelona.[14] Ngày 23 tháng 9, anh lần đầu đá chính, ghi bàn trong trận thắng 2–1 trên sân Deportivo Alavés.[15]

Ceballos ra sân 4 lần tại Champions League 2017–18,[16] giải đấu mà Madrid vô địch lần thứ 13[17] Ngày 13 tháng 1 năm 2019, sau 15 phút liên tục bị người hâm mộ của đội bóng cũ la ó, anh đã ghi bàn từ pha đá phạt trực tiếp vào phút cuối, giúp Real Madrid thắng 2–1 trước Betis tại Estadio Benito Villamarín.[18]

Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 25 tháng 7 năm 2019, Ceballos gia nhập Arsenal theo hợp đồng cho mượn. Ceballos mang áo số 8, trước kia thuộc sở hữu của Aaron Ramsey, sau khi đã chuyển đến Juventus.[19][20] Ceballos cũng từng được Tottenham Hotspur liên hệ, nhưng đã quyết định chọn Arsenal, sau khi trao đổi với huấn luyện viên trưởng của Arsenal, Unai Emery.[21][22]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 11 năm 2014, Ceballos được triệu tập vào đội tuyển U-19 Tây Ban Nha,[23] ra sân ở trận gặp U-19 Đức, U-19 Pháp[24] và U-19 Hy Lạp.[25] Anh bắt đầu thi đấu cho đội tuyển U-21 Tây Ban Nha ngày 26 tháng 3 năm 2015, vào thay cho Samu Castillejo sau giờ nghỉ ở trận giao hữu thắng 2–0 trước Na Uy tại Cartagena, Murcia;[26] bốn ngày sau, tại León, anh lần đầu đá chính, trong trận thắng 4–0 trước Belarus.[27]

Mặc dù khởi đầu giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu tại Ba Lan năm 2017 từ băng ghế dự bị, màn trình diễn của Ceballos đã giúp U-21 Tây Ban Nha tiến vào vòng 2. Anh được chọn là cầu thủ xuất sắc nhất giải.[28]

Anh đã cùng U-21 Tây Ban Nha vô địch giải U-21 châu Âu 2019. Anh được bầu chọn vào đội hình tiêu biểu của giải.[29]

Ceballos ra mắt đội tuyển Tây Ban Nha ngày 11 tháng 9 năm 2018, chơi trọn trận thắng 6–0 trên sân nhà trước Croatia tại UEFA Nations League.[30] Tại giải đấu này, anh ghi bàn đầu tiên cho đội tuyển vào ngày 15 tháng 11, nhưng trận đó Tây Ban Nha thua 2–3 tại Zagreb trước Croatia.[31]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp cấp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 3 tháng 10 năm 2019[32]
Câu lạc bộ Mùa giải Vô địch quốc gia Cúp quốc gia1 Cúp châu lục Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn
Betis 2013–14 La Liga 1 0 0 0 1 0
2014–15 Segunda División 33 5 2 0 35 5
2015–16 La Liga 34 0 4 0 38 0
2016–17 30 2 1 0 31 2
Tổng cộng 98 7 7 0 105 7
Betis B 2014–15 Segunda División B 4 0 4 0
Tổng cộng 4 0 4 0
Real Madrid 2017–18 La Liga 12 2 6 0 4 0 22 2
2018–19 23 3 7 0 4 0 34 3
Tổng cộng 35 5 13 0 8 0 56 5
Arsenal (mượn) 2019–20 Premier League 7 0 1 0 2 1 10 1
Tổng cộng 7 0 1 0 2 1 10 1
Tổng cộng sự nghiệp 144 12 21 0 10 1 175 13

1 Bao gồm các trận ở Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha, Siêu cúp châu Âu, Giải vô địch thế giới các câu lạc bộ, Cup FACúp Liên đoàn bóng đá Anh.

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 15 tháng 10 năm 2019[33]
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Số bàn
Tây Ban Nha 2018 5 1
2019 4 0
Tổng cộng sự nghiệp 9 1

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 15 tháng 11 năm 2018 (Tỷ số Tây Ban Nha viết trước)[33]
STT Ngày Sân Đối thủ Bàn thắng Kết quả Khuôn khổ
1 15 tháng 11 năm 2018 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Croatia 1–1 2–3 UEFA Nations League 2018–19

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Betis

Real Madrid

U-21 Tây Ban Nha

U-19 Tây Ban Nha

Cá nhân

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Acta del Partido celebrado el 30 de agosto de 2014, en Sevilla” [Minutes of the Match held on 30 August 2014, in Seville] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Royal Spanish Football Federation. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019. 
  2. ^ “FIFA Club World Cup UAE 2017: List of players: Real Madrid CF” (PDF). FIFA. 16 tháng 12 năm 2017. tr. 5. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017. 
  3. ^ “D. Ceballos” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Real Madrid CF. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2017. 
  4. ^ Aguado, Ángel (4 tháng 11 năm 2014). 'Dani Nike', la perla que brilla en el Betis y dejó escapar el Sevilla” ['Dani Nike', the gem who shines in Betis and who Sevilla let slip away] (bằng tiếng Tây Ban Nha). El Desmarque. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014. 
  5. ^ González, M. (28 tháng 4 năm 2014). “Dani Ceballos, las lágrimas de una madre por un sueño” [Dani Ceballos, the tears of a mother for a dream]. ABC (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014. 
  6. ^ “El Betis ata a una joya con alma de entrenador” [Betis tie up gem with the soul of a coach] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Cuenta con la Cantera. 22 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014. 
  7. ^ “Real Betis 0–1 Real Sociedad”. ESPN FC. 26 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014. 
  8. ^ “Merino se despide con un pleno y deja al Racing en descenso” [Merino says goodbye undefeated and leaves Racing inside the relegation zone]. Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). 21 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2015. 
  9. ^ a ă Pineda, Rafael (25 tháng 5 năm 2015). “Las siete claves del ascenso del Betis” [The seven keys of Betis' promotion]. El País (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2018. 
  10. ^ “El bético Dani Ceballos renueva hasta 2020” [Betis' Dani Ceballos renews until 2020]. Mundo Deportivo (bằng tiếng Tây Ban Nha). 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2016. 
  11. ^ Espina, José A. (16 tháng 4 năm 2017). “Joaquín, Adán y Ceballos salvan al Betis y también a Víctor” [Joaquín, Adán and Ceballos save Betis and Víctor too]. Diario AS (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2017. 
  12. ^ “Comunicado oficial: Dani Ceballos” [Official announcement: Dani Ceballos] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Real Madrid CF. 14 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2017. 
  13. ^ “Ceballos rejects Barcelona to agree six-year Real Madrid contract”. Marca. 8 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2017. 
  14. ^ a ă Bull, JJ (16 tháng 8 năm 2017). “Real Madrid 2 Barcelona 0 (5–1 on aggregate): Woeful Barca dismissed as Zinedine Zidane's unstoppable side win Super Cup”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2017. 
  15. ^ Sánchez, Jesús (23 tháng 9 năm 2017). “Tomen nota de Ceballos” [Take note of Ceballos]. Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2017. 
  16. ^ “Así llegan Real Madrid y Liverpool a la final de la Champions” [That is how Real Madrid and Liverpool arrive to the Champions final] (bằng tiếng Tây Ban Nha). RCN Radio. 25 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018. 
  17. ^ “Madrid beat Liverpool to complete hat-trick”. UEFA. 26 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2018. 
  18. ^ “Dani Ceballos, tras marcar al Betis: "Desgraciadamente, he metido el gol"” [Dani Ceballos, after scoring to Betis: "Unfortunately, I scored the goal"]. 20minutos (bằng tiếng Tây Ban Nha). 13 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2019. 
  19. ^ “#HolaDani: Ceballos joins us on loan”. Arsenal F.C. Official Website. 25 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2019. 
  20. ^ “Official Announcement: Ceballos”. realmadrid.com. 25 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2019. 
  21. ^ https://www.bbc.co.uk/sport/football/49117667
  22. ^ https://www.express.co.uk/sport/football/1157946/Dani-Ceballos-Arsenal-loan-move-Unai-Emery-Real-Madrid-Premier-League
  23. ^ González, N. (5 tháng 11 năm 2014). “Dani Ceballos tampoco estará en el duelo del Betis en Zaragoza” [Dani Ceballos will still not be available for Betis' clash in Zaragoza]. Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014. 
  24. ^ “Dani Ceballos, titular en el triunfo de España sub 19” [Dani Ceballos, starter in Spain under 19 triumph]. ABC (bằng tiếng Tây Ban Nha). 15 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014. 
  25. ^ “Dani Ceballos participa en otra victoria de España sub 19” [Dani Ceballos takes part in another Spain under 19 victory]. ABC (bằng tiếng Tây Ban Nha). 17 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014. 
  26. ^ Muñoz, Antonio D. (26 tháng 3 năm 2015). “REPORT – Spain beats Norway and strengthens the team (2–0)”. Royal Spanish Football Federation. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2015. [liên kết hỏng]
  27. ^ “España 4–0 Bielorrusia: Bienvenidos al show de Gerard Deulofeu” [Spain 4–0 Belarus: Welcome to the Gerard Deulofeu show] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Goal. 30 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2015. 
  28. ^ a ă “Spain's Dani Ceballos named Player of the Tournament”. UEFA. 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017. 
  29. ^ https://www.uefa.com/under21/news/newsid=2615974.html
  30. ^ Dunne, Robbie (11 tháng 9 năm 2018). “Spain – Croatia match report: UEFA Nations League”. Diario AS. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2018. 
  31. ^ “Croatia 3–2 Spain”. UEFA. 15 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2018. 
  32. ^ “Dani Ceballos”. Soccerway. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2017. 
  33. ^ a ă “Dani Ceballos”. European Football. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2018. 
  34. ^ “Real Madrid 2–1 Man. United”. UEFA. 8 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2018. 
  35. ^ “Cristiano Ronaldo free-kick fires Real Madrid to Club World Cup glory”. The Guardian. 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2017. 
  36. ^ “Spain crowned Under-21 European champions”. UEFA.com (Union of European Football Associations). 30 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2019. 
  37. ^ “Spain see off Russia for seventh Under-19 crown”. UEFA. 19 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2015. 
  38. ^ “Official Under-21 Team of the Tournament”. UEFA. 1 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]