Daniel Ricciardo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Daniel Ricciardo
F12019 Schloss Gabelhofen (18).jpg
Ricciardo in 2019
SinhDaniel Joseph Ricciardo
1 tháng 7, 1989 (32 tuổi)
Perth, Western Australia
Sự nghiệp Công thức 1 Vô địch thế giới
Quốc tịchÚc Australian
Số xe3
Số chặng109 (109 starts)
Vô địch0
Số chặng thắng4
Ba vị trí đầu18
Tổng điểm giành được616
Xuất phát đầu1
Vòng nhanh nhất8
Chặng đầu tiên2011 British Grand Prix
Chặng thắng đầu tiên2014 Canadian Grand Prix
Chặng thắng trước2018 Monaco Grand Prix
Chặng trướcGiải đua ô tô Công thức 1 Úc 2021
Vị trí trong mùa Công thức 1 năm 20199th (54 pts)

Daniel Joseph Ricciardo (sinh ngày 01 tháng 07 năm 1989) là tay đua công thức 1 người Australia. Ricciardo đã nhiều lần chiến thắng chặng đua F1. Mùa giải F1 2021, Ricciardo thi đấu cho đội đua Mclaren.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2011: Ricciardo bắt đầu đua F1 với tư cách là tay đua dự bị ở đội Toro Rosso. Đến giữa mùa giải thì anh được cho đội Hispania Racing mượn và đua chính ở đây đến hết mùa giải. Do Hispania chỉ là một đội yếu nên Ricciardo không ghi được điểm nào.

Năm 2012-2013, Ricciardo trở về Toro Rosso và đã có thể ghi điểm một cách thường xuyên hơn.

Năm 2014: Ricciardo được Red Bull chọn để thay thế đồng hương Mark Webber giải nghệ[1]. Anh có một mùa giải đua cặp với Sebastian Vettel và hoàn toàn áp đảo tay đua khi đó là nhà đương kim vô địch. Ricciardo có được 3 chiến thắng đầu tay ở mùa giải này ở GP Canada[2], GP Hungary[3] và GP Bỉ[4].

Ricciardo cũng có một ký ức không vui ở mùa giải này. Ngay ở chặng đua đầu tiên cho đội đua Red Bull, cũng là chặng đua trên sân nhà GP Úc, mặc dù cán đích ở vị trí thứ 2 nhưng anh đã bị hủy kết quả do chiếc xe vi phạm luật sử dụng nhiên liệu[5].

Năm 2015: Đội đua Red Bull chia tay Vettel nên Ricciardo có người đồng đội mới là Daniil Kvyat. Hai người có kết quả khá ngang ngửa, chỉ hơn kém nhau có 3 điểm (Ricciardo ít hơn). Mùa giải này thì Ricciardo có 2 lần lên podium ở GP Hungary và GP Singapore.

Năm 2016: Từ chặng đua thứ 5 thì Ricciardo lại có người đồng đội mới là Max Verstappen. Tay đua người Úc có lần đầu tiên giành được pole ở chặng 6-GP Monaco [6]. nhưng chỉ về nhì sau Lewis Hamilton, đây là lần hiếm hoi mà Ricciardo lên podium với tâm trạng buồn rầu, trái với cá tính vui vẻ thường ngày của anh.

Mùa giải 2016 Ricciardo không bỏ cuộc một lần nào và chỉ có một lần anh không vào được top-10 là ở GP Nga. Nửa sau của mùa giải, tay đua Red Bull liên tục lên podium để xếp thứ 3 chung cuộc. Đặc biệt anh có thêm một chiến thắng ở GP Malaysia sau khi Lewis Hamilton bị cháy động cơ khi đang dẫn đầu[7].

Năm 2017: Nửa đầu mùa giải Ricciardo có chuỗi 5 chặng đua liên tiếp lên podium từ chặng 5 (GP Tây Ban Nha) đến chặng 9 (GP Đức), trong đó có 4 lần về ba và một lần chiến thắng ở chặng đua vô cùng hỗn loạn GP Azerbaijan[8]. Ricciardo suýt tái lập thành tích này ở nửa cuối mùa giải nếu không chỉ về 4 ở GP Italia. Trước và sau chặng đua ở Monza, tay đua người Úc có 4 lần lên podium.

Tuy nhiên ở 4 chặng đua cuối cùng, Ricciardo phải bỏ cuộc 3 lần.

Năm 2018: Ricciardo có được chiến thắng ngay ở chặng đua thứ 3 của mùa giải-GP Trung Quốc[9]. Nhưng ở chặng đua thứ 4-GP Azerbaijan, Ricciardo lại để va chạm lớn với đồng đội Max Verstappen khiến cho cả 2 cùng phải bỏ cuộc[10]. Sau đó tay đua người Úc có lần thứ 2 giành pole GP Monaco (chặng 6) và lần này anh không bỏ lỡ thời cơ để giành chiến thắng thứ 2 trong mùa giải[11].

Đó cũng là podium cuối cùng của Ricciardo trong mùa giải 2018. Tổng kết mùa giải 2018, Ricciardo nằm trong số các tay đua phải bỏ cuộc nhiều nhất với 8 lần bỏ cuộc trong số 21 chặng đua vì thế mà anh xếp dưới đồng đội Verstappen trên BXH tổng.

Ricciardo ở lại Red Bull cho đến hết năm 2018 thì bất ngờ chuyển sang Renault từ năm 2019 dù được Red Bull thuyết phục gia hạn hợp đồng[12].

Năm 2019: Ricciardo không có podium nào ở mùa giải này. Riêng ở GP Nhật Bản, cả anh và đồng đội Nico Hulkenberg đều bị hủy kết quả do chiếc xe vi phạm luật[13].

Mùa giải 2020: Chặng đua duy nhất trong mùa giải mà Ricciardo phải bỏ cuộc không may lại là chặng đua trên sân nhà GP Úc-chặng đua mở màn. Ở giai đoạn giữa mùa giải Ricciardo có lên podium ở chặng đua GP Eifel, đây là podium đầu tiên của anh cho Renault, cũng là podium đầu tiên của Renault kể từ năm 2011[14]. Sau đó anh có thêm một lần lên podium nữa ở GP Emilia Romagna. Chung cuộc Ricciardo xếp thứ 5.

Mùa giải 2021: Ricciardo gia nhập đội đua Mclaren F1 Team[15] và làm đồng đội với Lando Norris. Ricciardo gặp khó khăn trong quá trình hòa nhập với đội đua mới nên không có kết quả cao ở nửa đầu mùa giải.

Thống kê thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

(Tính đến GP Anh 2021)

Năm Thể thức Đội đua Races Wins Poles F/Laps Podiums Points Kết quả
2005 Western Australian Formula Ford Championship Privateer 3 0 0 ? 0 74 8th
2006 Formula BMW Asia Eurasia Motorsport 19 2 3 3 12 231 3rd
Formula BMW UK Motaworld Racing 2 0 0 0 0 3 20th
Formula BMW World Final Fortec Motorsport 1 0 0 0 0 N/A 5th
2007 Formula Renault 2.0 Italy RP Motorsport 14 0 0 0 0 196 6th
Eurocup Formula Renault 2.0 4 0 0 0 0 0 NC
2008 Formula Renault 2.0 WEC SG Formula 15 8 9 7 11 192 1st
Eurocup Formula Renault 2.0 18 6 5 5 7 136 2nd
Formula 3 Euro Series 2 0 0 0 0 N/A NC
Masters of Formula 3 1 0 0 0 0 N/A NC
2009 British Formula 3 Championship Carlin Motorsport 20 7 6 5 13 275 1st
Masters of Formula 3 1 0 0 0 0 N/A NC
Formula Renault 3.5 Series Tech 1 Racing 2 0 0 0 0 0 34th
Macau Grand Prix Carlin 1 0 0 0 0 N/A NC
2010 Formula Renault 3.5 Series Tech 1 Racing 16 4 8 5 8 136 2nd
2011 Formula Renault 3.5 Series ISR 12 1 2 3 6 144 5th
Formula One HRT Formula 1 Team 11 0 0 0 0 0 27th
2012 Formula One Scuderia Toro Rosso 20 0 0 0 0 10 18th
2013 Formula One Scuderia Toro Rosso 19 0 0 0 0 20 14th
2014 Formula One Infiniti Red Bull Racing 19 3 0 1 8 238 3rd
2015 Formula One Infiniti Red Bull Racing 19 0 0 3 2 92 8th
2016 Formula One Red Bull Racing 21 1 1 4 8 256 3rd
2017 Formula One Red Bull Racing 20 1 0 1 9 200 5th
2018 Formula One Aston Martin Red Bull Racing 21 2 2 4 2 170 6th
2019 Formula One Renault F1 Team 21 0 0 0 0 54 9th
2020 Formula One Renault DP World F1 Team 17 0 0 2 2 119 5th
2021 Formula One McLaren F1 Team 10 0 0 0 0 50* 8th*

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Ricciardo sinh ngày 01/07/1989 ở Perth, Australia. Ricciardo là con trai của một người nhập cư từ Italia và một người mẹ là người Úc gốc Italia. Ricciardo còn có một người chị (em gái) tên là Michelle.

Ricciardo hâm mộ tay đua Dale Earnhardt nên chọn số 03 làm số xe vĩnh viễn[16].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Daniel Ricciardo will drive for Red Bull alongside Sebastian Vettel in 2014 season”. Skysports.
  2. ^ “Canadian GP: Chiến thắng bất ngờ”. 24h.
  3. ^ “Hamilton lại vượt khó, Ricciardo bất ngờ tỏa sáng tại Hungary”. Vnexpress.
  4. ^ “Belgian GP 2014: Chiến thắng giành cho Ricciardo”. VTV.
  5. ^ “Ricciardo excluded from Australia race results”. Trang chủ Formula1.
  6. ^ “Qualifying - Ricciardo storms to maiden pole in Monaco”. Trang chủ Formula1.
  7. ^ “Hamilton gặp hạn, Ricciardo về nhất tại GP Malaysia”. Vnexpress.
  8. ^ “Vettel bị phạt vì đâm Hamilton, Ricciardo về nhất GP Azerbaijan”. Vnexpress.
  9. ^ “Đua xe F1: Daniel Ricciardo về nhất chặng đua tại Trung Quốc”. VTV.
  10. ^ “Đua xe F1: Hamilton đăng quang ở chặng đua điên rồ tại Azerbaijan”. Thể thao SGGP.
  11. ^ “Daniel Ricciardo về nhất tại Grand Prix Monaco”. Vnexpress.
  12. ^ “Sốc-Daniel Ricciardo rời Redbull để gia nhập Renault”. Thể thao tốc độ.
  13. ^ “Renault disqualified from results of the Japanese Grand Prix”. Trang chủ Formula1.
  14. ^ “Ricciardo: Eifel GP podium 'feels like the first all over again'. Trang chủ Formula1.
  15. ^ “Chia tay Renault, Daniel Ricciardo gia nhập McLaren”. VTV.
  16. ^ “NASCAR fan Ricciardo offered drive in Dale Earnhardt Sr stock car – if he lands podium for McLaren”. Trang chủ Formula1.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]