David Hurley

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Toàn quyền

David Hurley

David Hurley official photo.jpg
Toàn quyền thứ 27 của Úc
Nhậm chức
1 tháng 7 năm 2019
MonarchElizabeth II
Thủ tướngScott Morrison
Tiền nhiệmPeter Cosgrove
Thống đốc New South Wales thứ 38
Nhiệm kỳ
2 tháng 10 năm 2014 – 1 tháng 5 năm 2019
MonarchElizabeth II
PremierMike Baird
Gladys Berejiklian
LieutenantTom Bathurst
Tiền nhiệmBà Marie Bashir
Kế nhiệmMargaret Beazley
Thông tin cá nhân
Sinh26 tháng 8, 1953 (66 tuổi)
Wollongong, New South Wales, Úc
Quốc tịchÚc
Vợ, chồng
Linda McMartin (cưới 1977)
Con cái3
Phục vụ trong quân đội
ThuộcÚc
Phục vụLục quân Úc
Năm tại ngũ1972–2014
Cấp bậcTướng lĩnh
Chỉ huyChỉ huy Lực lượng Quốc phòng (2011–2014)
Phó Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng (2008–2011)
Trưởng ban điều hành tướng lĩnh (2007–2008)
Trưởng nhóm Phát triển Năng lực (2003–2007)
Tư lệnh Lực lượng Chỉ huy (2002–2003)
Lữ đoàn 1 (1999–2000)
Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia Úc (1991–1993)
Tham chiếnChiến dịch Solace

David John Hurley (sinh ngày 26 tháng 8 năm 1953) là cựu sĩ quan cao cấp trong Lục quân Úc nắm giữ cương vị Toàn quyền thứ 27, từ ngày 1 tháng 7 năm 2019. Trước đây ông là Thống đốc thứ 38 bang New South Wales, từ năm 2014 đến năm 2019.

Trong sự nghiệp quân sự kéo dài 42 năm, Hurley triển khai Chiến dịch SolaceSomalia năm 1993, chỉ huy Lữ đoàn 1 (1999–2000), Trưởng phòng Điều hành (2007–2008), và từng là Phó Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng (2008–2011). Sau đó ông được bổ nhiệm làm Tổng Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng vào ngày 4 tháng 7 năm 2011, kế tiếp người tiền nhiệm là Đại tướng Không quân Angus Houston.[1] Hurley rút ra khỏi quân đội vào tháng 6 năm 2014 để lên chức Thống đốc bang New South Wales vào ngày 2 tháng 10 năm 2014, kế nhiệm bà Marie Bashir.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hurley chụp với vợ mình tên là Linda

David John Hurley sinh ngày 26 tháng 8 năm 1953 tại Wollongong, New South Wales.[2] Cha ông là thợ luyện thép vùng Illawarra, còn mẹ ông làm việc trong một cửa hàng tạp hóa. Hurley lớn lên ở Cảng Kembla, theo học tại trường trung học Cảng Kembla, hoàn thành chứng chỉ trung học vào năm 1971. Sau đó, ông tốt nghiệp trường Đại học Quân sự Hoàng gia, Duntroon, nhận bằng Cử nhân Khoa học xã hộiVăn bằng tốt nghiệp về Nghiên cứu Quốc phòng của mình.[3]

Hurley kết hôn với Linda (tên khai sinh: McMartin) và có ba người con.[4]

Sự nghiệp quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Hurley trúng tuyển vào Đại học Quân sự Hoàng gia, Duntroon vào tháng 1 năm 1972, lúc còn là sĩ quan.[5] Hurley tốt nghiệp Đại học vào tháng 12 năm 1975, và được bổ nhiệm chức trung úy trong Quân đoàn Bộ binh Hoàng gia Úc. Ban đầu ông làm việc trong Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia Úc (1RAR). Sau khi thăng chức lên Đại úy, ông được bổ nhiệm làm sĩ quan phụ tá cho Trung đoàn Đại học Sydney trước khi trở thành sĩ quan phụ tá cho Trung đoàn Hoàng gia Úc.[4]

Năm 1990, Hurley thăng thức lên Trung tá, trở thành Cố vấn viên cao cấp, làm việc trong Văn phòng Bộ trưởng Quân đội. Ông lãnh đạo Chiến dịch Solace ở Somalia năm 1993. Ông được trao tặng Thập tự Quân chủng xuất sắc cho sự cống hiến của mình.[6] Năm 1994, Hurley làm việc trong trụ sở Sư đoàn 1.

Sau khi thăng chức Đại tá, tháng 6 năm 1994, Hurley được bổ nhiệm làm Tham mưu Trưởng của Sư đoàn 1.[7][8]

Tháng 1 năm 2012, Hurley trải qua 40 năm phục vụ cho Lực lượng Quốc phòng Úc. Ngày 20 tháng 1 khi đang ở Paris, ông được CDF trao tặng phù hiệu Sĩ quan Bắc Đẩu Bội tinh.[9] Tháng 2 cùng năm, ông được trao tặng Huân chương Lực lượng Quân chủng Quốc phòng.[5] Hurley thôi làm việc trong Quân đội Úc từ ngày 30 tháng 6 năm 2014, người kế nhiệm là Đại tướng Không quân Mark Binskin.[10]

Thống đốc bang New South Wales[sửa | sửa mã nguồn]

Hurley tại buổi lễ tuyên thệ nhậm chức Toàn quyền thứ 27.

Vào ngày 5 tháng 6 năm 2014, Thủ tướng New South Wales Mike Baird tuyên bố Hurley sẽ là người kế nhiệm bà Marie Bashir trở thành Thống đốc bang New South Wales, lễ tuyên thệ diễn ra vào ngày 2 tháng 10 năm 2014.[11][12]

Toàn quyền Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 12 năm 2018, Thủ tướng Scott Morrison tuyên bố Hurley sẽ trở thành người kế nhiệm Toàn quyền Úc, bắt đầu từ ngày 1 tháng 7 năm 2019.[13][14][15] Margaret Beazley sẽ thay thế chức Thống đốc bang New South Wales.[16] Hurley tuyên thệ nhậm chức Toàn quyền thứ 27 tại Tòa nhà Quốc hội, Thủ đô Canberra vào ngày 1 tháng 7 năm 2019.[17]

Các chức vụ khác[sửa | sửa mã nguồn]

Hurley còn giữ chức nhà bảo trợ danh dự của Câu lạc bộ bóng bầu dục cựu chiến binh ACT.[18][19]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Massola, James (1 tháng 6 năm 2011). “David Hurley is made new defence force chief as part of sweeping renewal of top brass”. The Australian (News Limited). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2011. 
  2. ^ “The Governor-General's biography”. Office of the Governor-General. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2019. 
  3. ^ “General David Hurley”. Lowy Institute. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2018. 
  4. ^ a ă “General David Hurley, AC, DSC”. Biography. Department of Defence, Australian Government. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2019. 
  5. ^ a ă Army News, February 2012, www.defence.gov.au
  6. ^ It's an Honour – Distinguished Service Cross (Australian) – 26 November 1993
  7. ^ List of Witnesses at Public Hearings, Parliament House Canberra, 16 April 1998, www.aph.gov.au
  8. ^ Hackett Centenary Lectures, King's College London, 12 November 2010, www.kcl.ac.uk
  9. ^ “French Embassy in Australia – Officer of the Legion of Honour – 20 January 2012”. 
  10. ^ “Chief of Defence Force change of command”. Defence Media Release. Department of Defence. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  11. ^ “General Hurley named as NSW Governor”. Sky News. 5 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2014. 
  12. ^ “Governor's Program – 17 March 2015”. Governor of New South Wales. 17 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2015. 
  13. ^ “Scott Morrison picks former general David Hurley to be Australia's next governor-general”. Sydney Morning Herald. 16 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2018. 
  14. ^ “Australia's New Governor-General”. Prime Minister of Australia. 16 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2018. 
  15. ^ Karp, Paul; Cox, Lisa (16 tháng 12 năm 2018). “David Hurley named next governor general of Australia as Labor blasts timing”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2018. 
  16. ^ “Appointment of The Honourable Justice Margaret Beazley QC AO as Governor” (Thông cáo báo chí). Government of New South Wales. 13 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2019. 
  17. ^ Remeikis, Amy (1 tháng 7 năm 2019). “General David Hurley sworn in as Australia's 27th governor general – politics live”. The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2019. 
  18. ^ “Patronage Listing”. Governor of New South Wales. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  19. ^ “ACT Veterans Rugby”. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ quân sự
Tiền vị
Thiếu tướng Peter Abigail
Tư lệnh Lực lượng Chỉ huy
2002–2003
Kế vị
Thiếu tướng Ken Gillespie
Chức vụ mới Trưởng nhóm phát triển năng lực
2003–2007
Kế vị
Phó Đô đốc Matt Tripovich
Chức vụ mới
Tách khỏi vai trò của VCDF
Trưởng ban hoạt động tướng lĩnh
2007–2008
Kế vị
Trung tướng Mark Evans
Tiền vị
Trung tướng Ken Gillespie
Phó Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng
2008–2011
Kế vị
Đại tướng không quân Mark Binskin
Tiền vị
Đại tướng không quân Angus Houston
Chỉ huy Lực lượng Quốc phòng
2011–2014
Kế vị
Đại tướng không quân Mark Binskin
Viên chức chính phủ
Tiền vị
Dame Marie Bashir
Thống đốc New South Wales
2014–2019
Kế vị
Margaret Beazley
Tiền vị
Peter Cosgrove
Toàn quyền Úc
2019–nay
Đương nhiệm