Demi (album)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Demi
Demi Lovato - Demi (Official album cover).png
Album phòng thu của Demi Lovato
Phát hành10 tháng 5, 2013 (2013-05-10)
Thu âm2012–13
Thể loạiPop[1]
Thời lượng47:48
Hãng đĩaHollywood Records
Sản xuất
  • Mitch Allan
  • Battleroy
  • Jason Evigan
  • Carl Falk
  • Andrew Goldstein
  • Jonas Jeberg
  • Emanuel Kiriakou
  • The Monsters and the Strangerz
  • Anne Preven
  • David Quiñones
  • Matt Rad
  • Rami Yacoub
  • Jarrad Rogers
  • Matt Squire
  • Ryan Tedder
  • Noel Zancanella
Thứ tự album của Demi Lovato
Unbroken
(2011)Unbroken2011
Demi
(2013)
Confident
(2015)Confident2015
Đĩa đơn từ Demi
  1. "Heart Attack"
    Phát hành: 24 tháng 2 năm 2013
  2. "Made in the USA"
    Phát hành: 16 tháng 7 năm 2013
  3. "Neon Lights"
    Phát hành: 19 tháng 11 năm 2013
  4. "Really Don't Care"
    Phát hành: 20 tháng 5 năm 2014[2]

Demialbum phòng thu thứ tư của nữ ca sĩ người Mỹ Demi Lovato, được phát hành vào ngày 10 tháng 5 năm 2013, bởi Hollywood Records. Quan tâm về sự chuyển đổi giọng từ album phòng thu thứ 3 - Unbroken (album của Demi Lovato) (2011) - mà cô diễn tả là "khó phân biệt", Lovato muốn làm cho album lần này "chứa những bài hát làm cô ấy phấn khích".[3] Album là sự kết hợp của nhạc pop với một chút synthpop và bubblegum pop. Album được thu âm từ năm 2012 đến 2013, trong khi Lovato tham gia chương trình "The X Factor" phiên bản Mỹ với cương vị là một giám khảo.

Album nhìn chung nhận được sự đánh giá tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, những người khen ngợi giọng hát của Lovato. Album ra mắt tại vị trí thứ ba tại bảng xếp hạng Billboard 200 Mỹ với doanh số tuần đầu tiên là 110,000 bản bán ra, trở thành tuần ra mắt thành công nhất của cô từ trước đến nay.[4] Album cũng đạt được thành công tại các bảng xếp hạng nước ngoài, cụ thể là đạt top 5 tại Canada, Ireland, Ý, MexicoTây Ban Nha. Album cũng nằm trong top 3 bảng xếp hạng tại Brazil, top 40 tại Úc, Áo, Croatia, Đức, Hy Lạp, New Zealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy SĩUK. Album được chứng nhận bạch kim nhân 3 tại Brazil và chứng nhận vàng tại Colombia, CanadaMexico, trở thành album bán được nhiều bảng ở nước ngoài nhất của Lovato cho đến nay.

Đĩa đơn chính của album, "Heart Attack" đạt vị trí thứ 10 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, trở thành đĩa đơn thứ ba của cô có thứ hạng cao nhất đến nay.[5][6] Nó còn được chứng nhận bạch kim nhân 2 tại Mỹ, trở thành đĩa đơn bán chạy nhất của cô từ trước đến nay. Đĩa đơn thứ hai là "Made in the USA" được phát hành vào ngày 16 tháng 7 năm 2013, đạt vị trí thứ 80 trên bảng xếp hạng Hot 100.[7] Đĩa đơn kế tiếp "Neon Lights" được phát hành vào ngày 19 tháng 11 năm 2013, đạt top 40 của Hot 100 và hạng 7 của Billboard Mainstream Top 40. Đĩa đơn thứ 4 "Really Don't Care" sau đó được ra mắt vào ngày 20 tháng 5 năm 2014.

Chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới đầu tiên của Demi Lovato mang tên "Demi World Tour" sẽ bắt đầu vào ngày 6 tháng 9 năm 2014 tại Baltimore nhằm quảng bá cho album phòng thu thứ 4 - Demi - của mình.[8][9]

Bối cảnh và phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 4 năm 2012, Lovato bắt đầu viết lời cho những ca khúc nằm trong album, sau sự thành công của album phòng thu thứ 3 trước đó Unbroken (2011). Album được thu âm cùng lúc với khoảng thời gian Lovato làm giám khảo trong mùa 2 của chương trình The X Factor phiên bản của Mỹ.[10] Lovato chọn tựa đề của album này là Demi bởi vì đây là album đầu tiên của cô dành cho nhiều xu thế khán giả hơn và cần cho những người không biết cô là ai.[11] Lovato cũng cho hay rằng "đoạn tiếp" của ca khúc "Skyscraper" (2011) cũng được bao gồm. Sau khi album được phát hành, bài hát "Warrior" được tiết lộ là phần tiếp theo của "Skyscraper".[12] Cô phát biểu: "Tôi vô cùng tự hào về album này" và "Nó tốt hơn mọi thứ tôi làm từ trước đến nay! Tôi đã thử nghiệm với rất nhiều loại âm thanh khác nhau và dồn hết tâm trí để viết những bài hát này. Tôi rất hào hứng để cuối cùng cho mọi người nghe được chúng!".[13] Vào ngày 6 tháng 5 năm 2013, Lovato kêu gọi những người theo dõi cô trên Twitter "mở khóa" toàn bộ album bằng cách đặt tựa bài hát vào hashtags. Một trang website đặc biệt lovaticsspeeduptime.com đã được mở ra, hiện thị tất cả bài hát kế bên một cái đồng hồ sẽ chạy khi những "tweet" được gửi. Khi một bài hát trở thành chủ đề bàn luận thì video của nó trên YouTube được đăng lên trên VEVO. Tất cả các bài hát đã được "mở khóa" trong vòng 4 giờ.[14][15] Một cuốn sách điện tử iBooks độc quyền mang tên Demi (The Book) được phát hành vào ngày 11 tháng 6 năm 2013. Quyển sách mang tới người hâm mộ những hình ảnh hậu trường của cô ca sĩ, bao gồm những cảnh phim và những đoạn phỏng vấn chưa từng được công bố. Trong một đoạn clip, cô nói rằng sự chân thật và cởi mở không chỉ là lời nhắn mà cô gửi tới những người hâm mộ trong quyển sách mà còn là trong album lần này. Cô nói, "Trong album lần này, tôi đã có đủ thời gian để thật sự ngẫm nghĩ lại về những kỉ niệm của bản thân và nhìn lại cuộc đời mình sau khi đã vượt qua rất nhiều chuyện mệt mỏi. Tôi đã có nhận thức hơn về bản thân mình, do đó, khi bạn nghe album lần này, bạn có thể thật sự nhận ra trong lời bài hát, trong cảm xúc và trong mọi thứ rằng tôi đã làm thật sự rất, rất chăm chỉ trong album và cực kì mong muốn bạn có thể nghe được nó.[16]

Thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

"Tôi luôn muốn làm ra những loại âm nhạc theo hướng tích cực. Tuy rõ ràng là những bài hát của tôi luôn xoay quanh vấn đề về những nỗi đau buồn và sự chia tay nhưng album lần này… tôi đã nghe radio rất nhiều và chỉ nghe những ca khúc nói về tiệc tùng, nhậu nhẹt, và hút thuốc. Đó không phải là những gì mà tôi làm. Đó là những gì tôi dựa theo."

—Lovato chia sẻ điều điều mà cô muốn gửi gắm trong Demi.[3]

Lovato tự miêu tả album Demi là "nhạc Mỹ cổ", chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi đĩa đơn bùng nổ của cô "Give Your Heart a Break" và cô cảm thấy lời bài hát "cực kì sôi động" cũng như giai điệu của ca khúc cùng với những người hâm mộ, đó là những điều mà cô muốn tham khảo tỉ mỉ hơn trong album lần này.[17] Theo như Lovato, album trước đó của cô là Unbroken bao gồm những ca khúc mà cô cảm thấy chán "sau một thời gian ngắn", vì thế nên cô muốn "có những bài hát làm cô cảm thấy thích thú" trong Demi.[18] Những thể loại nhạc trong album đi từ pop rock đến synthpop và bubblegum pop.[1] Ngoài "những bài hát sôi động" như ca khúc có nhịp điệu vừa phải "Without the Love",[18] "những ca khúc nhẹ nhàng" cũng được thêm vào album.[17] Khi giải thích về ca khúc "Shouldn't Come Back" và "Warrior" mà Lovato cho là quá riêng tư để biểu diễn trực tiếp khi so sánh chúng với ca khúc trong album Unbroken mang tên "For the Love of a Daughter".[19] Billboard phát biểu rằng ca khúc trong "Warrior", Lovato đã bày tỏ chính mình là "một cho phượng hoàng đứng lên từ những tro bụi công-khai" cùng với lời bài hát đầy cảm súc như: "Tôi thật hổ thẹn, tôi đã có những vết thương lòng mà tôi sẽ không bao giờ thể hiện ra/Tôi còn sống sót bằng nhiều cách hơn bạn biết".[1] Khi nói về ca khúc "Warrior", nữ ca sĩ trình bày: "Đó có lẽ là bài hát khó nhất và dễ nhất để viết trong album này. Tôi đã viết về những kỉ niệm của bạn thân, tuy nhiên tôi không thể nào bày tỏ hết những điều đó trong một bài hát được".[3] Chủ đề về tình yêu đối với nước Mỹ trong album được thể hiện rõ trong ca khúc "Made in the USA", một ca khúc tình yêu thể hiện chủ nghĩa yêu nước lấy cảm hứng từ "American love stories" của những năm 1930.[20] Ca khúc là sự kết hợp chặt chẽ giữa pop, rockđồng quê.[21] Đan xen vào những bản ballad piano trong Demi bao gồm: "In Case", ca khúc nói về sự chia tay, và "Nightingale".[22] Những ca khúc vui vẻ như "Really Don't Care" và "Something That We're Not" được sản xuất để phù hợp với "giọng hát làm mê mẩn" của Lovato.[1]

Vào tháng 6 năm 2013, Lovato trả lời phỏng vấn về album thứ 4 để cảm ơn đến người hâm mộ của cô, những người đã biết cô trước đây và nói về sự trở lại, cô nói: "Cuộc đời của tôi đã thay đổi rất nhiều. Tôi mềm mỏng hơn và chân thật trong lần thu âm này, điều mà tôi luôn muốn đạt được. Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để bước ra ánh sáng rồi đây". Trong album này, cách viết lời bài hát được xem như là "phép chữa bệnh", Lovato nói: "Nó giúp tôi trút khỏi những tiêu cực, và giờ tôi là một chiến binh thực thụ. Xuyên suốt nhiều năm qua, thật sự rất khó để tìm ra được lời động viên để rời bỏ và viết về nó, tôi sợ rằng sẽ không ai hiểu được lời nhắn của tôi. Tôi đã dành rất nhiều thời gian để cố gắng hiểu được điều gì là đúng đắn để thực hiện, tôi cứ như quẫn trí bởi thú vui và sự cám dỗ của quảng cáo đó là vì sao tôi quyết định dừng lại ở tuổi 18".[23]

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
Metacritic (64/100)[24]
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AllMusic 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[25]
Artist Direct 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[26]
Billboard 79/100[1]
Entertainment Weekly C+[22]
Rolling Stone 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[27]
HitFix B–[28]
Alter The Press! 4.8/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar half.svg[29]

Album nhìn chung nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc. Dựa theo hệ thống tổng hợp kết quả đánh giá Metacritic, album có điểm số 64/100 dựa trên 6 sự xem xét. Jason Lipshutz của Billboard đánh giá khá tích cực, nói rằng "cô ta nắm vững những kĩ năng của một người ca sĩ, nhưng lại vẫn làm hỏng đi đôi chút công thức hoàn hảo nhất cho mình, và vô tình thể hiện ra sự tự khám phá đó ở đây." Jon Caramanica từ The New York Times cũng đánh giá tốt, cho rằng đây là "một album thứ 4 ấn tượng."[30] Stephen Thomas Erlewine đến từ AllMusic lại nhận xét gắt gao hơn, đánh giá album 3 trên 5 sao, nói rằng "Cuồi cùng thì đây cũng không phải là một album đúng nghĩa, nó là một tập hợp những khoảng thời gian, và nó chỉ có những bài hát đủ tốt cho sự trở lại của Demi Lovato." Jody Rosen từ Rolling Stone cho album 3 sao trên 5, nhận định rằng "Đó là những bài hát có thể dự đoán trước, những bài hát kiểu thất tình, những lời hát động viên theo thể loại pop-psych, tuy nhiên Lovato cũng khá tốt, giọng hát của cô ấy thật mạnh mẽ và đặc sắc." Tamsyn Wilce của Alter The Press! đánh giá album 4 sao rưỡi trên 5, ca ngợi "Neon Lights" như một điểm sáng trong album và kết luận "nó cho thấy chất giọng mạnh mẽ của cô ấy và sự biến tấu trong những phong cách mà cô có thể hoàn toàn chinh phục cho riêng mình. Nếu như bạn không phải là một fan của dòng nhạc pop, bạn sẽ không thích nó chút nào, tuy nhiên mọi người đều có những niềm vui gây khiển trách – ngoại trừ chúng tôi thậm chí không cảm thấy chút chút tội lỗi gì để nghe album này với hết cỡ âm thanh.[29] Natalie Palmer từ Entertainmentwise cũng đánh giá album tích cực, trình bày "Pop rock là rõ ràng dòng nhạc của Demi Lovato và cô ấy nắm rất chắc về nó. Khi nói đến những hình tượng Demi nên được đánh giá là xuất sắc nhất. Lời bài hát của cô ta diễn tả chân thật về cuộc sống, tình yêu, điều bất hạnh và không có gì quá lố cả. Tuy nhiên trong khi vẫn còn những vấn đề của sự thật, cô vẫn có thể hiện thực chính xác những gì cô ấy đang cố gắng truyền đạt."[31]

Melissa Maerz của Entertainment Weekly, dù gì đi nữa, đánh giá album ở mức trung bình xếp loại nó ở mức C+, nói rằng "thật sự quá tệ đối với album Demi của cô ta, nghe như là sự trở lại với dòng nhạc pop tuổi teen. Thay đổi từ một người phụ nữ trẻ cáu kỉnh trở thành người yêu nước Mỹ." Marc Hirsh của The Boston Globe cũng như vậy, nhận xét rằng "Demi nghe như Lovato hơi tham lam đối với những bản hit, khi cô ấy dùng những âm thanh nghe như đang làm nhạc và chơi đùa." tuy rằng nhiều nhà nhận xét cho rằng những lời phê bình là "không cần thiết" và khen ngợi sự linh hoạt trong âm nhạc của cô.[32] Melinda Newman của HitFix đánh giá album ở mức B-, nhận xét rằng "chỗ sai ở album "Demi" là có quá nhiều âm nhạc ở đây rất giống nhau và đó có thể là do một nữ hoàng tuổi teen nào đó cung cấp giai điệu." Tuy nhiên nhà phê bình kết luận "Đối với những ai đang tìm kiếm một album có nhịp độ sôi động phù hợp với bối cảnh trên radio ngày nay, Demi là một sự lựa chọn thích hợp."[33] Alter The Press!, sau khi khen ngợi về album khi nó được ra mắt, xếp album ở vị trí thứ 8 trong danh sách những album hay nhất năm 2013.[29]

Diễn biến thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Album ra mắt tại vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Billboard 200 Mỹ với doanh thu tuần đầu là 110,000 bản, đứng sau Modern Vampires of the City của Vampire WeekendLove Is Everything của George Strait, trở thành tuần ra mắt thành công nhất của cô từ trước đến nay.[34] Còn ở Anh, album ra mắt tại vị trí thứ 10 trên bảng xếp hạng UK Albums Chart, với doanh số 10,658 bản được bán ra trong tuần đầu tiên.[35] Cùng với sự ra mắt, nó trở thành album đầu tiên của cô lọt vào Top 40 ở nước này.[35] Album cũng được chứng nhận bạch kim nhân 2 ở Brazil và chứng nhận vàng ở ba quốc gia khác đến tháng 1 năm 2014. Album đã bán được 370,000 bản ở Mỹ cho đến tháng 5 năm 2014.[36]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Ứng cử Kết quả
2013 MuchMusic Video Awards Video nước ngoài của năm - Nghệ sĩ "Heart Attack" Đoạt giải
Giải Sự lựa chọn của Giới trẻ Đĩa đơn được bình chọn: Nữ nghệ sĩ
Giải Video âm nhạc của MTV Nữ nghệ sĩ có video xuất sắc nhất Đề cử
People's Choice Awards Video được yêu thích nhất
J-14 Teen Icon Awards Video âm nhạc hình tượng
World Music Awards Bài hát xuất sắc nhất
Video âm nhạc xuất sắc nhất
Album xuất sắc nhất Demi
2014 Fan Choice Awards Album của năm Đoạt giải
Bài hát của năm "Heart Attack" Đề cử
Video của năm "Made in the USA"
Radio Disney Music Awards Bài hát trên chuyến đi được yêu thích Đoạt giải
Teen Choice Awards Ca khúc đột phá "Really Don't Care" Đề cử
Ca khúc mùa hè Đoạt giải

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Heart Attack" được phát hành như một đĩa đơn chính của album vào ngày 24 tháng 2 năm 2013.[37] Ca khúc được viết bởi Mitch Allan, Jason Evigan, Sean Douglas, Nikki Williams, Aaron Phillips và Lovato và sản xuất bới The Suspex.[38][39] Ca khúc ra mắt tại ví trí thứ 12 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 với doanh thu tuần đầu là 215,000 bản, trở thành kỉ lục bán ra đối với Lovato tại thời điểm này và trở thành đĩa đơn thứ ba của cô có thứ hạng cao nhất trong tuần đầu tiên cho đến nay.[40] Bài hát sau đó đã vượt lên phía trên và đạt vị trí số 10, trở thành bài hát thứ ba Lovato làm được như thế. Bài hát cũng đạt được vị trí thứ 3 tại UK, đĩa đơn đầu tiên của cô lọt vào top 10 tại đây. Video âm nhạc của ca khúc được làm vào ngày 13 tháng 3 năm 2013[41] và phát hành vào ngày 9 tháng 4 năm 2013.[42] Lovato đã biểu diễn bài hát trực tiếp trong rất nhiều chương trình, bao gồm The Ellen DeGeneres Show, Good Morning America and Jimmy Kimmel Live!,[43][44] Ca khúc đã được chứng nhận 2× Bạck kim ở Mỹ cũng như là ở Canada, chứng nhận Bạc ở UK và Vàng ở Úc, Đan Mạch, New ZealandThụy Điển.
  • Made in the USA" được phát hành như là đĩa đơn thứ 2 trong album vào ngày 16 tháng 7 năm 2013. Lovato đã trình diễn ca khúc tại nhiều chương trình, bao gồm Summer Concert Series của Good Morning America vào ngày 28 tháng 6 năm 2013, cũng như tại 2013 Teen Choice Awards. Video âm nhạc được phát hành vào ngày 17 tháng 7 năm 2013.[45] Trong khi nhận được những phản hồi tích cực từ phía những nhà phê bình, ca khúc lại khá khó khăn tại các bảng xếp hạng, chỉ đạt vị trí thứ 80 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Nó lọt vào top 20 tại Bỉ, LibanBồ Đào Nha, cũng như vị trí thứ 40 trên bảng xếp hạng Mainstream Top 40 và vị trí thứ 45 trên bảng xếp hạng Digital Songs của Mỹ.
Một đêm diễn của "Neon Lights Tour"
  • "Neon Lights" là đĩa đơn thứ 3 được phát hành, ra mắt vào ngày 19 tháng 11 năm 2013. Vào ngày 29 tháng 9 năm 2013, Lovato thông báo tên tour diễn sắp tới của cô sẽ là "Neon Lights Tour" và không lâu sau đó thì "Neon Lights" được phát hành.[46][47][48] Ca khúc, cùng với những giai điệu dance điện tử nổi bật, mang lại một phong cách mới cho Demi Lovato khi mà trước đây cô được biết đến nhiều với những ca khúc pop ballad. Ca khúc nhận được những lời phê bình trái chiều, có người khen ngợi ca khúc, nhưng lại nhưng lại chỉ trích việc sắp đặt nó trong album. Mặc dù ca khúc này khởi đầu khá tốt cùng với video âm nhạc đi kèm được phát hành vào ngày 21 tháng 11 năm 2013.[49] Ca khúc đã đạt được hạng 2 trên bảng xếp hạng nhạc Dance của Ukraine. Ca khúc đã khá thành công ở thị trường quốc tế, đáng kể là ở New Zealand, nơi đạt được ví trí thứ 12 và chứng nhận Vàng. Nó đạt hạng 36 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, giữ ở vị trí này ba tuần không liên tiếp. Nó cũng nắm giữ vị trí đầu bảng tại Hot Dance Club SongsMỹ và trở thành đĩa đơn thứ ba của Lovato lọt vào top 10 tại Mainstream Top 40, ở vị trí thứ 7. Nó đã được chứng nhận Bạch kim tại Mỹ.
  • "Really Don't Care" hát cùng với ca sĩ thu âm người Anh Cher Lloyd, là đĩa đơn thứ 4 được phát hành, ra mắt vào ngày 20 tháng 5 năm 2014. Một tuần trước khi chính thức phục vụ cho radio ở Mỹ, đĩa đơn đạt hạng thứ 40 tại bảng xếp hạng Mainstream Top 40.

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hátSáng tác Nhà sản xuất Thời lượng
1. "Heart Attack"  
  • Demi Lovato
  • Mitch Allan
  • Jason Evigan
  • Sean Douglas
  • Nikki Williams
  • Aaron Phillips
The Suspex 3:30
2. "Made in the USA"  
  • Demi Lovato
  • Jonas Jeberg
  • Evigan
  • Corey Chorus
  • Blair Perkins
  • Jeberg
  • Evigan[a]
3:16
3. "Without the Love"  
  • Squire
  • Battleroy
  • David "DQ" Quiñones[b]
3:55
4. "Neon Lights"  
  • Demi Lovato
  • Mario Marchetti
  • Tiffany Vartanyan
  • Ryan Tedder
  • Noel Zancanella
  • Tedder
  • Zancanella
3:53
5. "Two Pieces"  
  • Livvi Franc
  • Allan
  • Evigan
The Suspex 4:25
6. "Nightingale"  
3:36
7. "In Case"  
  • Jake Schmugge
  • Emanuel Kiriakou
  • Priscilla Renea
Kiriakou 3:34
8. "Really Don't Care" (hát cùng Cher Lloyd)
  • Demi Lovato
  • Carl Falk
  • Rami Yacoub
  • Savan Kotecha
  • Cher Lloyd
  • Falk
  • Yacoub
3:21
9. "Fire Starter"  
  • Jarrad "Jaz" Rogers
  • Lindy Robbins
  • Julia Michaels
  • Rogers
  • Quiñones[b]
3:24
10. "Something That We're Not"  
  • Kiriakou
  • Goldstein
3:17
11. "Never Been Hurt"  
  • Demi Lovato
  • Ali Tamposi
  • Evigan
  • Jordan Johnson
  • Marcus Lomax
  • Stefan Johnson
  • Evigan
  • The Monsters and the Strangerz
3:56
12. "Shouldn't Come Back"  
  • Lovato
  • Yacoub
  • Falk
  • Kotecha
  • Yacoub
  • Falk
3:49
13. "Warrior"  
  • Lovato
  • Goldstein
  • Kiriakou
  • Robbins
  • Kiriakou
  • Goldstein
3:51
Notes
  • ^[a] chỉ nhà đồng sản xuất âm thanh
  • ^[b] chỉ nhà xuất âm thanh

Bảng xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày Định dạng Nhãn hiệu
Úc[93] 10 tháng 5 năm 2013 Hollywood Records
New Zealand[94]
Hà Lan[95] Universal Music Group
Na Uy[96]
Thụy Sĩ[97]
Bỉ[98] 13 tháng 5 năm 2013
Cộng hòa Séc[99]
Pháp[100]
Ý[101]
Ba Lan[102]
Bồ Đào Nha[103]
Thổ Nhĩ Kỳ[104]
Tây Ban Nha[105]
Brazil[106] Hollywood Records
Hong Kong[107]
Ấn Độ[108]
Malaysia[109]
Trung Đông[110]
Canada[111] 14 tháng 5 năm 2013
Mỹ[112]
Ireland[113] 17 tháng 5 năm 2013 Universal Music Group
UK[114] 20 tháng 5 năm 2013
Đức[115] 30 tháng 5 năm 2013
Nhật Bản[116] 18 tháng 8 năm 2013 Avex Trax
Mexico[117] 15 tháng 4 năm 2014
  • CD (phiên bản sang trọng)
  • DVD
Universal Music Group
Brazil[118] 18 tháng 4 năm 2014

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c “Demi Lovato, 'Demi': Track-By-Track Review”. Billboard. Ngày 9 tháng 5 năm 2013. 
  2. ^ “Radio Industry News, Music Industry Updates, Nielsen Ratings, Music News and more!”. FMQB. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2014. 
  3. ^ a ă â Lipshutz, Jason (ngày 13 tháng 5 năm 2013). “Demi Lovato Q&A: On 'Demi,' Her 'X Factor' Return and Being Sick of Party Songs”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2013. 
  4. ^ “Demi Lovato on HollywoodRecords.com”. Hollywood Records. 
  5. ^ “Demi Lovato – Chart history”. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2013. 
  6. ^ “P!nk Powers to No. 1 On Hot 100 With 'Just Give Me A Reason'. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2013. 
  7. ^ “Demi Lovato Preps 'Made In The USA' Single”. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2013. 
  8. ^ Garibaldi, Christina (ngày 29 tháng 5 năm 2014). “Demi Lovato Is 'SO Excited' For Her World Tour: Check Out The Dates”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2014. 
  9. ^ TV News Desk (ngày 29 tháng 5 năm 2014). “DEMI LOVATO Announces North American Dates for World Tour”. Broadway World. Wisdom Digital Media. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2014. 
  10. ^ “Demi Lovato Starts Work on Her Fourth Album”. Sawfnews.com. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2013. 
  11. ^ Garibaldi, Christina (ngày 17 tháng 5 năm 2013). “Demi Lovato Talks About People Who Inspired Demi's 'Emotional' Songs”. MTV. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2013. 
  12. ^ “Demi Lovato, 'Demi': Track-By-Track Review”. Billboard. Ngày 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2013. 
  13. ^ “Demi Lovato's Upcoming Album Gets a Release Date, and We Have the Details!”. teenvogue.com. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013. 
  14. ^ Lipshutz, Jason (ngày 6 tháng 5 năm 2013). “Demi Lovato Unveils 'Demi' Album with 'Release Timer' Twitter Campaign”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2013. 
  15. ^ Hernandez, Brian Anthony (ngày 6 tháng 5 năm 2013). “Demi Lovato Is Premiering Songs Based on Intensity of Tweets”. Mashable. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2013. 
  16. ^ Vena, Jocelyn (ngày 11 tháng 6 năm 2013). “Demi Lovato's 'Candid' E-Book Takes Fans Behind The Scenes - Music, Celebrity, Artist News”. MTV.com. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2013. 
  17. ^ a ă “Demi Lovato Explains How 'Give Your Heart a Break' Influenced 'Demi': Video”. Billboard. Prometheus Global Media. Ngày 29 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2013. 
  18. ^ a ă Peter Robinson (ngày 11 tháng 7 năm 2013). “Demi Lovato: 'If you want to be famous, just make a sex tape'. London: Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2013. 
  19. ^ “Demi Lovato talks new album: 'I'm aiming for global success' - Music Interview”. Digital Spy. Ngày 29 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2013. 
  20. ^ Ugen, Rume (ngày 4 tháng 7 năm 2013). “Demi Lovato Releases 'Made In The USA' Just In Time For Independence Day”. Entertainmentwise. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2013. 
  21. ^ Vena, Jocelyn (ngày 4 tháng 7 năm 2013). “Demi Lovato's Fourth Of July Single 'Made In The USA' Is About 'Real Love'. MTV News. Viacom International, Inc. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2013. 
  22. ^ a ă Busis, Hillary (ngày 7 tháng 5 năm 2013). “Demi Lovato's new album 'Demi' now streaming online - read EW's review here”. Music-mix.ew.com. 
  23. ^ Loading... (ngày 16 tháng 6 năm 2013). “Demi Lovato: Making New Album Was 'Very Therapeutic'. EntertainmentWise. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2014. 
  24. ^ Demi Reviews”. Metacritic. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013. 
  25. ^ Thomas, Stephen. “Demi - Demi Lovato: Songs, Reviews, Credits, Awards”. AllMusic. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2013. 
  26. ^ “Demi Lovato "Demi" Album Review — 5 out of 5 stars @ARTISTdirect”. Artistdirect.com. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2013. 
  27. ^ By Jody Rosen. “Demi Lovato, 'Demi'. Rolling Stone. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2013. 
  28. ^ Melinda Newman. “Demi Lovato's new album 'Demi': Review”. HitFix. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2013. 
  29. ^ a ă â Garland, Emma (ngày 20 tháng 8 năm 2009). “ATP! Album Review: Demi Lovato - Demi”. Alter The Press!. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2014. 
  30. ^ Jon Caramanica and Nate Chinen (ngày 13 tháng 5 năm 2013). “New Albums by Demi Lovato and Talib Kweli”. The New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013. 
  31. ^ Palmer, Natalie (ngày 20 tháng 5 năm 2013). “By Natalie Palmer On ngày 20 tháng 5 năm 2013 Album Review: Demi, Demi Lovato”. Entertainmentwise. 
  32. ^ Hirsh, Marc. “ALBUM REVIEW: Demi Lovato, 'Demi' - Music”. The Boston Globe. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013. 
  33. ^ Sepinwall, Alan (ngày 14 tháng 5 năm 2013). “Demi Lovatos new album Demi: Review”. Hitfix.com. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2014. 
  34. ^ “Week Ending ngày 19 tháng 5 năm 2013. Albums: Strait Ties McCartney”. yahoo.com. Ngày 22 tháng 5 năm 2013. 
  35. ^ a ă Jones, Alan (ngày 27 tháng 5 năm 2013). “Official Charts Analysis: Daft Punk LP sells 165k to hit No.1”. Music Week. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013. 
  36. ^ “Twitter / ddlchartingnews: US Album Sales: DEMI by @ddlovato”. Twitter.com. Ngày 24 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2014. 
  37. ^ “WORLD PREMIERE: Listen to Demi Lovato's New Song 'Heart Attack'. Ryan Seacrest. Ngày 24 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2013. 
  38. ^ “FLOP ATTACK (Legal Title) BMI Work #15436573”. BMI Repertoire. 
  39. ^ Vena, Jocelyn (ngày 12 tháng 2 năm 2013). “Demi Lovato Gives Lovatics A 'Flop Attack' – Music, Celebrity, Artist News”. MTV.com. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2013. 
  40. ^ “Baauer's 'Harlem Shake' Still Atop Hot 100, Although Lead Shrinks”. Billboard. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2014. 
  41. ^ “Demi Lovato "Heart Attack" Music Video Shoot”. Disney Dreaming. Ngày 14 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2013. 
  42. ^ “Demi Lovato To Release 'Demi' Album In May”. Billboard. Ngày 1 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2013. 
  43. ^ “Demi Lovato – Flop Attack”. weKOSH. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2013. 
  44. ^ “Video: Demi Lovato Performs "Heart Attack" On 'Jimmy Kimmel Live'. Neon Limelight. Ngày 2 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2013. 
  45. ^ Lovato, Demi. “Demi Lovato - Made in the USA (Official Video)”. YouTube. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2013. 
  46. ^ Kitchener, Shaun (ngày 27 tháng 9 năm 2013). “Demi Lovato Announces 'Neon Lights' As New Single (LISTEN)”. Entertainmentwise. Entertainmentwise.com. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2013. 
  47. ^ Harris, Jamie (ngày 30 tháng 9 năm 2013). “Demi Lovato announces 'The Neon Lights' tour for 2014”. Digital Spy. Digitalspy.co.uk. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2013. 
  48. ^ Vena, Jocelyn (ngày 30 tháng 9 năm 2013). “Demi Lovato's Neon Lights Tour Kicking Off On Valentine's Day”. MTV. MTV.com. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2013. 
  49. ^ Lovato, Demi (ngày 21 tháng 11 năm 2013). “Demi Lovato - Neon Lights (Official)”. YouTube. 
  50. ^ Demi Lovato – Demi – Only at Target (ngày 27 tháng 3 năm 2013). “Demi Lovato – Demi – Only at”. Target. 
  51. ^ “Demi - Album by Demi Lovato”. iTunes. Ngày 17 tháng 5 năm 2013. 
  52. ^ “CDJapan: Demi - Demi Lovato”. CDJapan. Ngày 29 tháng 3 năm 2014. 
  53. ^ a ă “デミ -デラックス・エディション- (ALBUM+DVD) [CD+DVD]”. Amazon.co.jp. Ngày 29 tháng 3 năm 2014. 
  54. ^ a ă “Demi - Deluxe - DVD + CD”. Livraria Saraiva. Ngày 29 tháng 3 năm 2014. 
  55. ^ “Demi Lovato – Demi”. ARIA Charts. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2013. 
  56. ^ “Demi Lovato - CAPIF Album Charts”. CAPIF. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013. 
  57. ^ a ă “Demi Lovato – Demi”. Recording Industry Association of New Zealand. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013. 
  58. ^ a ă â b c d “Demi Lovato – Demi”. Ultratop. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013. 
  59. ^ “Brazil Top Albums”. Portal Sucesso. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2014. 
  60. ^ “Demi Lovato - Chart History - Canadian Albums”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2013. 
  61. ^ Demi Lovato on Top of the Shops”. HDU. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2013. 
  62. ^ “Nielsen Czech Albums Chart”. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2013. 
  63. ^ “Demi Lovato - Demi”. Dutch Charts. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013. 
  64. ^ “France Albums Top 150 - Music Charts”. Acharts.us. Ngày 13 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2013. 
  65. ^ “Demi Lovato - Demi - Music Charts”. Acharts.us. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2013. 
  66. ^ “Demi Lovato – Demi”. IFPI Greece. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2013. 
  67. ^ “Top 100 Individual Artist Albums”. IRMA. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2013. 
  68. ^ “Classifica settimanale dal 20/05/2013 al 26/05/2013”. Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2013. 
  69. ^ “「デミ」 デミ・ロヴァート│オリコン芸能人事典-ORICON STYLE”. Oricon.co.jp. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2013. 
  70. ^ “Top 100 México – Semana Del 13 al 19 de Mayo 2013” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013. 
  71. ^ “Demi Lovato – Demi”. Norwegian Albums Chart. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013. 
  72. ^ “Oficjalna Lista Sprzedazy”. OLiS (bằng tiếng Ba Lan). Polish Music Charts. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013. 
  73. ^ “Demi Lovato – Demi”. Portuguese Albums Chart. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2013. 
  74. ^ “Scottish Albums Top 40 - 1st June 2013”. The Official UK Charts Company. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2013. 
  75. ^ “Spanishcharts.com – Demi Lovato – Demi”. PROMUSICAE. Hung Medien. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2013. 
  76. ^ “Taiwanese Albums Chart”. g-music. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013. 
  77. ^ “Top 40 Official UK Albums Chart (ngày 1 tháng 6 năm 2013)”. The Official UK Charts Company. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2013. 
  78. ^ Caulfield, Keith (ngày 22 tháng 5 năm 2013). “Vampire Weekend Debuts at No. 1 on Billboard 200 Chart”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2013. 
  79. ^ “Argentine Yearly Albums 2013”. capif. Ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2014. 
  80. ^ “Year End Belgian Albums Chart 2013”. ultratop. Ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2014. 
  81. ^ “Year End Chart Brazil 2013”. fotpforums.com. Ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2013. 
  82. ^ “FIMI - Federazione Industria Musicale Italiana - Primo piano”. Fimi.it. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2014. 
  83. ^ “Los Más Vendidos 2013” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas (AMPROFON). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2014. 
  84. ^ “Music Charts, Most Popular Music, Music by Genre & Top Music Charts”. Billboard.com. Ngày 12 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2013. 
  85. ^ “Argentina album certifications – Demi Lovato – Demi”. Argentine Chamber of Phonograms and Videograms Producers. 
  86. ^ “Brasil album certifications – Demi Lovato – Demi” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2014. 
  87. ^ “Canada album certifications – Demi Lovato – Demi”. Music Canada. 
  88. ^ “Demi Lovato sigue cosechando triunfos” (bằng tiếng Tây Ban Nha). generacion21. Ngày 10 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013. 
  89. ^ “Demi Lovato with her certification plaque for her fourth studio album Demi going Gold in Ecuador” (bằng tiếng Anh). ustcatchmedemi. Ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2014. 
  90. ^ “Certificaciones – Demi Lovato” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. 
  91. ^ “American album certifications – Demi Lovato – Demi” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  92. ^ “Ask Billboard: Shakira's Biggest Hot 100 Hits”. Billboard. Gary Trust. Ngày 7 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  93. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  94. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  95. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  96. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  97. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  98. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  99. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  100. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  101. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  102. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  103. ^ “Demi Lovato lança "Demi" em Maio”. MYWAY. MYWAY. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2013. 
  104. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  105. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  106. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  107. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  108. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2013. 
  109. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  110. ^ “Connecting to the iTunes Store”. Itunes.apple.com. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013. 
  111. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2013. 
  112. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2013. 
  113. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  114. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2013. 
  115. ^ “Demi – Album by Demi Lovato”. iTunes Store. Apple. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  116. ^ “Amazon.co.jp: デミ -デラックス・エディション- (ALBUM+DVD): 音楽”. Amazon.com. Amazon Japan. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2013. 
  117. ^ “Demi (Deluxe)”. sanborns.com. 
  118. ^ “Demi - Deluxe - DVD + CD”. Livraria Saraiva. Livraria Saraiva. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2014.