Demi Lovato

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Demi Lovato
DemiLovato2013,2.jpg
Lovato tại Inaugural Dignity Gala vào ngày 18 tháng 10, 2013
Sinh Demetria Devonne Lovato
20 tháng 8, 1992 (23 tuổi)
Albuquerque, New Mexico, Mỹ
Nơi cư trú Los Angeles, California, Mỹ
Công việc Ca sĩ, người viết bài hát, nhà từ thiện, diễn viên
Năm hoạt động 2002–nay
Chương trình TV Barney and Friends, As the Bell Rings, Sonny with a Chance, The X Factor, Glee
Người thân Madison De La Garza (em gái cùng mẹ khác cha)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
  • Giọng hát
  • guitar
  • piano
Hãng đĩa Hollywood
Hợp tác với Jonas Brothers
Website

demilovato.com

Demi Lovato Signature.svg
Chữ kí của Demi Lovato

Demetria Devonne "Demi" Lovato (sinh ngày 20 tháng 8, 1992)[5] là một nữ diễn viên, ca sĩ và người viết bài hát người Mỹ, cô ra mắt công chúng với vai diễn thiếu nhi đầu tay trong loạt phim Barney & Friends. Năm 2008, cô nhận được sự chú ý với vai diễn Mitchie Torres trong bộ phim điện ảnh truyền hình của kênh Disney Channel, Camp Rock, và sau đó cô đã ký một hợp đồng thu âm với Hollywood Records. Cô phát hành album phòng thu đầu tay của mình, Don't Forget, vào tháng 9 năm đó; album ra mắt tại vị trí á quân trên bảng xếp hạng US Billboard 200 và đã được chứng nhận đĩa Vàng từ Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) với tổng doanh số đạt hơn 530,000 bản. Năm 2009, Lovato tham gia vào chương trình truyền hình riêng của cô, Sonny with a Chance. Album thứ hai của cô, Here We Go Again, được phát hành vào tháng 7 cùng năm và ra mắt tại vị trí quán quân trên bảng xếp hạng U.S Billboard 200, và đã được chứng nhận đĩa Vàng từ Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) với tổng doanh số lên tới hơn 650,000 bản. Bài hát chủ đề của album trở thành đĩa đơn đầu tiên của cô lọt vào top 20 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100, với vị trí thứ 15, và đã nhận được chứng nhận Bạch kim.

Sau khi tham gia vào các bộ phim truyền hình và album nhạc phim trong năm 2010, các vấn đề cá nhân của Lovato khiến cô phải tạm thời vắng bóng một thời gian, đồng thời kết thúc Sonny with a Chance sau chỉ hai mùa phim. Album phòng thu thứ ba của cô, Unbroken (2011), đã ít nhiều nói về những khó khăn mà cô phải đối mặt trong thời gian này. Đĩa đơn đầu tiên, "Skyscraper", trở thành đĩa đơn top 10 đầu tiên của Lovato đồng thời cũng là đĩa đơn đầu tiên của cô được chứng nhận đĩa Bạch kim tại Mỹ; đĩa đơn thứ hai, "Give Your Heart a Break", đã được chứng nhận ba đĩa Bạch kim. Lovato là giám khảo và người cố vấn cho phiên bản Mỹ của The X Factor trong năm 2012 và 2013. Album phòng thu thứ tư của Lovato, lấy tựa là Demi (2013), có doanh số tuần đầu đạt 110,000 bản (doanh số tuần ra mắt cao nhất trong sự nghiệp của cô). Đĩa đơn đầu tiên, "Heart Attack", trở thành đĩa đơn top 10 thứ hai của cô trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. "Heart Attack" ngoài ra cũng đạt vị trí thứ 3 tại Liên hiệp Anh, trở thành đĩa đơn có xếp hạng cao nhất và cũng là đĩa đơn đầu tiên công phá top 10 tại Anh.

Lovato đã nhận được một số các giải thưởng đáng chú ý, tiêu biểu là các giải thưởng và đề cử từ Giải Video âm nhạc của MTV, Giải Sự lựa chọn của Giới trẻ, Giải Sự lựa chọn của Công chúng, Giải ALMAGiải Chuyến lưu diễn của Billboard. Năm 2013, Maxim xếp cô thứ hạng 26 trong danh sách Hot 100 của tạp chí này, và Billboard cũng xếp cô vào vị trí thứ hai trong danh sách 50 Nghệ sĩ của năm. Cô ngoài ra cũng là một người ủng hộ cộng đồng LGBT.[6]

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1992–2006: Những năm tháng đầu đời và bắt đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Demetria Devonne Lovato được sinh ra vào ngày 20 tháng 8, 1992 tại AlbuquerqueNew Mexico. Demi mang trong mình dòng máu Mexico, Ai-lenÝ.[7][8][9][10] Cô có 1 người chị, Dallas Lovato, cũng là một diễn viên, ca sĩ lớn hơn cô 5 tuổi; và em gái cùng mẹ khác cha, Madison DeLaGaraza.

Mẹ cô, Diana Hart là một ca sĩ nhạc đồng quê và bố cô, Patrick chuyển đến sống ở New Mexico sau khi ly hôn năm 1994[11][12]. Ông có vấn đề về sức khoẻ nên rất ít khi gặp Demi. Nhưng cả hai đã gặp nhau lần đầu tiên sau 4 năm vì một chuyến thăm bất ngờ của Demi vào tháng 2 năm 2008. Demi theo học tại Trung học Cross Timbers, sau đó học nhà để có thể tiếp tục sự nghiệp [13] Lovato đã có được một tấm bằng tốt nghiệp Giáo Dục Tại Nhà vào tháng 4 năm 2009[14]

Demi là một ca sĩ, diễn viên kiêm nhạc sĩ, cô đã chơi guitar từ năm 11 tuổi.

Demi Lovato bắt đầu đóng phim từ năm 6 tuổi, cô gặp Selena Gomez khi 2 người cùng đóng trong series Barney & Friends và trở thành bạn thân. Sau đó, cô theo đuổi sự nghiệp ca hát kiêm chơi nhạc cụ, và xuất hiện với vai trò diễn viên hài và là vai chính trong Prison Break, Split Ends và Just Jordan.

2007–08: Camp Rock và Don't Forget[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007 và 2008, Lovato đảm nhận vai diễn Charlotte Adams trong loạt phim ngắn As the Bell Rings của kênh Disney Channel, series này đã khởi chiếu ngày 26/8/2007 trong chương trình đặc biệt Back-to-school của Disney. Tuy nhiên, Demi được biết đến nhiều hơn cả, khi là diễn viên chính của phim truyền hình Camp rock, một bộ phim tuổi teen của hãng Disney, tham gia cùng nhóm nhạc anh em đình đám thời bấy giờ - Jonas Brothers. Camp Rock đã ra mắt ngày 20/6/2008.

Album phòng thu đầu tay của Lovato, Don't Forget, được phát hành vào ngày 23 tháng 9, 2008.

2009–10: Sonny With a Chance và Here We Go Again[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đó, Demi đã được chọn làm diễn viên chính của series Welcome to Mollywood, khởi quay vào tháng 9 năm 2008. Sau đó, để phù hợp với thị trường, Díneyy đã đổi tên series này thành Sonny with a chance rồi khởi chiếu vào 8/2/2009.

Album phòng thu thứ hai của Lovato, Here We Go Again, được phát hành vào ngày 21 tháng 7, 2009; cô miêu tả phong cách acoustic của album khá là tương đồng với John Mayer.

Cô xếp thứ hai trong cuộc bầu chọn Hottest Star của BOP Magazine vào tháng 9 năm 2008.Tuy nhiên, Demi Lovato mới bắt đầu thực sự được giới trẻ biết đến sau khi đóng bộ phim Camp Rock cùng với ban nhạc gia đình nổi tiếng Jonas Brothers.

Một trong những thần tượng của Lovato là Christina Aguilera, Kelly Clarkson, nhóm Paramore. Lovato cũng từng vừa đệm đàn piano vừa hát lại ca khúc "Mercy on Me" của Aguilera.[15]

2010–12: Unbroken và The X Factor[sửa | sửa mã nguồn]

Vào khoảng năm 2010, Demi đã vấp phải những sóng gió lớn. Cô nàng gặp phải những vấn đề về chứng rối loạn ăn uống, nỗi ám ảnh về việc bị ăn hiếp, bắt nạt ở trường trung học [16]., cùng những thăng trầm của cuộc tình với Joe Jonas, Lovato đã quyết định tìm đến Trung tâm điều trị đặc biệt, để ổn định tinh thần, tâm lí cho chính mình[17].

Đến ngày 28 tháng 1 năm 2011, Demi đã trở lại với vai trò ca sĩ sau khi trải qua quãng đường tăm tối nhất của cuộc đời mình. Những người hâm mộ cô - Lovatic - đã lấy ngày này, tự đặt là Ngày Lovatics (Lovatics Day) để tự nhủ mình luôn sống mạnh mẽ như Demi Lovato [18].

Lovato đã trở lại cùng single Skyscraper cùng thông điệp vô cùng mạnh mẽ tới khán giả "Stay Strong". Skyscraper [19] ra mắt ngày 11/7/2011 và là single mở đường cho album phòng thu thứ 3 Unbroken của cô (bán ngày 20/9/2011) [20].

Skyscraper đã được đề cử và thắng giải Video cùng thông điệp xuất sắc nhất (Best Video with a Message) tại MTV Video Music Awards 2012 [21]. Cô cũng đã trình diễn single đình đám khác của mình Give Your Heart A Break (trích từ album Unbroken) tại VMAs năm đó.

Không lâu sau, tháng 6 năm 2012, Demi được Simon Cơwell mời làm giám khảo cho chương trình truyền hình thực tế Nhân tố Bí ẩn phiên bản Mỹ (The X Factor US). Demi đã vô cùng hạnh phúc khi được ngồi ghế nóng của cuộc thi này và trải nghiệm những việc mà cô chưa từng trải qua. Theo đó, Lovato là nữ giám khảo trẻ tuổi nhất thế giới (19 tuổi). Demi cùng Simon đã có những giây phút hài hước trong chương trình này.

Lovato cũng đã khá thành công trong mùa thứ hai của The X Factor USA (2013). Tuy nhiên, vào cuối năm 2013, sau khi kết thúc mùa 2, nữ giám khảo trẻ đã tuyên bố rút lui khỏi chương trình mùa thứ ba, để tập trung vào Tour diễn Neon Lights và album phòng thu mới. Sau đó, Simon cũng đã quyết định tạm dừng The X Factor, ông chia sẻ: "Thiếu đi Demi Lovato, chương trình sẽ không còn hấp dẫn nữa...". Ông cũng đã quyết định tạm dừng mùa ba của The X Factor USA và trở lại ghế nóng The X Factor UK 2014.

2013–14: Demi và Glee[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 2 năm 2013, Demi đã đổi toàn bộ ảnh bìa, ảnh đại diện trên tất cả các trang web, trang cá nhân của mình thành màu đen. Điều này đã khiến tất cả các Lovatic tò mò và vô cùng sốt ruột. Ngay sau đó, Lovato đã tung trailer đầy bí ẩn trên youtube cùng ảnh bìa cho single mới Heart Attack, mở đường cho album thứ tư Demi. Heart Attack dự kiến ra mắt đầu tháng 3 năm 2013. Trong thời gian này, cộng đồng mạng đã truyền tay nhau một bản audio được cho là nhạc nền của Heart Attack, khiến không ít người tò mò. Tuy nhiên, đó chỉ là một bản nhạc nền do một trang nhạc cá nhân tự làm. [[Hình:DemiHeartAttack.jpeg|nhỏ|200px|Bìa single Heart Attack]]

Ngày 25 tháng 2, chưa đến ngày ra mắt, Heart Attack đã bị rò rỉ nhanh chóng trên các trang mạng. Cùng lúc này, Demi đã nhanh chóng tham gia show "On Air With Ryan Secrest" để công bố bản audio cho Heart Attack. Ca khúc đã nhanh chóng đạt vị trí số một trên trang nhạc số nổi tiếng iTunes Hoa Kì, và đứng đầu iTunes của 16 quốc gia khác trong đó có Việt Nam. Heart Attack là bản thu cực kì tuyệt vời, mở đầu bằng đoạn electro lạ tai, ca khúc lại khoe được chất giọng vừa cao vút vừa khỏe khoắn, khiến người ta thích thú. Video cho Heart Attack ra mắt 9/4/2013 với 15 triệu lượt xem xong tuần đầu ra mắt trên Youtube. Heart Attack đã được 2 lần chứng nhận bạch kim tại Mỹ và đến nay vẫn là single thành công nhất của cô nàng.

Ngày 14/5/2013, Demi đã cho ra mắt album Demi trên toàn cầu. Album này đã đứng thứ 3 trong tuần đầu tiên ra mắt trên Billboard 200, đứng vị trí số 1 tại iTunes của hơn 50 quốc gia, trong đó Việt Nam.

Những single tiếp theo từ album Demi gồm có "Made In The USA", "Neon Lights", "Really Don't Care" (feat. Cher Lloyd) đều có video chất lượng nhưng đều chưa có được thành công như Heart Attack.

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các phim điện ảnh
Năm Tên Vai Ghi chú
2008 Camp Rock Mitchie Torres Phim điện ảnh truyền hình
2009 Jonas Brothers: The 3D Concert Experience Chính cô
2009 Princess Protection Program Princess Rosalinda/Rosie Gonzalez Phim điện ảnh truyền hình
2010 Camp Rock 2: The Final Jam Mitchie Torres Phim điện ảnh truyền hình
2012 Demi Lovato: Stay Strong Chính cô Phim tài liệu truyền hình
TBA Charming Lenore Lồng tiếng [22]
Danh sách các chương trình truyền hình
Năm Tên Vai Ghi chú
2002–04 Barney & Friends Angela Vai chính (Mùa 7–8)
2006 Prison Break Danielle Curtin "First Down" (Mùa 2, tập 4)
2007–08 As the Bell Rings Charlotte Adams Vai chính (Mùa 1)
2007 Just Jordan Nicole "Slippery When Wet" (Mùa 2, tập 6)
2008 Jonas Brothers: Living the Dream Chính cô "Hello Hollywood" (Mùa 1, tập 7)
"Health Kick" (Mùa 1, tập 8)
2008 Studio DC: Almost Live Chính cô "The Second Show" (Mùa 1, tập 2)
2009–11 Sonny with a Chance Sonny Munroe Vai chính
2010; 2011 Extreme Makeover: Home Edition Chính cô "Williams Family" (Mùa 7, tập 24)
"Walker Family" (Mùa 9, tập 10)
2010 Grey's Anatomy Hayley "Shiny Happy People" (Mùa 6, tập 22)
2011 Keeping Up with the Kardashians Chính cô "Kim's Fairytale Wedding: A Kardashian Event, Part 2" (Mùa 6, tập 15)
2012 Punk'd Chính cô "Nick Cannon" (Mùa 9, tập 6)
2012–13 The X Factor Chính cô / giám khảo / cố vấn Mùa 2–3
2013–14 Glee Danielle "Dani" Vai định kỳ (Mùa 5)
2015 RuPaul's Drag Race Chính cô / Giám khảo khách mời

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn bản[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Demi Lovato Is Unveiling Something Big In 2015”. People's Choice. Sidney Madden. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2015. 
  2. ^ “Demi Lovato reviews, music, news - sputnikmusic”. Sputnikmusic.com. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ Matt Collar. “Demi Lovato – Music Biography, Credits and Discography”. AllMusic. All Media Network. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2013. 
  4. ^ Melissa Maerz (20 tháng 9 năm 2011). “Review: Demi Lovato's 'Unbroken'”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  5. ^ “Demi Lovato Biography – Facts, Birthday, Life Story”. The Biography Channel. A+E Networks. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013. 
  6. ^ “Demi Lovato Face of Human Rights Campaign's Americans for Marriage Equality - Fuse”. Fuse. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2014. 
  7. ^ “TODAY Pop Culture - Celebrity News, Photos, TV, Movies & Music - TODAY.com”. TODAY. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  8. ^ Biography Today. Detroit, Michigan: Omnigraphics. 2009. tr. 103. ISBN 978-0-7808-1052-5. 
  9. ^ Caramanica, Jon (ngày 15 tháng 7 năm 2009). “Tween Princess, Tweaked”. New York Times. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2009. 
  10. ^ Huff, Richard (19 tháng 6 năm 2008). “'Camp Rock' film could make Demi Lovato a star”. New York Daily News. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2009. 
  11. ^ “Demi Lovato Turns 20, Happy Birthday! Five Things You Didn't Know About Her (SLIDESHOW)”. Huffington Post. Ngày 20 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2013. 
  12. ^ “Demi Lovato - Biography”. People. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2013. 
  13. ^ Caroline Culbertson (ngày 2 tháng 11 năm 2010). “Demi Lovato in rehab: Dad blames Hollywood, acting for her issues”. New York Daily News. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013. 
  14. ^ “Demi Lovato Graduates High School”. Disney Dreaming. Ngày 23 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2011. 
  15. ^ http://www.youtube.com/watch?v=TQIfXtJIKCE
  16. ^ Vấn đề của Demi
  17. ^ Demi cùng phim ngắn Stay Strong
  18. ^ Lovatic Day
  19. ^ Demi và Skyscraper
  20. ^ và album Unbroken
  21. ^ diễn tại VMAs
  22. ^ McNary, Dave (17 tháng 2 năm 2015). “Demi Lovato Joins Animated 'Charming' Movie”. Variety. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]