Deoxyribonucleotide

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Sơ đồ hình thành bốn loại đêôxyribônuclêôtit: A, T, G và C (hay X).

Deoxyribonucleotide (đêôxyribônuclêôtit) là nuclêôtit của phân tử ADN. Mỗi đêôxyribônuclêôtit là một đơn vị cấu tạo nên đại phân tử sinh học ADN, nên cũng gọi là đơn phân của ADN.[1][2][3][4] Đây là một thuật ngữ trong sinh hoá học, thường được viết tắt là dNP dùng để chỉ đơn vị cơ bản hợp thành đại phân tử ADN.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mỗi dNP (đêôxyribônuclêôtit) thông thường bao gồm ba phân tử thuộc ba loại khác nhau, liên kết với nhau hợp thành:[2][5][6]

- một phân tử bazơ nitơ (nitrogenous base),

- một phân tử đường 5C loại đêoxyribôza (C5H10O4),

- một phân tử axit phôtphoric (H3PO4).

  • Trong mỗi dNP (đêôxyribônuclêôtit), thì đường và phôtphat chỉ có một loại, nhưng bazơ nitơ có thể là một trong bốn loại (A, T, G, X) là ít nhất, nên có ít nhất bốn loại dNP khác nhau, dựa vào đó mà tên gọi của mỗi loại khác nhau như sau:

- dAMP (deoxyadenosine monophosphate): bazơ nitơ là A,

- dTMP (deoxythymidine monophosphate): bazơ nitơ là T,

- dGMP (deoxyguanosine monophosphate): bazơ nitơ là G,

- dCMP (deoxycytidine monophosphate) có bazơ nitơ là X (trong tiếng Anh viết tắt là C).

Ở trường hợp có nhiều hơn một gốc phôtphat liên kết với C5 của đường 5C, thì từ "mono" (một) trong tên thay đổi thành "di" (nếu có hai) hoặc thành "tri" (nếu có ba phôtphat) - như ATP tức adenosine triphosphate.

Phân biệt với rNP[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ đồ cấu tạo phân tử ribôza.

rNP (ribônuclêôtit) là đơn phân của ARN, có thành phần cơ bản như dNP, chỉ khác ở hai điểm chính:

  • Đường pentôza (đường 5C) ở ARN là ribôza (C5H10O5 nghĩa là thêm một proton (-H) ở nguyên tử Cacbon số 2 (C2').
  • Bazơ nitơ không có timin (T), mà thay bằng uraxin (U).

Cấu tạo chuỗi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong phân tử axit nucleic, các đơn phân (là rNP hoặc dNP, gọi chung là nuclêôtit) đều liên kết với nhau thành chuỗi polynuclêôtit. Sự liên kết này do phản ứng trùng ngưng giữa gốc phosphate của nuclêôtit này với cacbon số 3 (C3') ở nuclêôtit liền kề, tạo thành liên kết phôtphođieste (phosphodiester bond) theo chiều 5'P (nhóm phôtphat gắn với đường 5C ở C5') đến nhóm 3'OH (nhóm -OH tự do ở đường 5C vị trí C3') của nuclêôtit.

Tuy cả ADN và ARN đều có cấu trúc cơ bản như trên và là các phân tử ổn định, nhưng ADN ổn định cao hơn do thường có cấu trúc hai mạch, còn ARN dễ bị thuỷ phân hơn.[8] Theo giả thuyết này, thì việc loại bỏ nhóm hydroxyl của ribôza trong quá trình tiến hoá là một sự kiện quan trọng giúp ADN là cơ sở vật chất di truyền chủ yễu thay cho ARN tự sao (ribôzym).[9]

Nguồn trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Campbell và cộng sự: "Sinh học" - Nhà xuất bản Giáo dục, 2010.
  2. ^ a ă Phạm Thành Hổ: "Di truyền học" - Nhà xuất bản Giáo dục, 1998.
  3. ^ Đỗ Lê Thăng: "Di truyền học" - Nhà xuất bản Giáo dục, 2005.
  4. ^ “deoxyribonucleotide”. 
  5. ^ "Sinh học 12" - Nhà xuất bản Giáo dục, 2019.
  6. ^ Coghill, Anne M.; Garson, Lorrin R. biên tập (2006). The ACS style guide: effective communication of scientific information (ấn bản 3). Washington, D.C.: American Chemical Society. tr. 244. ISBN 978-0-8412-3999-9. 
  7. ^ Đỗ Quý Hai và cộng sự: "Giáo trình Hoá sinh" - Nhà xuất bản Đại học Huế.
  8. ^ Wang S; Kool E.T., Origins of the large differences in stability of DNA and RNA helices: C-5 methyl and 2'-hydroxyl effects. Biochemistry 34(12):4125-32 (Marzo, 1995)PubMed
  9. ^ Berg's Biochemistry. Section 2.2.7 - DNA Is a Stable Storage Form for Genetic Information

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]