Bước tới nội dung

Dharani

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bản thảo Phật giáo Pancaraksa thế kỷ 11 bằng chữ Pāla. Đây là văn bản thể loại dharani về phép thuật, ơn huệ và nghi lễ nữ thần.

Dharani (tiếng Phạn: धारणी, tiếng Hán: 陀羅尼, phiên âm: đà-la-ni) là một thuật ngữ trong Phật giáo, chỉ các đoạn chú văn có khả năng giữ gìn, che chở chân lý và thiện pháp. Dharani có liên hệ chặt chẽ với thần chú (mantra), nhưng thường dài hơn và mang nội dung sâu rộng hơn, được xem như một phương tiện để ghi nhớ và thực hành giáo pháp.[1]

Khái niệm

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ "dharani" bắt nguồn từ động từ Phạn "dhṛ" (giữ, mang), có nghĩa là "cái giữ gìn" hay "cái bảo hộ". Dharani được xem như những công thức có khả năng gìn giữ trí nhớ, củng cố niềm tin và bảo vệ người hành trì khỏi tà ma hoặc các nguy hại.[2]

Trong văn hóa Phật giáo Đông Á, dharani được phiên âm, chép bằng chữ Hán mà không dịch nghĩa, do tính chất thần bíthiêng liêng. Dharani có thể được tụng niệm, sao chép, in ấn, mang theo người như một vật hộ thân, hoặc đặt trong tháp, tượng Phật như một hình thức tích phúc.

Vai trò trong Phật giáo

[sửa | sửa mã nguồn]

Dharani xuất hiện trong nhiều kinh điển Đại thừa như Kinh Kim Quang Minh, Kinh Đại Bảo Tích, Kinh Dược Sư, và nhiều bản kinh mật giáo. Trong Mật tông, dharani được xem là một phần thiết yếu trong pháp tu, cùng với các nghi quỹ và hình tượng hộ pháp.

Dharani không chỉ có tác dụng hộ trì mà còn giúp hành giả đạt định lực, tăng cường trí tuệ và chuyển hóa tâm thức. Nhiều truyền thống Phật giáo tin rằng việc tụng niệm dharani đúng pháp có thể mang lại công đức lớn lao và sự bảo hộ từ chư Phật, Bồ tát.[2]

Phân biệt với mantra

[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy cả hai đều là hình thức chú ngữ, dharani thường dài hơn mantra, mang tính tổng quát và hàm chứa toàn bộ tinh túy của kinh văn. Mantra ngắn hơn, thường tập trung vào một vị Phật hoặc Bồ tát nhất định, và được sử dụng phổ biến trong hành trì cá nhân.

Một số dharani tiêu biểu

[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng văn hóa

[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn QuốcViệt Nam, dharani từng được khắc trên gỗ, in bằng kỹ thuật mộc bản hoặc cuộn giấy, một số bản in dharani cổ xưa được coi là tác phẩm in ấn lâu đời nhất trên thế giới, ví dụ như bản Dharani của chùa Bulguksa (Hàn Quốc) từ thế kỷ 8.[3][4][5]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Frits Staal (1991). Harvey P. Alper (biên tập). Understanding Mantras. Motilal Banarsidass. tr. 62–64. ISBN 978-81-208-0746-4., Quote: "[Wayman] stressed the continuity between Vedic and Buddhist mantras and has concluded his survey of Buddhist Tantric mantras by saying, it is... obvious from the present study that the later religious practices of India, such as the Buddhist Tantra, have a profound debt to the Vedic religion". [...] They [Buddhist Yogacara philosophers] distinguish [like Vedic ones], between artha-dharani, mantra-dharani, [...]
  2. ^ a b Richard McBride (2004). Robert Buswell (biên tập). Encyclopedia of Buddhism. Macmillan Reference. tr. 21, 180, 217–218, 253. ISBN 978-0-02-865718-9.
  3. ^ Robert E. Buswell (2004). Encyclopedia of Buddhism. Macmillan Reference. tr. 676. ISBN 978-0-02-865720-2., Quote: "The earliest examples of Buddhist printing involve a type of charm or spell called a dharanI. To date, the oldest printed material that has been discovered is the Korean Mugu chong-gwang tae-darani kyong [dharani]"; Kornicki, Peter (2012). "The Hyakumanto Darani and the Origins of Printing in Eighth-Century Japan". International Journal of Asian Studies. 9 (1). Cambridge University Press: 43–70. doi:10.1017/s1479591411000180. S2CID 146242695.; Peter Kornicki; và đồng nghiệp (2016). "Empress Shōtoku as a Sponsor of Printing". Trong Hildegard Diemberger (biên tập). Tibetan Printing: Comparison, Continuities, and Change. Brill Academic. tr. 47–48.
  4. ^ Masayoshi Sugimoto; David L. Swain (2016). Science and Culture in Traditional Japan. Tuttle. tr. 184 footnote 36. ISBN 978-1-4629-1813-3.
  5. ^ Mark Edward Lewis (2009). China's Cosmopolitan Empire. Harvard University Press. tr. 238. ISBN 978-0-674-03306-1., Quote: "The earliest surviving printed texts are eighth-century samples of Buddhist charms preserved in Korea and Japan. The oldest is a scroll discovered in 1966 in a stone stupa in the Pulguk-sa temple in Kyongju, Korea. [...] Another specimen of the same scroll printed between 764 and 770 has been preserved in Japan."