Diósgyőri VTK

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Diósgyőri VTK
Tập tin:Diosgyori VTK logo.svg
Tên đầy đủDiósgyőr-Vasgyári Testgyakorlók Köre
Biệt danhDiósgyőr
Thành lập6 tháng 2 năm 1910; 111 năm trước (1910-02-06)
SânDiósgyőri Stadion, Miskolc
Sức chứa15.325
Chủ tịchGergely Sántha
Huấn luyện viên trưởngTamás Feczkó
Giải đấuNB I
2018–19NB I, thứ 10
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Mùa giải hiện nay

Diósgyőr-Vasgyári Testgyakorlók Köre, phổ biến hơn là Diósgyőri VTK (tiếng Hungary: [ˈdioːʒɟøːri ˈveːteːkaː]) là một câu lạc bộ thể thao Hungary từ quận Diósgyőr của Miskolc nổi tiếng với đội bóng đá ở đây. Được thành lập vào năm 1910 bởi thanh niên thuộc tầng lớp lao động địa phương, đội bóng chơi ở giải hạng nhất của giải bóng đá Hungary và đã dành phần lớn lịch sử ở hạng cao nhất của bóng đá Hungary. Diósgyőr nổi tiếng với những cổ động viên nhiệt tình - trong những năm qua Diósgyőr có một trong số lượng khán giả trung bình cao nhất trong hạng cao nhất Hungary.[1] Câu lạc bộ đã trải qua thời kỳ hoàng kim đầu tiên vào cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, bao gồm vị trí thứ ba trong mùa giải 1978-79 của Liên đoàn Hungary và hai lần vô địch Cúp Hungary vào năm 19771980.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Huy hiệu và màu sắc[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1910–38: Diósgyőri VTK
  • 1938–45: Diósgyőri MÁVAG SC
  • 1945–51: Diósgyőri VTK
  • 1951–56: Diósgyőri Vasas
  • 1956–92: Diósgyőri VTK Miskolc
  • 1992–00: Diósgyőr FC
  • 2000–03: Diósgyőri VTK
  • 2003–04: DVTK 1910
  • 2004–05: Diósgyőri Balaton FC (sau đó là Diósgyőri VTK-BFC)
  • 2005–07: Diósgyőri VTK
  • 2007–08: Diósgyőri VTK-BORSODI
  • 2008–: Diósgyőri VTK

Nhà sản xuất và nhà tài trợ áo[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng dưới đây trình bày chi tiết các nhà sản xuất và nhà tài trợ áo VTK của Diósgyóri theo năm:

Giai đoạn Nhà sản xuất Nhà tài trợ áo
−2008 saller Szeviép / Regale Klíma
2008  –
2009 Szeviép / É.M.K.
2009–2010 Erreà AVE / Jánosik és TSA. / É.M.K.
2010–2011 AVE
2011–2013 Nike  –
2014–2018 Borsodi
2018– 2Rule Borsodi

Sân vận động và cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Sân nhà của câu lạc bộ là Diósgyőri Stadion đa năng nằm ở Miskolc, Borsod-Abaúj-Zemplén, Hungary. Sức chứa tối đa của sân vận động là khoảng 17 000 khán giả.

Đội bóng thi đấu ở sân này từ năm 1911 đến 1939 gần căn tin của Diósgyőr Ironworks. Sân vận động được khai trương lần đầu tiên vào ngày 25 tháng 6 năm 1939.

Năm 1968 sân vận động đã có những mở rộng lớn và sức chứa đã tăng lên 22.000. Sân vận động sau đó được mở cửa trở lại sau khi cải tạo vào ngày 26 tháng 5 năm 1968. Vào thời điểm đó, nó là sân vận động lớn nhất ở Hungary bên ngoài Budapest. Kỷ lục tham dự cao nhất cho sân vận động được thiết lập vào ngày 27 tháng 11 năm 1968, khi khoảng 35.000 người chứng kiến trận đấu giữa DVTK và Ferencvárosi TC. trong những năm 2000, sức chứa đã giảm xuống còn 15.000 vì lý do an ninh, các phần của sân vận động đã bị đóng cửa khỏi công chúng.

Trước khi phá hủy vào năm 2016, sân vận động có các khu vực sau: Khán đài chính phía tây được xây dựng vào năm 1939. Ba cánh khác được chế tạo vào năm 1968, với bề mặt cỏ và đường chạy có mái che, nơi các trận đấu bóng đá và giải vô địch thể thao được tổ chức. Khu liên hợp chứa một sân tập luyện trên mặt cỏ được xây dựng vào năm 1977, một sân cỏ nhân tạo được xây dựng vào năm 2006, và hai sân khác với lớp phủ than mở ra vào những năm 1960. Các sân cỏ nhân tạo có đèn chiếu sáng. Gần sân vận động có một sân tập được bảo hiểm và một đấu trường quyền anh trước đây được mở lại cho bóng đá vào năm 2009. Mặc dù sân vận động không đáp ứng tiêu chuẩn của nhiều sân vận động châu Âu khác, nhưng đây là đấu trường hiện đại nhất ở Đông Hungary. Đèn pha đã được cài đặt và bắt đầu hoạt động vào ngày 15 tháng 11 năm 2003.

Khán đài chính đã được cải tạo lần đầu tiên vào năm 2005-06, và sau một dự án hiện đại hóa quan trọng, nó đã được khai trương vào ngày 23 tháng 4 năm 2006 với mái che trên 1.504 chỗ ngồi. Vào mùa giải 2009-2010, cánh phía đông của khán đài 40 tuổi đã bị phá hủy. Để kỉ niệm sinh nhật lần thứ 100 của câu lạc bộ, các khán đài có mái che mới được xây dựng với một bữa tiệc buffet, phòng vệ sinh và 3.137 chỗ ngồi trên cái gọi là "Cánh nắng" hay "Napos oldal". Cánh này được đặt tên như vậy bởi vì mặt trời sẽ gây khó khăn cho người hâm mộ khi xem các trận đấu trong cuộc thi buổi chiều. Xây dựng bắt đầu vào ngày 10 tháng 8 năm 2009 và một lễ khai mạc được tổ chức vào ngày 6 tháng 3 năm 2010. Bản nâng cấp 2009-10 có giá 400 triệu HUF. Trong mùa giải 2011-2012, các lĩnh vực đào tạo đã được hiện đại hóa, và hai lĩnh vực bổ sung đã được xây dựng. Hiện tại, có bốn sân tập với đèn pha, hai sân cỏ tự nhiên và 2 sân cỏ nhân tạo.

Từ năm 1992 đến năm 2000, sân được đặt tên là Sân vận động DFC do câu lạc bộ đã đổi tên từ DVTK thành câu lạc bộ bóng đá Diósgyőri. Trong mùa giải 2007-2008, tên của sân vận động là sân vận động DVTK- Borsodi, vì sự sắp xếp tài trợ.

Một phần nổi tiếng của sân vận động được gọi là Csáki-stand được đặt theo tên của người hâm mộ, József Csáki.

Diósgyőri Stadion mới khai trương năm 2018

Năm 2016, việc xây dựng một sân vận động mới đã được bắt đầu.

Vào ngày 20 tháng 6 năm 2017, Diósgyőr không thể chơi trận đấu trên sân nhà của họ tại Mezőkövesdi Városi Stadion do sân cỏ không thể chịu đựng được. Do đó, Diósgyőr sẽ chơi các trận đấu trên sân nhà Nemzeti Bajnokság I 2017-18 tại sân vận động của Debreceni VSC ', Nagyerdei Stadion, ở Debrecen.[2]

Vào ngày 5 tháng 5 năm 2018, sân vận động mới đã được khai trương chính thức.[3] Trận đấu chính thức đầu tiên được diễn ra giữa Diósgyőr và Mezkőkövesd trong mùa giải Nemzeti Bajnokság I 2017-18. Trận đấu kết thúc với chiến thắng 1-0 cho kình địch vùng Borsod Mezőkövesd. Bàn thắng đầu tiên được ghi bởi Dražić ở phút thứ 88 của trận đấu.[4]

Cổ động viên[sửa | sửa mã nguồn]

Diósgyőr có một trong những người ủng hộ nhất ở Hungary và hầu hết mọi người trong thị trấn đều thích bóng đá. Trong mùa giải 2007-08, số người tham dự trung bình trong các trận đấu của Diósgyőr là 5063, với DVTK là đội được truy cập nhiều nhất ở NB I. Vào mùa cao điểm, 10.000 người hâm mộ đã khuyến khích đội. Trong mùa giải 2011-12, số lượng người hâm mộ trung bình là 7793, với đội có số khán giả nhiều nhất, đạt đỉnh 11.398 khán giả. Mối quan hệ với những người ủng hộ Nyíregyháza, Ferencváros và Újpest đặc biệt xấu. Người hâm mộ DVTK trước đây đã đồng cảm với đội đỏ và trắng khác ở Đông Hungary, những người ủng hộ DVSC. Trong những năm gần đây, mối quan hệ thân thiện với những người ủng hộ Szeged đã phát triển và họ có một tình bạn với những người hâm mộ Ba Lan của GKS Bełchatów.

Vào ngày 19 tháng 7 năm 2014, UEFA đã ban hành lệnh trừng phạt đối với Ferencváros và Diósgyőr và Slovakia, Spartak Trnava, theo sau hành vi phân biệt chủng tộc của người hâm mộ của họ trong trận đấu vòng loại Europa League 2014-15 với các đội bóng của Sliema Wanderers, BirkirkaraHibernians. Ferencvaros bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi các biện pháp của UEFA khi câu lạc bộ bị phạt 20.000 euro và đóng cửa một phần sân vận động sau những tiếng hô khỉ và biểu ngữ phân biệt chủng tộc được hiển thị ở cả hai chân ở MaltaHungary.[5]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc nội[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nemzeti Bajnokság II:
    • Vô địch (6): 1949–50, 1953, 1956, 1962–63, 1973–74, 2010–11
    • Á quân (3): 1965, 1990–91, 1996–97

Cúp[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 4 tháng 9 năm 2019[6]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Hungary Erik Bukrán
4 HV Hungary Márk Tamás
7 Hungary Gábor Makrai
8 Kosovo Florent Hasani
9 Hungary Patrik Bacsa
10 Thụy Sĩ Haris Tabaković
12 Bắc Macedonia Mirko Ivanovski
14 TV Hungary Dávid Márkvárt
15 HV Hungary András Vági
17 TV Ukraina Serhiy Shestakov
18 TV Hungary Borisz Tóth
20 TV Hungary Bence Szabó
22 TV Hungary Barnabás Tóth
25 HV Serbia Dušan Brković
26 TV Hungary Kornél Szűcs
Số VT Quốc gia Cầu thủ
27 Hungary Dániel Prosser
28 TV Bồ Đào Nha Rui Pedro
31 HV Hungary Marcell Farkas
33 HV Hungary Kristóf Polgár
44 TM Serbia Branislav Danilović
47 Hungary Richárd Zsolnai
48 HV Serbia Dejan Karan
70 Hungary Kristóf Korbély
75 HV Hungary Marcell Orosz
81 HV Hungary Patrik Ivánka
88 TV Ghana Joachim Adukor
90 TV Hungary Bence Iszlai
92 HV Hungary Donát Orosz
97 Hungary Gábor Boros
99 TM Hungary Botond Antal

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
Số VT Quốc gia Cầu thủ

Cầu thủ có nhiều quốc tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân viên[sửa | sửa mã nguồn]

Ban giám đốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên
Chief executive officer Hungary Gergely Sántha
Executive assistant Hungary Tamás Gábor

Ban quản lý[sửa | sửa mã nguồn]

Management[sửa | sửa mã nguồn]

Position Name
Technical director Trống
Head coach Tây Ban Nha Fernando
Assistant coach Hungary László Vas
Huấn luyện viên thể hình Hungary Attila Dobos
Huấn luyện viên thủ môn Hungary József Andrusch
Masseur Hungary Ferenc Hajba
Huấn luyện viên đội dự bị Hungary Szilárd Sütő
Huấn luyện viên đội U-19 Hungary Zoltán Fogarasi
Huấn luyện viên đội U-17 Hungary Gyula Zsivóczky
Phân tích video Hungary Balázs Benczés

Số liệu thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Stagnál a nézőszám az NB I-ben”. rangado.hu. ngày 17 tháng 4 năm 2014.
  2. ^ “NB I: nem Mezőkövesd lesz a DVTK otthona az új szezonban”. Nemzeti Sport. ngày 20 tháng 6 năm 2017.
  3. ^ “Rémálomba fordult ünnep – új stadionjában kapott ki a DVTK”. Nemzeti Sport. ngày 5 tháng 5 năm 2018.
  4. ^ “2017–18 Nemzeti Bajnokság I: Diósgyőr 0–1 Mezőkövesd”. Soccerway.com. ngày 5 tháng 5 năm 2018.
  5. ^ “UEFA punish clubs for racist abuse against Maltese teams”. Times of Malta. ngày 19 tháng 7 năm 2014.
  6. ^ “Diósgyőri VTK (játékosok)” (bằng tiếng Hungarian). Diósgyőri VTK.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  7. ^ “DVTK: Kádár Tamás 400 ezer euróért távozik – sajtóhír”. Nemzeti Sport. ngày 29 tháng 1 năm 2015.
  8. ^ “Lech: Kádárért 450 ezer eurót fizettek, Holmanért 100 ezret – sajtóhír”. Nemzeti Sport. ngày 2 tháng 2 năm 2015.
  9. ^ “DVTK: "jelentős összeg" a klub számláján Elek eladása után”. Nemzeti Sport. 2015.

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Lajos Varga: Diósgyőri Futballtörténet (Diósgyőr Soccerhistory)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]