Bước tới nội dung

Diana Spencer, Vương phi xứ Wales

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Diana Spencer
Vương phi xứ Wales, năm 1997
Vương phi xứ Wales
Tại vị29 tháng 7 năm 1981 – 28 tháng 8 năm 1996
15 năm, 30 ngày
Tiền nhiệmMary xứ Teck
Kế nhiệmCamilla Shand
Thông tin chung
Sinh(1961-07-01)1 tháng 7 năm 1961
Park House, Sandringham, Anh
Mất31 tháng 8 năm 1997(1997-08-31) (36 tuổi)
Bệnh viện Pitié-Salpêtrière, Paris, Pháp
An tángAlthorp, Northamptonshire, Anh
Phối ngẫuCharles III của Anh Vua hoặc hoàng đế
(kết hôn 1981; ly dị 1996)[1]
Hậu duệWilliam, Thân vương xứ Wales
Harry, Công tước xứ Sussex
Tên đầy đủ
Diana Frances Spencer
Tước vịDiana, Vương phi xứ Wales
Vương phi xứ Wales Điện hạ
Lady Diana Spencer
The Hon. Diana Spencer
Gia tộcNhà Spencer
Nhà Windsor (hôn nhân)
Thân phụJohn Spencer, Bá tước Spencer thứ 8
Thân mẫuFrances Roche
Rửa tội30 tháng 8 năm 1961
Nhà thờ St. Mary Magdalene, Sandringham, Norfolk
Tôn giáoAnh giáo
Chữ kýChữ ký của Diana Spencer

Diana Spencer, Thân vương phi xứ Wales (Diana Frances Spencer; 1 tháng 7 năm 1961 – 31 tháng 8 năm 1997), báo chí Việt Nam thường gọi là Công nương thay vì là Vương phi, là vợ thứ nhất của Charles, Thân vương xứ Wales (sau này là Quốc vương Charles III),[2] con trai trưởng của cố Nữ vương Elizabeth II. Hai người con trai của bà là Thân vương xứ Wales WilliamVương tử Harry, từng xếp thứ hai và thứ ba trong thứ tự kế vị ngôi vua của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và 15 vùng đất khác thuộc Khối thịnh vượng chung trong thời gian khi bà còn sống.

Diana sinh ra trong gia đình quý tộc Anh và được tiếp xúc với vương tộc Anh từ thời thơ ấu do sống trên khu đất Sandringham thuộc sở hữu của vương thất. Là con gái út của John Spencer, Bá tước Spencer thứ 8, và Frances Shand Kydd, bà bị ảnh hưởng nặng nề sau khi cha mẹ ly hôn vào năm 1967. Bà không nổi trội về mặt học vấn nhưng có năng khiếu về âm nhạc, khiêu vũ và thể thao. Năm 1978, bà chuyển đến London sống cùng vài người bạn cùng phòng và nhận một số công việc trả lương thấp.

Diana Spencer và Charles, Thân vương xứ Wales công bố đính hôn vào ngày 24 tháng 2 năm 1981, bà đã tham dự rất nhiều sự kiện của Vương thất trước khi họ chính thức kết hôn vào ngày 29 tháng 7 năm 1981 tại Nhà thờ Thánh Paul. Diana trở nên nổi tiếng sau khi bà kết hôn với Thân vương xứ Wales. Cuộc sống của bà trở thành đề tài chú ý của công chúng do địa vị vương thất và các hoạt động xã hội của bà. Với tư cách là Vương phi xứ Wales, Diana thay mặt Nữ vương thực hiện các nghĩa vụ vương thất cũng như tham dự các buổi lễ trên khắp các vương quốc thuộc Khối thịnh vượng chung. Bà được các phương tiện truyền thông ca ngợi vì cách tiếp cận trái thông lệ trong công tác từ thiện. Ban đầu Diana tập trung bảo trợ các tổ chức liên quan đến trẻ em và thanh thiếu niên nhưng sau đó nổi tiếng vì sự gần gũi với các bệnh nhân AIDS và chiến dịch tháo gỡ bom mìn. Bà cũng nâng cao nhận thức và vận động giúp đỡ những người bị ung thư và tâm thần. Với địa vị Vương phi, Diana ban đầu bị chú ý vì tính cách rụt rè, nhưng sức hút và sự thân thiện của bà nhanh chóng khiến công chúng quý mến và giúp giữ vững danh tiếng của bà sau khi đổ vỡ hôn nhân. Được đánh giá cực kỳ ăn ảnh, Diana từng là người đi đầu xu hướng thời trang thập niên 1980-1990.

Sau nhiều năm bị dư luận bàn tán về các vấn đề trong cuộc sống hôn nhân, Thân vương và Vương phi xứ Wales đã quyết định ly dị vào ngày 28 tháng 8 năm 1996, kết thúc cuộc hôn nhân kéo dài 15 năm. Một năm sau khi ly dị, Diana đã bị thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe hơi kinh hoàng xảy ra dưới đường hầm cầu AlmaParis, Pháp vào ngày 31 tháng 8 năm 1997. Cái chết của bà dẫn đến sự thương tiếc rộng rãi và gây chú ý tới toàn thế giới. Bạn thân của bà, Elton John đã hát bài hát "Candle in the Wind 1997" để tưởng nhớ bà tại tang lễ.

Tuổi thơ

[sửa | sửa mã nguồn]

Diana Frances Spencer sinh ngày 1 tháng 7 năm 1961, tại Park House, Sandringham, Norfolk, Vương quốc Anh. Bà là con thứ tư trong số năm người con của Tử tước xứ Althorp, John Spencer (1924-1992), người thừa kế của Bá tước Spencer thứ 7, và người vợ đầu của ông Frances (1936–2004). Gia tộc Spencer vốn có mối quan hệ đồng minh bền chặt với vương thất Anh qua vài thế hệ. Cả hai người bà của Diana đều phục vụ như là vai trò phụ tá riêng cho Thái hậu Elizabeth, vị trí chỉ dành cho các quý tộc cao quý. Gia đình Spencer hi vọng mẹ Diana sẽ sinh một bé trai để kế thừa huyết thống dòng họ, và đã không có cái tên được chọn trong tuần đầu tiên, cho đến khi họ chọn tên Diana Frances, được đặt theo tên của mẹ bà và Diana Spencer, Công tước phu nhân xứ Bedford - chị của ông cố nhiều đời trước của bà. Lady Diana Spencer cũng từng được hứa hôn với Frederick, Thân vương xứ Wales vào trước những năm 1730 nhưng bất thành vì Thủ tướng Anh đương nhiệm muốn Thân vương xứ Wales kết hôn với Công chúa từ các vương thất châu Âu khác.[3][3][4]

Vào ngày 30 tháng 8 năm 1961, Diana được làm lễ rửa tội tại nhà thờ St. Mary Magdalene, Sandringham.[5] Bà lớn lên cùng ba người chị em ruột: Sarah, Jane, và Charles.[6] Anh trai của bà, John Spencer, đã mất sau khi sinh một năm trước khi Diana được sinh ra.[6] Nỗi khao khát có một người con trai thừa kế làm tăng căng thẳng trong cuộc hôn nhân của gia đình Spencer, mẹ Diana được cho rằng đã được đưa tới các phòng khám ở London để xác định nguyên nhân của vấn đề.[5] Điều này được miêu tả là "nỗi xấu hổ" đối với em trai của Diana, Charles Spencer: "Đó là một khoảng thời gian khủng khiếp đối với cha mẹ tôi và có lẽ là gốc rễ của việc ly dị bởi vì tôi không nghĩ họ đã vượt qua nó".[5] Diana lớn lên ở Park House, nằm trên mảnh đất Sandringham.[6] Gia đinh Spencer thuê căn dinh thự từ Nữ vương Elizabeth II. Vương thất thường xuyên đi nghỉ tại xung quanh khu vực dinh thự Sandringham, và Diana từng chơi với Vương tử AndrewVương tử Edward khi còn nhỏ.[3][3]

Diana được 7 tuổi thì cha mẹ bà ly dị,[7] mẹ bà sau này bắt đầu một mối quan hệ với ông Peter Shand Kydd và kết hôn vào năm 1969.[8] Diana sống với mẹ ở London trong lúc cha mẹ ly thân, nhưng trong mùa lễ Giáng sinh Tử tước Althorp (cha của Diana) không cho phép Diana trở về London với mẹ. Sau đó, với sự giúp đỡ của mẹ vợ cũ là bà Ruth Roche, Bà Nam tước Fermoy, Tử tước John Spencer được quyền nuôi nấng Diana.[3] Vào năm 1976, John Spencer kết hôn với Raine McCorquodale, trước đây là Bà Tử tước Dartmouth, con gái duy nhất của Alexander McCorquodale và bà Barbara Cartland.[9] Mối quan hệ của Diana với mẹ kế đặc biệt tồi tệ.[8] Bà không ưa Raine, người mà bà gọi là "Bully", và đã có lần Diana xô Raine ngã từ trên cầu thang xuống. Diana bắt đầu được xem là "Lady Diana Spencer" khi cha bà thừa kế tước vị Bá tước Spencer vào ngày 9 tháng 6 năm 1975.[10] Sau khi học xong trường Institut Alpin Videmanette tại Thụy Sĩ, Lady Diana dọn về London và làm công việc giữ trẻ tại trường Young England.[3][3][11]

Giáo dục và sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Diana ban đầu học tại nhà dưới sự giám sát của cô giáo Gertrude Allen. Bà bắt đầu nhận sự giáo dục chính thức tại trường tư Silfield ở Gayton, Norfolk và chuyển tới trường Riddlesworth Hall, một trường nội trú dành cho nữ gần Thetford, khi bà lên 9 tuổi. Bà cùng các chị của mình học tại Trường nữ West Heath ở Sevenoaks, Kent, năm 1973. Bà không tỏa sáng trong việc học, đã từng bị cấp độ O hai lần. Tinh thần cộng đồng nổi bật của bà đã được công nhận bằng một giải thưởng từ West Heath. Bà rời West Heath khi mười sáu tuổi. Em trai Charles của bà nhớ rằng chị gái ông khá nhút nhát cho đến thời điểm đó. Bà đã thể hiện tài năng trong âm nhạc như một nghệ sĩ piano không chuyên.[12] Bà cũng rất xuất sắc trong bơi lội và lặn, múa Ballet và nhảy điệu Clacket.[13]

Sau khi vào học tại Institut Alpin Videmanette (một ngôi trường tại Rougemont, Thụy Sĩ, huấn luyện các cô con gái tầng lớp quý tộc hoặc thượng lưu làm quen với lối sống phong lưu đài các) với một kỳ học trong năm 1978, Diana trở lại London, nơi bà sống cùng hai người bạn chung trường trong căn hộ được mẹ tặng.[14] Tại London, Diana tham gia khóa học cao cấp về nấu ăn, nhưng ít khi nấu cho bạn cùng phòng. Bà nhận một loạt công việc thu nhập thấp; bà làm công việc giảng dạy khiêu vũ cho thiếu niên cho đến khi khi một tai nạn trượt tuyết làm bà phải nghỉ ba tháng. Sau đó, bà tìm việc làm trợ lý trước giờ học của nhóm nhạc, làm một số công việc dọn dẹp cho chị gái Sarah Spencer và một vài người bạn của chị, làm công việc chủ trì tại các bữa tiệc. Diana đã dành thời gian để làm bảo mẫu cho Robertsons, một gia đình người Mỹ sinh sống ở London, và làm trợ lý giáo viên mầm non tại Trường Young England ở Pimlic. Vào tháng 7 năm 1979, mẹ bà mua cho bà một căn hộ tại Tòa án Coleherne ở Earl's Court vào ngày sinh nhật thứ 18.[14] Bà sống ở đó với ba bạn cùng phòng cho đến ngày 25 tháng 2 năm 1981.

Hôn nhân

[sửa | sửa mã nguồn]
Diana Spencer, Vương phi xứ Wales

Diana lần đầu gặp Charles, Thân vương xứ Wales, khi bà 16 tuổi, vào tháng 11 năm 1977; lúc đó Charles đang hẹn hò với chị của Diana, Lady Sarah Spencer.[15][16] Họ là khách tại buổi tiệc nhân dịp cuối tuần trong mùa hè năm 1980 khi bà xem ông chơi polo và Thân vương có sự hứng thú nghiêm túc với bà, xem bà như một cô dâu tiềm năng. Mối quan hệ tiến triển khi Charles mời bà lên tàu du lịch vương thất Britannia để chuẩn bị cho chuyến đi thuyền buồm cuối tuần tới Cowes. Sau đó là một lời mời đến Balmoral (dinh thự của vương thất ở Scotland) để gặp gia đình của Charles một trong những ngày cuối tuần tháng 11 năm 1980.[17][18] Diana đã được Nữ vương, Thái hậu và chồng Nữ vương là Công tước xứ Edinburgh tiếp đón nồng nhiệt. Thân vương xứ Wales sau đó đã tán tỉnh Diana ở London. Thân vương cầu hôn bà vào ngày 6 tháng 2 năm 1981 và được bà chấp nhận, nhưng việc đính hôn của họ đã được giữ bí mật trong vài tuần sau đó.[19]

Biệt thự Althorp của gia tộc Spencer
Nhẫn đính hôn của Vương phi xứ Wales

Là một gia đình quý tộc lâu đời tại Anh, gia tộc Spencer có điều kiện tốt nhất để làm sui gia với gia đình Nữ vương. Ngoài ra điều kiện dành cho người vợ của Thân vương xứ Wales là xuất thân quý tộc, được hưởng một nền giáo dục theo đạo Tin lành và phải là trinh nữ, 3 điều kiện này Diana đều có.[20] Cả hai phía, vương thất cũng như gia đình Spencer, tạo cơ hội để Diana có dịp gặp gỡ Thân vương xứ Wales. Tina Brown[21] (nhà báo và là vợ của Sir Harold Evans, còn được gọi là Lady Evans) cho là vương tộc lúc đó đang khẩn cấp tìm người để thay thế Camilla Parker Bowles, người mà Thân vương xứ Wales yêu say đắm mặc dù Camilla đã có chồng.[22] Charles và Camilla Shand, quen nhau vào mùa hè năm 1971,[23] và Charles đã tỏ tình với Camilla vào tháng 12 năm 1972, tuy nhiên không hỏi cưới.[24] Vào tháng 7 năm 1973 Camilla Shand đã thành hôn với thiếu tá Andrew Parker Bowles.[25]

Hôn ước và lễ cưới

[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ đính hôn của họ được thông cáo chính thức vào ngày 24 tháng 2 năm 1981.[26] Diana đã lựa một một chiếc nhẫn đính hôn cỡ đại gồm 14 viên kim cương đính xung quanh một viên đá Sappire Ceylon hình oval màu xanh dương 12 carat đặt trong vàng trắng 18 carat.[26] chiếc nhẫn giống với chiếc nhẫn đính hôn của mẹ cô. Chiếc nhẫn đính hôn được làm bởi thợ kim hoàn của công ty Garard. Vào năm 2010, nó trở thành chiếc nhẫn đính hôn của con dâu bà là Catherine, Vương phi xứ Wales.[27] Bà ngoại của Charles, Thái hậu Elizabeth đã tặng Diana quà đính hôn là một viên đá Sapphire và một cài áo kim cương.[28]

Sau lễ đính hôn, Diana đã bỏ công việc giữ trẻ và sống một thời gian ngắn tại dinh thự Clarence với Thái hậu Elizabeth.[29] Sau đó bà sống tại cung điện Buckingham cho đến ngày cưới.[29] Diana là người phụ nữ Anh đầu tiên trong 300 năm trở thành vợ của một người thừa kế và cũng là cô dâu đầu tiên của vương thất có một công việc được trả lương trước khi kết hôn.[26][30] Diana đã xuất hiện trước công chúng lần đầu tiên cùng với Thân vương xứ Wales trong một bữa tiệc từ thiện vào tháng 3 năm 1981 tại Hội trường Goldsmiths, nơi bà gặp Grace Kelly, Vương phi của Thân vương quốc Monaco.[29]

Năm 20 tuổi, Diana trở thành Vương phi xứ Wales khi kết hôn với Charles, Thân vương xứ Wales vào ngày 29 tháng 7 năm 1981 tại Thánh đường Thánh Paul, nơi có nhiều chỗ ngồi hơn Tu viện Wesminster, một nhà thờ thường được sử dụng cho các lễ cưới vương thất. Sự kiện này được mô tả rộng rãi như một "hôn lễ cổ tích" và được 750 triệu khán giả truyền hình toàn cầu theo dõi trong khi 600.000 khán giả xếp hàng trên đường phố để chứng kiến cặp đôi đến buổi lễ. Tại thánh đường, Diana vô tình đảo ngược thứ tự của hai cái tên đầu tiên của Charles, thay vào đó nói "Philip Charles" Arthur George. Bà đã không hứa sẽ "vâng lời chồng"; lời thề truyền thống đó đã được bỏ ra theo yêu cầu của cặp đôi, gây ra một số bàn tán vào thời điểm đó.[31] Diana mặc chiếc váy cưới trị giá 9.000 bảng với một đuôi váy dài 7,62 mét.[32]

Vương phi xứ Wales khiêu vũ cùng tài tử John Travolta trong chuyến thăm Nhà Trắng năm 1985

Sau khi trở thành Vương phi xứ Wales, Diana được xếp hạng là người phụ nữ có vị trí cao thứ ba trong Vương thất (sau Nữ vương và Thái hậu), và thứ năm hoặc thứ sáu theo thứ tự ưu tiên của các tước hiệu khác, theo sau Nữ vương, vị đại diện có liên quan, Công tước xứ Edinburgh, Thái hậu Elizabeth và Thân vương xứ Wales. Trong vòng một vài năm đầu sau đám cưới, Nữ vương mở rộng mối quan hệ của Diana với các thành viên trong gia đình vương thất; Nữ vương tặng cho Vương phi vương miện Cambridge Lover's Knot Tiara[33][34] và trao cho Diana huy hiệu Royal Family Order of Queen Elizabeth II.[35]

Sau kết hôn, Thân vương và Vương phi xứ Wales cư ngụ tại Cung điện Kensington và Dinh Highgrove gần Tetbury. Vào ngày 5 tháng 11 năm 1981, Vương phi xứ Wales được thông báo mang thai con đầu lòng.[36] Vào tháng 1 năm 1982, 12 tuần sau khi có thai, Diana ngã cầu thang tại Sandringham và bác sĩ phụ khoa vương thất Sir George Pinker được triệu từ London đến. Ông kết luận đứa trẻ trong bụng không gặp vấn đề gì dù Vương phi bị một số vết thương nghiêm trọng.[37] Diana sau đó thừa nhận rằng chính bà đã cố tình ngã xuống cầu thang vì cảm thấy "thiếu thốn tình cảm trầm trọng".[38] Vào tháng 2 năm 1982, hình ảnh Diana bầu bì trong trang phục bikini khi đi nghỉ mát được đăng tải trên các phương tiện truyền thông. Nữ vương sau đó đã phát biểu và gọi đó là "ngày đen tối nhất trong lịch sử báo chí Anh."[39] Vào ngày 21 tháng 6 năm 1982, Vương phi hạ sinh con trai đầu lòng, Thái tử William.[40] Dù phải nhận một số chỉ trích trên các phương tiện truyền thông, Diana quyết định đưa William đi cùng chuyến công du lớn đầu tiên tới Úc và New Zealand, và quyết định này được công chúng nhiệt liệt hoan nghênh. Vương phi xứ Wales sau này đã thừa nhận rằng bà ban đầu không có ý định đưa William đi cùng cho đến khi Malcolm Fraser, Thủ tướng Úc, đưa ra gợi ý.[41]

Con trai thứ hai của hai vợ chồng, Vương tử Harry, chào đời ngày 15 tháng 9 năm 1984.[42] Vương phi cho biết bà và chồng gần gũi nhất trong khoảng thời gian mang thai Harry. Bà nhận ra đứa con thứ hai là con trai nhưng không nói với bất cứ ai, kể cả Thân vương xứ Wales.[43]

Diana cho hai con trai những trải nghiệm khác với những đứa trẻ sinh ra trong vương tộc.[26][44][45] Diana ít khi làm theo ý của Thân vương hay vương thất và thường không khoan nhượng những chuyện liên quan đến con mình. Bà tự chọn tên thánh cho con, sa thải một vài bảo mẫu vương thất và chọn theo ý mình, bà cũng chọn trường và quần áo cho các con, lên kế hoạch đi du lịch và thường tự đưa con đi học mỗi khi rảnh rỗi. Bà cũng sắp xếp các nhiệm vụ của mình dựa theo thời gian biểu của William và Harry.[46]

Hôn nhân rạn nứt

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm năm sau khi kết hôn, sự bất đồng và chênh lệch tuổi tác gần 13 tuổi của hai vợ chồng trở nên rõ hơn và gây tổn thương lẫn nhau.[47] Charles nối lại quan hệ với bạn gái cũ Camilla Parker Bowles và Diana bắt đầu ngoại tình với Thiếu tá James Hewitt, người trước đây từng dạy cưỡi ngựa cho gia đình. Các phương tiện truyền thông suy đoán rằng cha của Vương tôn Harry là Hewitt chứ không phải Charles dựa trên sự tương đồng về ngoại hình giữa Hewitt và Harry, nhưng Hewitt và một số người khác đã phủ nhận điều này. Harry được sinh ra hai năm trước khi Hewitt và Diana bắt đầu mối quan hệ tình cảm.[43][48] Năm 1989, Diana có mặt tại bữa tiệc sinh nhật của em gái Camilla, Annabel Elliot, tại đó bà đối chất với Camilla về chuyện ngoại tình của chồng mình.[49][50] Những chuyện này sau đó bị phơi bày vào tháng 5 năm 1992 khi cuốn sách của Andrew Morton, Diana: Her True Story được xuất bản rộng rãi.[51][52] Cuốn sách cũng tiết lộ sự bất hạnh và quyết định tự tử của Vương phi xứ Wales đã gây ra một cơn bão truyền thông. Morton sau đó tiết lộ rằng vào năm 1991, ông cũng đã thực hiện một cuộc phỏng vấn bí mật với Diana, trong đó bà đã tiết lộ những vấn đề và khó khăn trong hôn nhân của mình.[53] Nữ vương và Công tước xứ Edinburgh đã triệu tập một cuộc họp giữa Charles và Diana nhằm hòa giải nhưng bất thành.[54] Philip đã viết thư cho con dâu và bày tỏ sự thất vọng về chuyện ngoại tình của bà và Charles, ông yêu cầu bà xem lại hành vi của mỗi người theo quan điểm của người kia.[55] Công tước xứ Edinburgh đã rất thẳng thắn còn Diana thì nhạy cảm.[56] Bà cảm thấy những lá thư ấy khó có kết quả nhưng đánh giá cao mục đích tốt của cha chồng.[57] Một số người, kể cả Simone Simmons, bạn thân của Diana, cáo buộc rằng mối quan hệ giữa Vương phi và cha chồng vô cùng căng thẳng,[58][59] tuy nhiên, các nhà nghiên cứu khác cho rằng không có dấu hiệu xích mích trong những lá thư của hai người.[60]

Trong hai năm 1992 và 1993, các đoạn băng ghi âm cuộc điện thoại của Thân vương và Vương phi xứ Wales bị rò rỉ tạo nên hình ảnh tiêu cực cho cả hai. Các bản ghi âm của Vương phi và James Gilbey bị công bố vào tháng 8 năm 1992 và các bản sao được xuất bản cùng tháng. Bài báo, "Squidgygate", được theo dõi vào tháng 11 năm 1992 bởi các băng "Camillagate" bị rò rỉ, cuộc trò chuyện "mùi mẫn" giữa Thân vương xứ Wales và Camilla, được xuất bản trên các tờ báo lá cải. Vào tháng 12 năm 1992, Thủ tướng đương nhiệm John Major thông báo quyết định ly thân của Thân vương và Vương phi xứ Wales với Hạ viện:

Từ năm 1992 đến 1993, Diana thuê huấn luyện viên giọng nói Peter Settelen để giúp bà cải thiện giọng nói khi phát biểu trước công chúng.[61] Trong một đoạn băng được Settelen quay lại vào năm 1992, Diana thừa nhận rằng từ năm 1984 đến 1986, bà đã "yêu sâu sắc một người làm việc quanh bà."[62][63] Nhiều người cho rằng bà đang ám chỉ Barry Mannakee,[64] người được luân chuyển tới Đội phòng hộ ngoại giao vào năm 1986 sau khi các quản lý của Barry nhận định mối quan hệ của ông với Vương phi "không đúng đắn".[63][65] Diana nói trong đoạn băng rằng Mannakee đã bị "đuổi" khỏi vị trí vệ sĩ của bà do sự nghi ngờ giữa hai người có quan hệ tình cảm.[62] Penny Junor đề cập trong cuốn sách năm 1998 của mình rằng Vương phi lúc bấy giờ đang có quan hệ tình cảm với Mannakee.[66] Bạn bè của Diana bác bỏ chuyện này và cho rằng lời cáo buộc ấy vô lý.[66] Tuy nhiên, trong những đoạn băng được phát hành sau đó, Diana nói rằng bà đang có tình cảm với "một người nào đó", nói rằng "Tôi rất hạnh phúc để từ bỏ mọi thứ để ra đi và sống cùng anh ấy". Bà mô tả người đàn ông ấy là "người bạn tuyệt vời nhất mà bà từng có", tuy vậy lại phủ nhận hành vi quan hệ tình dục với ông ấy.[67] Diana cũng cay đắng nói về chồng mình rằng "[Anh ấy] làm đủ mọi cách khiến tôi cảm thấy thiếu thốn, đến nỗi mỗi lần tôi muốn thay đổi không khí thì anh ấy lại khiến tôi hụt hẫng."[68] Dì của Charles, Vương nữ Margaret, đã đốt những lá thư "đặc biệt riêng tư" mà Diana gửi cho Thái hậu vào năm 1993. Người viết tiểu sử William Shawcross nhìn nhận hành động của Margaret là "dễ hiểu" vì bà đang "bảo vệ mẹ và các thành viên khác trong gia đình", nhưng lại "đáng tiếc về mặt lịch sử".[69]

Tuy đổ lỗi cho Camilla Parker Bowles về những trục trặc trong hôn nhân của mình, Diana bắt đầu tin rằng chồng bà cũng tham gia vào những chuyện khác. Vào tháng 10 năm 1993, Vương phi viết thư cho quản gia Paul Burrell rằng bà tin rằng chồng mình hiện đang yêu trợ lý riêng Tiggy Legge-Bourke - đồng thời là cựu nhũ mẫu của hai Vương tôn William và Harry- và đang có ý định giết bà ấy nhằm "dọn đường cho anh ta kết hôn với Tiggy".[70][71] Legge-Bourke được Thân vương xứ Wales thuê chăm sóc cho các con trai của ông và Vương phi rất ghét Legge-Bourke cũng như bực tức mối quan hệ của Legge-Bourke với các Vương tôn.[72] Thân vương Charles cố gắng mưu cầu sự thấu hiểu của công chúng qua một cuộc phỏng vấn trên truyền hình với Jonathan Dimbleby vào ngày 29 tháng 6 năm 1994. Trong cuộc phỏng vấn, Thân vương xứ Wales nói ông đã hàn gắn lại mối quan hệ với Camilla vào năm 1986 chỉ sau khi cuộc hôn nhân của ông với Vương phi đã "không thể cứu vãn".[73][74][75]

Cùng năm, tờ News of the World cho biết Diana đã thực hiện hơn 300 cuộc gọi với nhà buôn đồ mỹ nghệ đã có vợ là Oliver Hoare.[76][77] Những cuộc gọi này đã được chứng minh được gọi từ căn hộ của Diana trong Điện Kensington và từ buồng điện thoại ngay bên ngoài cung điện. Theo lời cáo phó của Hoare, chỉ rất ít điều nghi hoặc về chuyện Diana có tình cảm với ông.[78] Dù vậy, Vương phi xứ Wales đã phủ nhận bất kỳ mối quan hệ tình ái nào với Hoare, người bà xem là bạn, và nói rằng "một cậu bé" chính là nguồn cơn của những cuộc gọi phiền toái tới Hoare. Bà cũng được báo chí gán ghép với cầu thủ liên đoàn bóng bầu dục Will Carling[79][80] và nhà đầu tư cổ phần tư nhân Theodore J. Forstmann,[81][82] nhưng những cáo buộc này không được xác nhận cũng như chứng minh.[83][84]

Cung điện Kensington (ảnh chụp năm 2018), nhà của Diana và là nơi bà thực hiện cuộc phỏng vấn Panorama năm 1995.

Nhà báo Martin Bashir đã thực hiện cuộc phỏng vấn với Vương phi Diana cho chương trình thời sự Panorama của đài BBC, được phát sóng vào ngày 20 tháng 11 năm 1995.[85] Tại đây, Diana đã trải lòng về những mối quan hệ ngoài luồng của cả bà và chồng mình.[86] Khi nhắc đến quan hệ giữa Thái tử Charles và bà Parker Bowles, bà đã nói một câu để đời: "Vâng, có đến ba người trong cuộc hôn nhân này, nên nó hơi chật chội." Bà cũng bày tỏ sự hoài nghi về việc liệu chồng mình có đủ tố chất để đảm đương ngôi vương hay không.[87] Các tác giả như Tina Brown, Sally Bedell Smith và Sarah Bradford đều đồng tình với những thú nhận của Diana về việc bà từng bị trầm cảm, mắc chứng rối loạn ăn uống và nhiều lần tự làm đau bản thân; biên bản của chương trình cũng ghi lại việc Diana xác nhận nhiều vấn đề về sức khỏe tâm thần của bà.[88] Từ việc tổng hợp các căn bệnh mà Diana tự kể, một số người viết tiểu sử nhận định rằng bà mắc chứng rối loạn nhân cách ranh giới.[89][90] Tuy nhiên, sau này người ta mới phát hiện ra Bashir đã sử dụng sao kê ngân hàng giả để lấy lòng tin của Diana và anh trai bà nhằm thực hiện cuộc phỏng vấn.[91] Ông ta đã lừa họ rằng những người thân cận đang được trả tiền để theo dõi bà. Sau cuộc điều tra độc lập, Thẩm phán Lord Dyson kết luận rằng Bashir đã "dễ dàng lợi dụng nỗi sợ hãi và sự hoang tưởng của Diana" – một kết luận mà Vương tử William, con trai bà, cũng hoàn toàn đồng tình.[92][93]

Cuộc phỏng vấn đó chính là giọt nước tràn ly. Ngày 20 tháng 12, Điện Buckingham thông báo Nữ vương đã gửi thư cho cả Charles và Diana, khuyên họ nên ly hôn.[94][95] Động thái này của Nữ vương nhận được sự ủng hộ từ Thủ tướng John Major cùng các cố vấn cấp cao trong Hội đồng Cơ mật, và theo BBC, quyết định này được đưa ra sau hai tuần thảo luận.[96] Ngay sau đó, Charles đã chính thức đồng ý ly hôn thông qua một văn bản.[97] Đến tháng 2 năm 1996, sau các cuộc đàm phán với Charles và đại diện của Nữ vương, Diana thông báo bà chấp thuận ly hôn.[98] Tuy nhiên, bà đã khiến Điện Buckingham phật ý khi tự mình đưa ra thông báo về thỏa thuận ly hôn cùng các điều khoản đi kèm. Tháng 7 năm 1996, cặp đôi chính thức thống nhất các điều khoản ly hôn.[99]

Phán quyết ly hôn sơ bộ được đưa ra vào ngày 15 tháng 7 năm 1996 và thủ tục chính thức hoàn tất vào ngày 28 tháng 8 cùng năm.[100] Luật sư Anthony Julius là người đại diện cho Diana trong vụ việc này.[101] Cặp đôi đồng ý chia sẻ quyền nuôi con.[102] Diana nhận được khoản bồi thường một lần trị giá 17 triệu bảng Anh (tương đương khoảng 40 triệu bảng theo thời giá năm 2023) cùng với khoản trợ cấp 400.000 bảng mỗi năm. Hai người cũng ký một thỏa thuận bảo mật, cam kết không tiết lộ chi tiết về vụ ly hôn hay đời sống vợ chồng của họ.[103][104] Vài ngày trước đó, một sắc lệnh đã được ban hành với các quy tắc chung về tước hiệu sau ly hôn. Theo đó, Diana mất tước hiệu "Vương phi Điện hạ" (Her Royal Highness) và thay vào đó chỉ được gọi là Diana, Vương phi xứ Wales. Tuy nhiên, với tư cách là mẹ của vị Vua tương lai, bà vẫn được xem là thành viên Vương thất và được hưởng các đặc quyền thứ bậc y như khi còn trong cuộc hôn nhân.[105] Có thông tin cho rằng Nữ vương muốn Diana tiếp tục giữ tước hiệu "Điện hạ" sau khi ly hôn, nhưng Thái tử Charles nhất quyết đòi tước bỏ.[106] Vương tử William được cho là đã an ủi mẹ mình rằng: "Đừng lo mẹ ạ, một ngày nào đó khi trở thành Vua, con sẽ trả lại tước hiệu đó cho mẹ."[107] Trước đó gần một năm, theo tác giả Tina Brown, Thân vương Philip từng cảnh cáo Diana: "Nếu cô không biết điều, cô bé ạ, chúng tôi sẽ tước danh hiệu của cô." Khi đó, Diana được cho là đã đáp trả đanh thép: "Tước hiệu của tôi còn lâu đời hơn của ông nhiều đấy, Philip ạ."[108]

Hậu ly hôn

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi ly hôn, Diana giữ lại căn hộ đôi ở phía bắc Cung điện Kensington, nơi bà từng chung sống với Charles từ năm đầu tiên của cuộc hôn nhân; đây vẫn là nơi ở của bà cho đến khi bà qua đời vào năm sau đó. Bà cũng chuyển văn phòng làm việc về Cung điện Kensington nhưng vẫn được phép "sử dụng các căn hộ công vụ tại Cung điện St James".[109][110] Trong một cuốn sách xuất bản năm 2003, Paul Burrell khẳng định rằng những lá thư riêng của Diana tiết lộ việc anh trai bà, Lãnh chúa Spencer, đã từ chối cho bà về sống tại Althorp bất chấp lời thỉnh cầu của bà.[111] Tuy nhiên, những cáo buộc này đã được chứng minh là sai sự thật. Spencer đã nhận được lời xin lỗi công khai từ nhiều tờ báo, trong đó có tờ The Times vào năm 2021. Tờ báo này thừa nhận rằng: "Sau khi cân nhắc sự an toàn của em gái và tuân theo lời khuyên của cảnh sát, Bá tước đã đề nghị Vương phi xứ Wales sử dụng một số bất động sản khác, bao gồm cả Wormleighton Manor, dinh thự tổ tiên ban đầu của gia đình Spencer".[111] Tuy nhiên, ông không thể nhường ngôi nhà nhỏ Garden House trong khu điền trang Althorp cho Diana vì nơi đó đã được dành cho một nhân viên.[112]

Diana được cấp kinh phí để duy trì văn phòng riêng, cơ quan đảm trách các công tác từ thiện và nghĩa vụ vương thất của bà. Tuy nhiên, kể từ tháng 9 năm 1996, bà phải tự thanh toán các hóa đơn cũng như "mọi khoản chi tiêu" của cá nhân hoặc nhân danh bà.[113] Bên cạnh đó, bà vẫn giữ quyền sử dụng những món trang sức đã nhận trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời được phép sử dụng chuyên cơ của Vương thấtChính phủ Anh.[114] Đội Bảo vệ Vương thất (thuộc Cảnh sát Đô thành London) vẫn sẵn sàng cung cấp an ninh cho bà. Dù Diana chấp nhận sự bảo vệ này mỗi khi đi cùng các con, bà đã khước từ nó trong những năm cuối đời với mong muốn thoát ly khỏi sự ảnh hưởng của gia đình Vương thất.[115][116] Sau khi Diana qua đời, một thông tin được tiết lộ rằng bà từng thảo luận với Thủ tướng kế nhiệm Tony Blair về một vai trò đặc biệt. Vị trí này dự kiến sẽ tạo ra một nền tảng chính danh từ phía chính phủ cho các chiến dịch nhân đạo của bà, qua đó giúp bà đại diện và thúc đẩy lợi ích của nước Anh trên trường quốc tế.[117]

Diana vẫn giữ mối giao hảo thân tình với nhiều ngôi sao lừng danh như Elton John, Liza Minnelli, George Michael, Michael JacksonGianni Versace – người mà bà đã đến dự tang lễ vào năm 1997.[118][119] Bà từng có thời gian hẹn hò với Hasnat Khan, một bác sĩ phẫu thuật tim người Anh gốc Pakistan. Sau sự ra đi của bà, nhiều bạn bè thân thiết đã gọi ông là "tình yêu lớn nhất đời bà", còn bản thân Diana được cho là luôn nhắc đến ông với biệt danh "Quý ông Tuyệt vời".[120][121][122][123] Tháng 5 năm 1996, nhận lời mời từ Imran Khan – một người họ hàng của Hasnat, Diana đã đến Lahore và bí mật ghé thăm gia đình vị bác sĩ này.[124][125] Vốn là người cực kỳ kín tiếng, Khan muốn giữ chuyện tình cảm trong vòng bí mật. Diana thậm chí đã phải nói dối cánh phóng viên mỗi khi bị gặng hỏi về mối quan hệ này. Mối tình kéo dài gần hai năm, nhưng đến nay vẫn có những luồng thông tin trái chiều về việc ai là người chủ động buông tay.[126] Có người nói Diana từng thổ lộ nỗi đau khổ tột cùng khi bị ông nói lời chia tay. Tuy nhiên, trong phiên điều tra về cái chết của bà, Khan lại khai rằng chính Diana mới là người đặt dấu chấm hết cho chuyện tình của họ vào mùa hè năm 1997. Ông Burrell cũng khẳng định Diana đã dứt tình vào tháng 7 năm đó.[127] Burrell còn tiết lộ thêm rằng bà Frances Shand Kydd – mẹ ruột của Diana – đã kịch liệt phản đối việc con gái mình qua lại với một người đàn ông Hồi giáo.[128] Tính đến thời điểm Diana qua đời năm 1997, bà và mẹ đã "chiến tranh lạnh" suốt 4 tháng trời.[129][130] Trái lại, mối quan hệ vốn dĩ xa cách giữa Diana và mẹ kế của bà lại được cho là đã cải thiện đáng kể.[131][132]

Chưa đầy một tháng sau, Diana bắt đầu hẹn hò với Dodi Fayed, con trai của Mohamed Al-Fayed – người đã mời bà đến nghỉ dưỡng trong mùa hè năm đó.[133] Thực ra trong mùa hè ấy, Diana từng có ý định đưa hai con trai đến vùng Hamptons (New York) để nghỉ ngơi, nhưng lực lượng an ninh đã can ngăn. Sau khi gác lại kế hoạch đi Thái Lan, bà chấp nhận lời mời của ông Fayed đến miền nam nước Pháp. Tại đây, khu dinh thự biệt lập cùng đội ngũ an ninh hùng hậu của gia đình ông hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu từ Đội Bảo vệ Hoàng gia. Ông Mohamed Al-Fayed thậm chí đã tậu hẳn chiếc Jonikal – một siêu du thuyền dài 60 mét trị giá hàng triệu bảng Anh – chỉ để tiếp đón Diana cùng hai vị vương tử.[133][134][135]Sau này, tác giả Tina Brown nhận định rằng cuộc tình lãng mạn với Dodi, cũng như mối quan hệ kéo dài 4 tháng với Gulu Lalvani trước đó, thực chất chỉ là "chiêu trò" của Diana nhằm "chọc tức người đàn ông mà bà thực sự yêu thương – Hasnat Khan".[133] Nhiều năm sau khi bà qua đời, ông Burrell, nhà báo Richard Kay và chuyên gia luyện giọng Stewart Pearce đều tiết lộ rằng, khi đó Diana cũng từng nhen nhóm ý định mua nhà tại Mỹ.[136][137][138]

Vương phi xứ Wales

[sửa | sửa mã nguồn]
Vương phi Diana tại Halifax, Nova Scotia, năm 1983

Sau khi đính hôn với Thái tử Charles, Diana lần đầu tiên xuất hiện chính thức trước công chúng vào tháng 3 năm 1981 tại một sự kiện từ thiện ở Goldsmiths' Hall.[139][140] Tháng 6 năm 1981, bà lần đầu tham dự Lễ diễu hành rước cờ (Trooping the Colour) và sau đó cùng gia đình xuất hiện trên ban công Cung điện Buckingham. Tháng 10 cùng năm, Charles và Diana có chuyến thăm xứ Wales[141] [142] Bà cũng lần đầu tiên tham dự Lễ Khai mạc Quốc hội vào ngày 4 tháng 11 năm 1981.[143] Sự kiện chính thức đầu tiên mà bà tham gia với tư cách cá nhân (không đi cùng chồng) là lễ thắp sáng đèn Giáng sinh tại phố Regent vào ngày 18 tháng 11 năm 1981.[144] Tháng 9 năm 1982, Diana thực hiện chuyến công du nước ngoài đầu tiên để tham dự tang lễ của Vương phi Grace xứ Monaco.[145] Cũng trong năm này, Nữ vương Beatrix của Hà Lan đã trao tặng Diana Huân chương Đại thập tự thuộc Dòng Vương miện (Grand Cross of the Order of the Crown).[141] Năm 1983, Diana tháp tùng Thái tử Charles và Vương tử William trong chuyến công du đến ÚcNew Zealand. Chuyến đi thành công rực rỡ và thu hút những đám đông khổng lồ. Tuy nhiên, báo chí lại quan tâm đến Diana nhiều hơn là Charles, từ đó thuật ngữ "Dianamania" (Cơn sốt Diana) ra đời để ám chỉ sự hâm mộ cuồng nhiệt mà công chúng dành cho bà.[146]Có một sự cố xảy ra khi ngồi trong xe cùng Charles gần Nhà hát Opera Sydney, Diana đã bật khóc nức nở. Văn phòng đại diện giải thích nguyên nhân là do bà bị lệch múi giờ và kiệt sức vì nắng nóng.[147] Tại New Zealand, cặp đôi đã có cuộc gặp gỡ với đại diện người bản địa Māori.[141] Trong chuyến thăm Canada vào tháng 6 và tháng 7 năm 1983, họ đã đến Edmonton để khai mạc Đại hội Thể thao Sinh viên Mùa hè, và dừng chân tại Newfoundland để kỷ niệm 400 năm hòn đảo này sáp nhập vào lãnh thổ Vương thất.[148] Cũng trong năm 1983, bà trở thành mục tiêu của Quân đội Giải phóng Quốc gia Scotland khi tổ chức này âm mưu gửi một lá thư chứa bom đến cho bà.[149]

Diana và Charles cùng NancyRonald Reagan, tháng 11 năm 1985.

Tháng 2 năm 1984, với tư cách là người bảo trợ của Vũ đoàn Ballet Thành phố London, Diana đã một mình đến Na Uy để tham dự buổi biểu diễn do vũ đoàn này tổ chức.[141] Tháng 4 năm 1985, Charles và Diana có chuyến thăm Ý và sau đó đón thêm hai con trai sang cùng.[150] Họ đã gặp gỡ Tổng thống Alessandro Pertini. Trong chuyến thăm Tòa Thánh Vatican, họ cũng có buổi yết kiến riêng với Giáo hoàng John Paul II.[151] Mùa thu năm 1985, họ trở lại Úc và được công chúng cũng như giới truyền thông chào đón nồng nhiệt. Báo giới khi ấy còn ví von Diana là "Vương phi Kim cương" (chơi chữ "Di-amond") và "Viên ngọc trên Vương miện".[152] Tháng 11 năm 1985, cặp đôi thăm Hoa Kỳ, gặp gỡ Tổng thống Ronald Reagan và Đệ nhất Phu nhân Nancy Reagan tại Nhà Trắng.[153] Năm 1986 là một năm bận rộn với Diana khi bà cùng Charles công du Nhật Bản, Tây Ban NhaCanada.[154] Tại Canada, khi đến thăm triển lãm Expo 86, Diana đã bị ngất xỉu tại Gian hàng California.[148][155][156] Tháng 11 năm 1986, bà thực hiện chuyến công du sáu ngày đến các nước Oman, Qatar, BahrainẢ Rập Xê Út. Tại đây, bà đã có cuộc gặp với Quốc vương Fahd của Ả Rập Xê Út và Quốc vương Qaboos của Oman.[157]

Năm 1988, Charles và Diana đã đến thăm Thái Lan và thực hiện chuyến công du quanh nước Úc nhân dịp lễ kỷ niệm 200 năm thành lập quốc gia này.[141][158] Tháng 2 năm 1989, bà có chuyến đi cá nhân ngắn ngày đến New York, chủ yếu để quảng bá cho Nhà hát Opera Quốc gia xứ Wales mà bà đang giữ vai trò người bảo trợ.[159] Trong chuyến thăm Trung tâm Bệnh viện Harlem, bà đã khiến mọi người xúc động khi bất ngờ ôm chầm lấy một em bé 7 tuổi đang mắc bệnh AIDS.[160] Đến tháng 3 năm 1989, bà thực hiện chuyến đi thứ hai đến các quốc gia Ả Rập thuộc vùng Vịnh Ba Tư, ghé thăm KuwaitCác Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE).[157]

Tháng 3 năm 1990, Diana cùng Charles công du NigeriaCameroon.[161]Tại thủ đô Yaoundé, Tổng thống Cameroon Paul Biya đã tổ chức một bữa tiệc tối trang trọng để chào đón họ.[161] Những điểm nhấn đáng nhớ trong chuyến đi này là việc Diana đến thăm các bệnh viện và khảo sát những dự án tập trung vào sự phát triển của phụ nữ.[162] Tháng 5 năm 1990, họ có chuyến thăm kéo dài 4 ngày đến Hungary.[160][163] Đây là lần đầu tiên các thành viên Vương thất Anh đặt chân đến một quốc gia thuộc khối Hiệp ước Warsaw cũ.[160] Họ đã tham dự tiệc tối do Tổng thống Árpád Göncz chủ trì và xem trình diễn thời trang tại Bảo tàng Nghệ thuật Ứng dụng ở Budapest.[164] Diana cũng đã đến thăm Viện Pető và trao tặng huân chương OBE danh dự cho giám đốc của viện.[160] Tháng 11 năm 1990, bà và Charles đã sang Nhật Bản để tham dự lễ đăng quang của Thiên hoàng Akihito.[141][165]

Vương phi Diana cùng với Barbara Bush tại Phòng Bầu dục màu vàng, năm 1990.

Với mong muốn đóng góp tinh thần khích lệ trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh, Diana đã đến Đức vào tháng 12 năm 1990 để gặp gỡ gia đình các binh sĩ.[160] Sau đó, bà tiếp tục đến Đức vào tháng 1 năm 1991 để thăm Căn cứ Không quân Hoàng gia Bruggen, rồi viết một bức thư động viên được đăng tải trên các báo Soldier, Navy NewsRAF News.[160] Năm 1991, Charles và Diana đến thăm Đại học Queen's tại Kingston, Ontario (Canada), nơi họ trao tặng nhà trường một bản sao Hiến chương Hoàng gia.[166]Tháng 9 năm 1991, Diana thực hiện chuyến đi cá nhân đến Pakistan, sau đó cùng Charles đến Brazil.[167] Trong chuyến thăm Brazil, Diana đã ghé thăm các tổ chức đang nỗ lực giải quyết tình trạng vô gia cư cho trẻ em đường phố.[168] Những chuyến công du cuối cùng của bà cùng Charles là đến Ấn ĐộHàn Quốc vào năm 1992.[169][170] Bà đã đến thăm cơ sở chăm sóc của Mẹ Teresa tại Kolkata, Ấn Độ.[171] Hai người phụ nữ vĩ đại này đã gặp lại nhau tại Rome vào cuối tháng đó và xây dựng một tình bạn thân thiết..[171] Cũng chính trong chuyến thăm Ấn Độ này, hình ảnh Diana ngồi lẻ loi một mình trước đền Taj Mahal đã trở thành tâm điểm trên khắp các mặt báo.[172][173][174]

Tháng 5 năm 1992, bà thực hiện chuyến đi một mình đến Ai Cập, thăm quần thể Kim tự tháp Giza và có cuộc gặp gỡ với Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak.[175][176] Tháng 11 năm 1992, bà có chuyến thăm chính thức với tư cách cá nhân tới Pháp và được Tổng thống François Mitterrand tiếp kiến.[177] Tháng 3 năm 1993, bà thực hiện chuyến công du một mình đầu tiên sau khi ly thân với Charles, đến thăm một bệnh viện phong ở Nepal. Tại đây, bà đã gặp gỡ và tiếp xúc trực tiếp với các bệnh nhân, đây là lần đầu tiên họ được một nhân vật cấp cao chạm vào người khi đến thăm hỏi.[178]Tháng 12 năm 1993, bà tuyên bố sẽ rút lui khỏi các hoạt động công chúng, nhưng đến tháng 11 năm 1994, bà bày tỏ mong muốn được "quay trở lại một phần".[179] Với tư cách là Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Anh, bà mong muốn đóng góp một vai trò quan trọng trong lễ kỷ niệm 125 năm thành lập tổ chức này.[160] Sau đó, Nữ vương Elizabeth II đã chính thức mời bà tham dự lễ kỷ niệm ngày D-Day (ngày quân Đồng minh đổ bộ lên Normandy).[160] Tháng 2 năm 1995, Diana có chuyến thăm tới Nhật Bản. Tại đây, bà đã có buổi yết kiến chính thức Thiên hoàng AkihitoHoàng hậu Michiko, đồng thời ghé thăm Bệnh viện Nhi Quốc gia ở Tokyo.[180][181] Đến tháng 6 năm 1995, bà tham dự triển lãm nghệ thuật Venice Biennale và sau đó tới Moscow để nhận Giải thưởng Quốc tế Leonardo.[182] Tháng 11 cùng năm, bà thực hiện chuyến công du 4 ngày tới Argentina để tham dự một sự kiện từ thiện.[183] Ngoài ra, bà còn đặt chân tới nhiều quốc gia khác như Bỉ, Thụy Sĩ, Zimbabwe và vô số nơi khác.[184] Trong suốt gần 4 năm ly thân với Charles, Diana vẫn tiếp tục góp mặt tại các sự kiện trọng đại của đất nước với tư cách là một thành viên cấp cao của Vương thất. Nổi bật trong số đó là sự hiện diện của bà tại lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Chiến thắng ở Châu Âu (VE Day) và Ngày Chiến thắng Nhật Bản (VJ Day) vào năm 1995.[185]

Hoạt động từ thiện và bảo trợ

[sửa | sửa mã nguồn]
Vương phi Diana tại lễ khai trương chính thức trung tâm cộng đồng trên đường Whitehall, Bristol, tháng 5 năm 1987.

Năm 1983, Diana từng trải lòng với Thủ hiến vùng Newfoundland, ông Brian Peckford rằng: "Tôi cảm thấy vô cùng khó khăn khi phải gánh vác những áp lực của một Vương phi xứ Wales, nhưng tôi đang học cách để thích nghi với điều đó."[186] Theo khuôn mẫu bảo trợ vương thất của thế kỷ 20, bà được kỳ vọng phải thường xuyên xuất hiện trước công chúng tại các bệnh viện, trường học và nhiều cơ sở xã hội khác. Kể từ giữa thập niên 80, tên tuổi của bà ngày càng gắn liền với vô số tổ chức từ thiện. Bà đã thực hiện 191 nhiệm vụ công vụ vào năm 1988,[187] Diana dành sự quan tâm đặc biệt sâu sắc đến các căn bệnh hiểm nghèo và những vấn đề sức khỏe vốn nằm ngoài phạm vi quan tâm truyền thống của Vương thất, bao gồm HIV/AIDSbệnh phong. Để ghi nhận những đóng góp của bà với tư cách là một nhà hoạt động nhân đạo, ông Stephen Lee – Giám đốc Viện Quản lý Gây quỹ Từ thiện Vương quốc Anh – đã nhận định: "Tác động toàn diện của bà đối với công tác từ thiện có lẽ lớn lao hơn bất kỳ cá nhân nào khác trong thế kỷ 20."[188]

Diana là người bảo trợ cho nhiều tổ chức và quỹ từ thiện chuyên hỗ trợ người vô gia cư, thanh thiếu niên, người nghiện ma túy và người cao tuổi. Kể từ năm 1989, bà giữ cương vị Chủ tịch Bệnh viện Nhi Great Ormond Street. Bà cũng là người bảo trợ của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên,[189][190] đồng thời là Chủ tịch của Học viện Âm nhạc Hoàng gia[191][192][189] Từ năm 1984 đến 1996, bà đảm nhận vai trò Chủ tịch của Barnardo's – một tổ chức từ thiện do Tiến sĩ Thomas John Barnardo sáng lập năm 1866 nhằm chăm sóc trẻ em và thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn.[193][189] Năm 1988, bà trở thành người bảo trợ của Hội Chữ thập đỏ Anh và tích cực hỗ trợ các chi nhánh của tổ chức này tại nhiều quốc gia khác như Úc và Canada.[160] Mỗi tuần, bà đều dành nhiều thời gian đến thăm Bệnh viện Royal Brompton để an ủi, động viên những bệnh nhân hiểm nghèo hoặc những bệnh nhân đang cận kề cái chết.[194] Giai đoạn 1991–1996, bà là người bảo trợ của Headway, một hiệp hội hỗ trợ những người bị chấn thương sọ não.[189][195] Năm 1992, bà trở thành người bảo trợ đầu tiên của Quỹ Chester Childbirth Appeal, một tổ chức mà bà đã âm thầm ủng hộ từ năm 1984.[196] Nhờ sự giúp đỡ của bà, tổ chức đã quyên góp được hơn 1 triệu bảng Anh.[197] Năm 1994, bà đã cùng người bạn Julia Samuel sáng lập tổ chức Child Bereavement UK và trở thành người bảo trợ cho quỹ này.[198] Đây là tổ chức chuyên hỗ trợ trẻ em thuộc các gia đình quân nhân, trẻ có người thân tự tử hoặc có cha mẹ mắc bệnh nan y. Sau này, con trai bà là Vương tử William đã tiếp bước mẹ trở thành người bảo trợ cho tổ chức này.[199]

Năm 1987, Diana được trao tặng danh hiệu "Tự do Danh dự của Thành phố London" (Honorary Freedom of the City of London) – vinh dự cao quý nhất mà Thành phố London có thể trao tặng cho một cá nhân.[200][201] Tháng 6 năm 1995, bà có chuyến đi tới Moscow. Tại đây, bà đã ghé thăm một bệnh viện nhi mà trước đó bà từng hỗ trợ cung cấp trang thiết bị y tế. Đến tháng 12 năm 1995, tại thành phố New York, Diana được vinh danh với Giải thưởng Nhân đạo của Năm do tổ chức United Cerebral Palsy (Hiệp hội Bại não Hoa Kỳ) trao tặng, ghi nhận những nỗ lực thiện nguyện không ngừng nghỉ của bà..[202][203][204] Tháng 10 năm 1996, nhờ những đóng góp tích cực trong việc chăm sóc người cao tuổi, bà đã được trao tặng huy chương vàng tại một hội nghị y tế do Trung tâm Pio Manzù tổ chức ở Rimini, Ý.[205]

Ngay ngày hôm sau khi chính thức ly hôn, Diana tuyên bố từ nhiệm khỏi hơn 100 tổ chức từ thiện và chỉ giữ lại vai trò bảo trợ cho 6 tổ chức, bao gồm: Centrepoint (tổ chức hỗ trợ người vô gia cư), Vũ đoàn Ballet Quốc gia Anh, Bệnh viện Nhi Great Ormond Street, Tổ chức Sứ mệnh Bệnh phong (The Leprosy Mission), Quỹ AIDS Quốc gia và Bệnh viện Royal Marsden.[206] Bà vẫn tiếp tục đồng hành cùng Chiến dịch Chống Bom mìn Sát thương của Hội Chữ thập đỏ Anh, tuy nhiên không còn giữ danh nghĩa là người bảo trợ chính thức nữa.[207][208]

Tháng 5 năm 1997, nhận lời mời từ người bạn thân thiết Richard Attenborough, Diana đã đến Leicester để khánh thành Trung tâm Richard Attenborough về Nghệ thuật và Người khuyết tật.[209] Tháng 6 năm 1997, theo gợi ý của con trai William, bà đã đem đấu giá một số bộ váy áo và âu phục của mình tại nhà đấu giá Christie's ở LondonNew York. Toàn bộ số tiền thu được từ sự kiện này đều được quyên góp cho các tổ chức từ thiện.[210] Nhiệm vụ công vụ cuối cùng của bà là chuyến thăm Bệnh viện Northwick Park ở London vào ngày 21 tháng 7 năm 1997.[211] Tiệc sinh nhật lần thứ 36 – và cũng là sinh nhật cuối cùng trong đời bà – đã được tổ chức tại Bảo tàng Tate (Tate Gallery), kết hợp với lễ kỷ niệm 100 năm thành lập bảo tàng này.[212] Theo lịch trình, lẽ ra bà sẽ tham dự một buổi gây quỹ tại Trung tâm Chỉnh xương cho Trẻ em (Osteopathic Centre for Children) vào ngày 4 tháng 9 năm 1997, ngay sau khi trở về từ Paris.[213]

Diana bắt đầu dấn thân vào công tác hỗ trợ bệnh nhân AIDS từ những năm 1980.[214] Đi ngược lại làn sóng kỳ thị gay gắt thời bấy giờ, bà không ngần ngại tiếp xúc trực tiếp với các bệnh nhân[215] – và là thành viên Vương thất Anh đầu tiên có hành động như vậy.[216] Năm 1987, cái nắm tay của bà với một bệnh nhân AIDS đã trở thành một trong những nỗ lực tiên phong nhằm xóa bỏ định kiến về căn bệnh thế kỷ..[217][218] Diana từng chia sẻ: "HIV không biến người ta thành mối nguy hiểm khi tiếp xúc. Bạn hoàn toàn có thể bắt tay, ôm họ vào lòng. Có Chúa mới biết họ khao khát điều đó đến nhường nào. Hơn thế nữa, bạn có thể chia sẻ với họ mọi thứ, từ mái ấm, nơi làm việc cho đến sân chơi và cả đồ chơi nữa." [160] Tuy nhiên, điều khiến Diana thất vọng là Nữ vương lại không ủng hộ mảng từ thiện này, thậm chí còn gợi ý bà nên tham gia vào "những việc gì đó dễ chịu hơn".[219] Tháng 7 năm 1989, bà khánh thành Trung tâm Landmark Aids ở Nam London.[220][221] Tháng 10 năm 1990, Diana khai trương Grandma's House (Nhà của Bà), một mái ấm dành cho các bệnh nhân AIDS nhỏ tuổi tại Washington, DC.[222] Bà cũng là người bảo trợ của Quỹ AIDS Quốc gia và thường xuyên lui tới London Lighthouse – trung tâm chăm sóc nội trú cho người nhiễm HIV (sau này sáp nhập với Terrence Higgins Trust).[160] Năm 1991, bà đã ôm chặt một bệnh nhân khi đến thăm khu điều trị AIDS tại Bệnh viện Middlesex – đơn vị chuyên biệt đầu tiên tại Anh về căn bệnh này do chính bà cắt băng khánh thành năm 1987.[160] Với tư cách là người bảo trợ của Turning Point, một tổ chức chăm sóc sức khỏe và xã hội, bà đã đến thăm dự án hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS của tổ chức tại London vào năm 1992.[223] Sau này, bà còn khởi xướng và tiên phong nhiều chiến dịch gây quỹ cho công tác nghiên cứu về AIDS.[224]

Tháng 3 năm 1997, Diana đến thăm Nam Phi và có cuộc gặp gỡ với cựu Tổng thống Nelson Mandela.[225][226] Ngày 2 tháng 11 năm 2002, Mandela thông báo rằng Quỹ Nhi đồng Nelson Mandela sẽ bắt tay với Quỹ Tưởng niệm Diana, Vương phi xứ Wales để hỗ trợ những người mắc bệnh AIDS.[227] Thực tế, kế hoạch hợp tác giữa hai tổ chức từ thiện này đã được họ thảo luận từ vài tháng trước khi bà qua đời.[227] Sau này, Mandela đã dành những lời ca ngợi đầy trân trọng cho những nỗ lực của Diana trong cuộc chiến chống lại HIV/AIDS: "Khi bà vuốt ve đôi chân của người bệnh phong hay ngồi bên giường bệnh, nắm lấy tay một người nhiễm HIV/AIDS, bà đã thay đổi hoàn toàn thái độ của công chúng và mở ra cơ hội sống tốt đẹp hơn cho những con người bất hạnh ấy." [228] Mandela khẳng định, Diana đã sử dụng hào quang của mình để "chiến đấu chống lại sự kỳ thị bủa vây những người đang sống chung với HIV/AIDS".[229]

Diana cùng Hillary Clinton tại Nhà Trắng sau một buổi gây quỹ vận động chống mìn, tháng 6 năm 1997.

Diana là người bảo trợ của HALO Trust, một tổ chức chuyên rà phá những tàn tích chiến tranh, đặc biệt là bom mìn.[230][231] Tháng 1 năm 1997, hình ảnh Diana mặc áo chống đạn, đội mũ bảo hộ bước đi trên một bãi mìn ở Angola đã lan truyền và gây chấn động toàn thế giới.[232][233] Trong chiến dịch này, bà từng bị Bá tước Howe – một quan chức Bộ Quốc phòng Anh – cáo buộc là can thiệp vào chính trị và gọi bà là một "kẻ gây rối khó lường".[234] Bất chấp những chỉ trích đó, tổ chức HALO khẳng định rằng những nỗ lực của Diana đã giúp nâng cao đáng kể nhận thức quốc tế về bom mìn cũng như những nỗi đau thương tâm và dai dẳng mà chúng gây ra.[235][236] Tháng 6 năm 1997, bà đã có bài phát biểu tại hội nghị về bom mìn tổ chức ở Hội Địa lý Hoàng gia, sau đó đến Washington, DC để ủng hộ sáng kiến chống bom mìn của Hội Chữ thập đỏ Mỹ. Từ ngày 7 đến ngày 10 tháng 8 năm 1997 – chỉ vài ngày trước khi qua đời – bà đã đến Bosnia và Herzegovina cùng Jerry White và Ken Rutherford thuộc Mạng lưới Người sống sót sau tai nạn Bom mìn.[237][238][239]

Những hoạt động không mệt mỏi của Diana về vấn đề này được đánh giá là nhân tố then chốt dẫn đến việc ký kết Hiệp ước Ottawa, quy định lệnh cấm quốc tế đối với việc sử dụng mìn chống bộ binh.[240]

Khi trình bày Phiên đọc thứ hai của Dự luật Bom mìn 1998 trước Hạ viện Anh, Ngoại trưởng Robin Cook đã dành lời tri ân sâu sắc tới những đóng góp của Diana:

"Chắc hẳn qua thư từ của cử tri gửi về, các Nghị sĩ đáng kính ở đây đều nhận thấy đóng góp to lớn của Diana, Vương phi xứ Wales, trong việc giúp công chúng thấu hiểu sâu sắc những mất mát về con người do bom mìn gây ra. Cách tốt nhất để chúng ta ghi nhận công lao của bà, cũng như nỗ lực của các tổ chức phi chính phủ đã vận động chống lại bom mìn, chính là thông qua Dự luật này và mở đường cho một lệnh cấm bom mìn trên toàn cầu."[241]

Vài tháng sau khi Diana qua đời vào năm 1997, Chiến dịch Quốc tế Ban hành Lệnh cấm Bom mìn (ICBL) đã vinh dự được trao giải Nobel Hòa bình.[242]

Trong chuyến công du chính thức đầu tiên với tư cách cá nhân, Diana đã chọn điểm đến là Quỹ Y tế Quốc gia Royal Marsden – một bệnh viện chuyên điều trị ung thư tại London. Sau này, bà cũng đưa tổ chức từ thiện này vào danh sách những đơn vị được hưởng lợi từ buổi đấu giá trang phục của mình tại New York. Giám đốc truyền thông của quỹ từng nhận định rằng bà đã "góp công lớn trong việc xóa bỏ những định kiến và sự kiêng kỵ bao trùm lên các căn bệnh như ung thư, AIDS, HIV và bệnh phong". Diana chính thức đảm nhận cương vị Chủ tịch bệnh viện vào ngày 27 tháng 6 năm 1989.[243][244] Đến ngày 25 tháng 2 năm 1993, bà cắt băng khánh thành Đơn vị Ung thư Nhi Wolfson.[245] Tháng 2 năm 1996, sau khi biết tin ông Imran Khan vừa xây dựng một bệnh viện ung thư mới, Diana đã sang Pakistan để thăm các phòng bệnh nhi và tham dự tiệc tối gây quỹ tại Lahore. Bà còn quay lại thăm bệnh viện này một lần nữa vào tháng 5 năm 1997.[246] Tháng 6 năm 1996, trên cương vị Chủ tịch Bệnh viện Royal Marsden, bà tới Chicago tham dự sự kiện gây quỹ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Field và quyên góp được hơn 1 triệu bảng Anh cho công tác nghiên cứu ung thư.[160] Bên cạnh đó, bà cũng đến thăm bệnh nhân tại Bệnh viện Cook County, gặp gỡ nhóm các nhà nghiên cứu và có bài phát biểu tại hội nghị về ung thư vúĐại học Northwestern.[247] Tháng 9 năm 1996, nhận lời mời của bà Katharine Graham, Diana đã đến Washington dự buổi tiệc sáng tại Nhà Trắng nhằm ủng hộ Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Vú Nina Hyde.[248] Cũng tại đây, bà đã tham dự sự kiện gây quỹ thường niên cho nghiên cứu về ung thư vú do tờ The Washington Post tổ chức.[249][224][250] Năm 1988, Diana thành lập tổ chức "Children with Leukaemia" (Trẻ em mắc bệnh Bạch cầu – sau này đổi tên thành Children with Cancer UK) để tưởng nhớ hai nạn nhân nhỏ tuổi qua đời vì căn bệnh quái ác này.[251][252][253] Tháng 11 năm 1987, chỉ vài ngày sau khi em Jean O'Gorman mất vì ung thư, Diana đã đến gặp gia đình em.[254][255] Nỗi đau trước sự ra đi của Jean và trước đó là anh trai của em đã khiến bà vô cùng xúc động, thôi thúc bà chung tay cùng gia đình O'Gorman gây dựng nên tổ chức.[256][257][258] Ngày 12 tháng 1 năm 1988, bà chính thức khai trương tổ chức tại Trường Trung học Mill Hill và tiếp tục đồng hành, hỗ trợ nơi này cho đến tận khi bà qua đời vào năm 1997.[259][260]

Lĩnh vực khác

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1989, Diana đã đến thăm một trại phong tại Indonesia.[261][262] Sau chuyến đi này, bà chính thức trở thành người bảo trợ của Tổ chức Sứ mệnh Bệnh phong (The Leprosy Mission) – đơn vị chuyên cung cấp thuốc men, điều trị và các dịch vụ hỗ trợ thiết yếu cho những người mắc căn bệnh này. Bà vẫn duy trì vai trò bảo trợ cho tổ chức này[263] và đã đặt chân đến nhiều bệnh viện của họ trên khắp thế giới, đặc biệt là tại Ấn Độ, Nepal, ZimbabweNigeria cho đến tận khi qua đời vào năm 1997.[160][264] Bà đã không ngần ngại chạm vào cơ thể những bệnh nhân phong, ngay giữa thời điểm mà nhiều người vẫn lầm tưởng rằng căn bệnh này có thể lây lan chỉ qua những tiếp xúc thông thường.[160][265] Bà từng chia sẻ: "Tôi luôn tâm niệm phải chạm vào những người bệnh phong, để qua một hành động giản đơn ấy, chứng minh cho họ thấy rằng họ không hề bị hắt hủi, và chúng ta cũng không hề ghê sợ họ." [266] Để vinh danh bà, Trung tâm Truyền thông và Giáo dục Sức khỏe Diana, Vương phi xứ Wales đã được khánh thành tại Noida, Ấn Độ vào tháng 11 năm 1999. Công trình này được tài trợ bởi Quỹ Tưởng niệm Diana, Vương phi xứ Wales nhằm cung cấp hỗ trợ xã hội cho những người chịu ảnh hưởng bởi bệnh phong.[267]

Bên cạnh đó, Diana còn là người ủng hộ tích cực và lâu năm của Centrepoint – tổ chức từ thiện chuyên cung cấp chỗ ở và hỗ trợ người vô gia cư; bà chính thức trở thành người bảo trợ của tổ chức này vào năm 1992.[268][269] Bà cũng sát cánh cùng nhiều tổ chức khác trong cuộc chiến chống đói nghèo và tình trạng vô gia cư, bao gồm cả tổ chức The Passage.[270] Diana đặc biệt quan tâm đến những người trẻ vô gia cư và thường xuyên lên tiếng thay cho họ, bởi bà tin rằng "họ xứng đáng có một khởi đầu tử tế trong cuộc đời".[271] Bà nhấn mạnh: "Chúng ta, với tư cách là một phần của xã hội, phải đảm bảo rằng những người trẻ – thế hệ tương lai của chúng ta – được trao những cơ hội mà họ xứng đáng được nhận".[272] Diana thường bí mật đưa hai vương tử nhỏ William và Harry đến thăm các cơ sở của Centrepoint và những nơi trú ngụ của người vô gia cư.[273][274][275] Một nhân viên của tổ chức hồi tưởng: "Những bạn trẻ tại Centrepoint luôn thực sự xúc động trước các chuyến thăm cũng như tình cảm chân thành mà bà dành cho họ" [276] Sau này, Vương tử William đã tiếp bước mẹ trở thành người bảo trợ của Centrepoint.[277]

Diana là người ủng hộ kiên định và lâu năm của các tổ chức từ thiện tập trung vào các vấn đề xã hội và tâm lý, tiêu biểu là Relate và Turning Point.[160] Relate được tái cơ cấu vào năm 1987 như một phiên bản đổi mới từ tiền thân là Hội đồng Tư vấn Hôn nhân Quốc gia. Diana chính thức trở thành người bảo trợ của tổ chức này vào năm 1989. Turning Point, một tổ chức chăm sóc sức khỏe và xã hội, được thành lập năm 1964 với sứ mệnh giúp đỡ những người chịu ảnh hưởng bởi việc lạm dụng rượu bia, chất kích thích cũng như các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Bà trở thành người bảo trợ của tổ chức vào năm 1987 và thường xuyên thực hiện các chuyến thăm, gặp gỡ trực tiếp những người bệnh tại các trung tâm hoặc cơ sở điều trị.[160] Năm 1990, trong một bài phát biểu, bà nhấn mạnh: "Cần phải có sự chuyên nghiệp thực sự mới có thể thuyết phục được công chúng – những người vốn còn nhiều hoài nghi – chấp nhận đón nhận trở lại cộng đồng những người được chẩn đoán mắc chứng loạn thần, rối loạn thần kinh và những bệnh nhân khác; những con người mà xã hội thời Victoria từng cho rằng cần phải bị cách ly và giấu kín sau những bức tường của viện tâm thần"[160]. Năm 1991, bất chấp những rào cản về mặt nghi thức khi đến thăm một quốc gia Hồi giáo, bà vẫn quyết tâm thực hiện chuyến đi tới Pakistan để thăm một trung tâm cai nghiện ở Lahore. Hành động này được xem là minh chứng rõ nét cho "cam kết của bà trong cuộc chiến chống lại nạn lạm dụng chất kích thích".[160]

Quyền riêng tư và các vấn đề pháp lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1980, tờ Sunday Mirror đăng tải một bài viết cáo buộc rằng Charles đã sử dụng con Tàu Hoàng gia hai lần cho những cuộc hẹn hò bí mật với Diana. Sự việc này buộc Cung điện phải đưa ra tuyên bố bác bỏ, gọi câu chuyện này là "hoàn toàn bịa đặt" và yêu cầu một lời xin lỗi.[278][279] Tuy nhiên, các biên tập viên của tờ báo vẫn khăng khăng khẳng định người phụ nữ bước lên tàu chính là Diana và kiên quyết từ chối xin lỗi.[280] Tháng 2 năm 1982, những bức ảnh Diana mặc bikini khi đang mang thai trong kỳ nghỉ mát đã bị tung lên các phương tiện truyền thông. Ngay sau đó, Nữ hoàng đã ra tuyên bố chỉ trích và gọi đây là "ngày đen tối nhất trong lịch sử báo chí Anh".[281]

Năm 1993, tập đoàn báo chí Mirror Group Newspapers (MGN) đã cho đăng tải những bức ảnh của Diana do Bryce Taylor, một chủ phòng tập thể hình, chụp lại. Những bức ảnh này ghi lại cảnh bà đang tập luyện tại phòng gym LA Fitness trong trang phục "áo liền quần (leotard) và quần short đạp xe".[282][283] Các luật sư của Diana ngay lập tức đệ đơn kiện hình sự nhằm yêu cầu "lệnh cấm vĩnh viễn đối với việc mua bán và phát tán những bức ảnh này" trên toàn thế giới.[284][285] Tuy nhiên, một số tờ báo bên ngoài Vương quốc Anh vẫn cho đăng tải chúng.[286] Tòa án sau đó đã ban hành lệnh khẩn cấp đối với Taylor và MGN, nghiêm cấm "mọi hành vi tiếp tục phát tán các bức ảnh".[287] Sau khi vấp phải làn sóng chỉ trích dữ dội từ công chúng, MGN đã phải đưa ra lời xin lỗi, đồng thời chi trả 1 triệu bảng Anh tiền án phí cho Diana và quyên góp 200.000 bảng cho các tổ chức từ thiện của bà.[288] Phía LA Fitness đã đưa ra lời xin lỗi vào tháng 6 năm 1994. Tiếp đó, vào tháng 2 năm 1995 – khoảng một tuần trước khi phiên tòa dự kiến bắt đầu – Taylor cũng đã lên tiếng xin lỗi và chấp nhận từ bỏ khoản tiền 300.000 bảng thu được từ việc bán ảnh trong một thỏa thuận dàn xếp ngoài tòa án.[289] Có cáo buộc cho rằng một thành viên Vương thất đã hỗ trợ tài chính giúp ông ta dàn xếp vụ việc này.[290]

Năm 1994, những bức hình chụp cảnh Diana tắm nắng trong trạng thái bán khỏa thân tại một khách sạn ở Costa del Sol đã bị một hãng ảnh của Tây Ban Nha rao bán với mức giá lên tới 1 triệu bảng Anh.[291]> Đến năm 1996, một loạt ảnh Diana tắm nắng bán khỏa thân lại xuất hiện trên tờ Mirror, châm ngòi cho "một làn sóng phẫn nộ dữ dội về việc xâm phạm quyền riêng tư".[292] Cũng trong năm này, bà trở thành nạn nhân trong trò đùa qua điện thoại của Victor Lewis-Smith, kẻ đã giả danh nhà vật lý Stephen Hawking để gọi điện cho bà, mặc dù toàn bộ đoạn băng ghi âm cuộc trò chuyện này chưa bao giờ được công bố.[293] Cũng vào năm 1996, Stuart Higgins của tờ The Sun đã cho đăng tải một bài viết chấn động ngay trên trang nhất về một đoạn băng thân mật được cho là quay lại cảnh Diana bên người tình James Hewitt. Tuy nhiên, đoạn băng này sau đó được xác định là giả, buộc Higgins phải lên tiếng xin lỗi.[294][295]

Cái chết

[sửa | sửa mã nguồn]
Lối vào phía đông của đường hầm Pont de l'Alma, nơi Diana bị thương dẫn đến tử vong.

Ngày 31 tháng 8 năm 1997, Diana qua đời ở tuổi 36 do những chấn thương quá nặng sau vụ tai nạn xe hơi thảm khốc tại đường hầm Pont de l'Alma, Paris. Bi kịch xảy ra khi tài xế của bà đang cố gắng chạy trốn sự truy đuổi của cánh săn ảnh.[296] Bà được đưa đến Bệnh viện Pitié-Salpêtrière vào khoảng 2 giờ sáng, nhưng đã trút hơi thở cuối cùng vào khoảng 4 giờ sáng.[297] Vụ tai nạn cũng cướp đi sinh mạng của người tình Dodi Fayed và tài xế Henri Paul – người cũng là quản lý an ninh của Khách sạn Ritz Paris. Trevor Rees-Jones, vệ sĩ do cha của Dodi thuê, là người duy nhất sống sót nhưng bị chấn thương sọ não nghiêm trọng.[298]

Tang lễ của bà diễn ra vào ngày 6 tháng 9 và được truyền hình trực tiếp, thu hút lượng người xem khổng lồ. Tại Anh, lượng khán giả đạt đỉnh 32,1 triệu người – một trong những con số cao nhất lịch sử truyền hình xứ sở sương mù; còn tại Mỹ, con số này lên tới 50 triệu.[299][300] Sự kiện đau buồn này được phát sóng tới hơn 200 quốc gia và ước tính có khoảng 2,5 tỷ người trên toàn thế giới theo dõi.[301][302]

Lễ tưởng niệm, tang lễ và chôn cất

[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ra đi đột ngột và đầy bất ngờ của một nhân vật Vương thất được công chúng yêu mến nồng nhiệt đã khiến các nhà lãnh đạo cấp cao trên toàn thế giới đồng loạt gửi lời chia buồn, cùng với đó là vô vàn hành động tri ân từ phía người dân.[303][304][305] Suốt nhiều tháng trời, dòng người đã để lại hoa, nến, thiệp và những lời nhắn gửi cá nhân phủ kín bên ngoài Cung điện Kensington. Ngày 31 tháng 8 năm 1997, linh cữu của Diana, được phủ lá cờ Vương thất, đã được Thái tử Charles cùng hai người chị gái của bà đưa từ Paris về London.[306][307] Linh cữu sau đó được đưa đến một nhà xác tư nhân trước khi được quàn tại Nhà nguyện Hoàng gia thuộc Cung điện St James.[308]

Hoa tươi bên ngoài Cung điện Kensington
Quan tài của Diana, được phủ bằng quốc kỳ hoàng gia viền lông chồn, được khiêng qua London đến Tu viện Westminster.

Ngày 5 tháng 9, Nữ vương Elizabeth II đã có bài phát biểu trực tiếp trên truyền hình để tưởng nhớ Diana.[309] Tang lễ trọng thể diễn ra tại Tu viện Westminster vào ngày 6 tháng 9. Hai con trai của bà đã bước đi trong đoàn rước tang ngay sau linh cữu mẹ, cùng với Thái tử xứ Wales, Công tước xứ Edinburgh, Lãnh chúa Spencer (em trai Diana) và đại diện của một số tổ chức từ thiện mà bà từng bảo trợ.[310] Lãnh chúa Spencer đã nói về chị gái mình rằng: "Trong năm vừa qua, chị ấy đã chứng minh rằng mình chẳng cần đến tước hiệu Vương thất nào để tiếp tục lan tỏa thứ phép màu kỳ diệu mang thương hiệu riêng của mình".[311] Ca khúc "Candle in the Wind 1997", với phần lời được viết lại để tưởng niệm Diana, đã được Elton John trình bày tại tang lễ (đây cũng là lần duy nhất bài hát này được biểu diễn trực tiếp).[312] Được phát hành dưới dạng đĩa đơn vào năm 1997, toàn bộ doanh thu toàn cầu từ ca khúc này đã được chuyển đến các quỹ từ thiện của Diana.[313][314][315]

Lễ an táng diễn ra riêng tư vào cuối ngày hôm đó. Chồng cũ, các con trai, mẹ ruột, anh chị em, một người bạn thân và một giáo sĩ đã có mặt để tiễn đưa bà. Thi hài Diana được mặc chiếc váy đen dài tay do Catherine Walker thiết kế, trang phục mà chính bà đã chọn từ vài tuần trước đó. Một chuỗi tràng hạt Mân Côi – món quà bà nhận được từ Mẹ Teresa – được đặt trong đôi tay bà. Mộ phần của Diana được dựng trên một hòn đảo nhỏ trong khuôn viên Công viên Althorp, dinh thự của gia tộc Spencer suốt nhiều thế kỷ qua.[316]

Hồ Round Oval ở Althorp, phía xa là đài tưởng niệm Diana.

Nghi thức an táng do Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn Vương thất Vương phi xứ Wales đảm nhiệm. Các binh sĩ đã rước linh cữu Diana sang đảo và đưa bà về nơi an nghỉ cuối cùng. Trước đó, Diana từng giữ cương vị Đại tá Danh dự của Trung đoàn này trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1996.[317] Theo kế hoạch ban đầu, Diana dự kiến được an táng tại hầm mộ của gia tộc Spencer nằm trong nhà thờ địa phương ở Great Brington gần đó. Tuy nhiên, Lãnh chúa Spencer lo ngại rằng làn sóng người đến viếng quá đông sẽ gây mất an ninh trật tự và làm đảo lộn cuộc sống tại Great Brington. Chính vì thế, ông quyết định chọn một địa điểm an nghỉ khác, nơi mộ phần của bà vừa được chăm sóc chu đáo, vừa đảm bảo không gian riêng tư để William, Harry và những người thân trong gia đình có thể lui tới viếng thăm.[318]

Thuyết âm mưu, điều tra và phán quyết

[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc điều tra tư pháp ban đầu của Pháp kết luận rằng nguyên nhân vụ tai nạn là do tài xế Henri Paul say rượu, lái xe liều lĩnh, chạy quá tốc độ và chịu ảnh hưởng của các loại thuốc kê đơn.[319]Tháng 2 năm 1998, ông Mohamed Al-Fayed – cha của Dodi Fayed – tuyên bố công khai rằng vụ tai nạn cướp đi sinh mạng con trai ông đã được dàn dựng, đồng thời cáo buộc Cục Tình báo Mật (MI6) và Công tước xứ Edinburgh là những kẻ đứng sau. Một cuộc điều tra bắt đầu tại London vào năm 2004 và kéo dài qua các năm 2007, 2008[320] đã đi đến kết luận rằng vụ tai nạn xảy ra do sự bất cẩn nghiêm trọng của tài xế Paul, cũng như sự truy đuổi gắt gao của cánh săn ảnh – những kẻ đã ép Paul phải phóng xe với tốc độ cao vào đường hầm.[321]

Năm 2003, cựu quản gia của Diana là Paul Burrell đã công bố một bức thư mà ông khẳng định do chính Diana viết vào năm 1995, trong đó chứa đựng những cáo buộc rằng Thái tử Charles đang "lên kế hoạch cho 'một tai nạn' trên chiếc xe của [Diana], khiến phanh bị hỏng và gây chấn thương sọ não nghiêm trọng", nhằm mục đích dọn đường để ông có thể tái hôn.[322] Trước đó vào tháng 10 năm 1995, bà được cho là cũng đã bày tỏ những lo ngại tương tự với luật sư của mình là Lãnh chúa Mishcon. Bà nói rằng "những nguồn tin đáng tin cậy" đã cảnh báo "bà và Camilla sẽ bị loại bỏ" để Charles có thể kết hôn với Tiggy Legge-Bourke.[323]> Khi bị thẩm vấn bởi đội điều tra của Cảnh sát Đô thành trong khuôn khổ Chiến dịch Paget, Charles khai với cơ quan chức năng rằng ông không hề hay biết về bức thư năm 1995 của vợ cũ và không thể hiểu nổi tại sao bà lại có những suy nghĩ như vậy.[324] Ngày 7 tháng 4 năm 2008, bồi thẩm đoàn đã đưa ra phán quyết cuối cùng là "giết người trái pháp luật" (unlawful killing). Một ngày sau phán quyết này, ông Al-Fayed tuyên bố chấm dứt chiến dịch kéo dài 10 năm nhằm chứng minh bi kịch này là một vụ ám sát; ông cho biết mình quyết định dừng lại là vì các con của Diana.[325]

Những diễn biến tiếp theo

[sửa | sửa mã nguồn]

Thừa kế

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi qua đời, Diana để lại khối tài sản trị giá 21 triệu bảng Anh, "còn lại thực tế 17 triệu bảng sau khi trừ thuế thừa kế". Khối tài sản này được giao cho các người quản lý tín thác, bao gồm mẹ và chị gái Sarah của bà.[326][327] Bản di chúc đã được ký vào tháng 6 năm 1993, nhưng đến tháng 2 năm 1996, Diana đã sửa đổi để gạch tên thư ký riêng khỏi danh sách người quản lý tín thác và thay thế bằng chị gái Sarah.[328] Sau khi khấu trừ các khoản thuế cá nhân và thuế thừa kế, giá trị ròng của khối di sản còn lại là 12,9 triệu bảng để phân chia cho những người thụ hưởng.[329] Hai con trai của bà là những người thừa kế phần lớn khối tài sản này. Mỗi vương tử được thừa hưởng khoản thừa kế ban đầu là 6,5 triệu bảng. Số tiền này sau đó được đem đi đầu tư và sinh lời đáng kể, nâng tổng giá trị lên ước tính khoảng 10 triệu bảng cho mỗi người khi họ tròn 30 tuổi (lần lượt vào năm 2012 và 2014).[330] Nhiều kỷ vật của Diana ban đầu được giao cho anh trai bà trông coi. Ông đã tổ chức trưng bày chúng tại Althorp hai lần mỗi năm cho đến khi trao trả lại cho các con trai của bà.[331][332] Những kỷ vật này cũng được mang đi triển lãm tại các bảo tàng ở Mỹ và tính đến năm 2011 đã giúp gây quỹ được 2 triệu USĐ cho các hoạt động từ thiện.[333] Bộ sưu tập này bao gồm nhiều bộ váy áo, âu phục cùng vô số tranh ảnh gia đình và đồ trang sức.[334] Chiếc nhẫn đính hôn và chiếc đồng hồ vàng của Diana lần lượt được trao lại cho William và Harry. Sau này, William đã trao chiếc nhẫn đính hôn ấy cho vợ mình là Catherine Middleton. Chiếc váy cưới của bà cũng được để lại cho hai người con trai.[330][335][336][337]

Bên cạnh bản di chúc chính thức,[338] Diana còn để lại một bức "thư nguyện vọng". Trong đó, bà mong muốn dành ba phần tư tài sản cá nhân cho các con trai, và chia đều một phần tư còn lại (không bao gồm trang sức) cho 17 người con đỡ đầu.[339] Tuy nhiên, bất chấp mong muốn ấy, những người thi hành di chúc (là mẹ và chị gái bà) đã đệ đơn lên tòa án xin "điều chỉnh" các điều khoản. Bức thư nguyện vọng đã bị bác bỏ với lý do văn bản này "thiếu những thuật ngữ pháp lý bắt buộc theo luật pháp Anh".[340] Kết quả là, mỗi người con đỡ đầu chỉ nhận được một món kỷ vật duy nhất từ di sản của bà. Trong khi lẽ ra, nếu thực hiện đúng theo ý nguyện chia một phần tư tài sản ban đầu, mỗi người đã có thể nhận được khoản tiền trị giá 100.000 bảng Anh.[341] Sự điều chỉnh pháp lý này cũng kéo dài thời gian chờ nhận thừa kế của hai vương tử đến khi họ tròn 30 tuổi, thay vì mốc 25 tuổi như dự định trước đó.[342][343] Ngoài ra, Diana cũng để lại cho người quản gia Paul Burrell một khoản tiền mặt khoảng 50.000 bảng.[344][345]

Mục tiêu giám sát của chính phủ Hoa Kỳ

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1999, sau một yêu cầu Tự do Thông tin do trang tin trực tuyến apbonline.com đệ trình, một sự thật đã được phơi bày: Diana đã bị Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NSA) giám sát cho đến tận khi qua đời. Cơ quan này thậm chí còn lưu giữ một hồ sơ "tối mật" về bà dày hơn 1.000 trang.[346][347] Vì những lo ngại liên quan đến an ninh quốc gia, nội dung hồ sơ của NSA về Diana không được phép tiết lộ.[348] Các quan chức NSA khăng khăng khẳng định rằng Diana không phải là "mục tiêu trong hệ thống nghe lén điện tử quy mô toàn cầu" của họ. Tuy nhiên, bất chấp vô số yêu cầu giải mật các tài liệu này – trong đó đáng chú ý nhất là yêu cầu từ ông Mohamed Al-Fayed – NSA vẫn kiên quyết từ chối công bố.[349]

Năm 2008, Ken Wharfe – cựu vệ sĩ của Diana – đưa ra cáo buộc rằng những cuộc trò chuyện đầy tai tiếng giữa bà và James Gilbey (thường được biết đến với tên gọi scandal "Squidgygate") thực chất đã bị GCHQ (Cơ quan Tình báo Tín hiệu Anh) ghi âm.[350] Ông cho rằng cơ quan này đã cố tình phát tán các đoạn băng đó lặp đi lặp lại. Những người thân cận với Diana tin rằng hành động này nhằm mục đích bôi nhọ danh dự của bà. Wharfe cũng tiết lộ rằng bản thân Diana luôn tin mọi thành viên trong gia đình Vương thất đều bị giám sát, mặc dù ông nhận định lý do chính của việc theo dõi này có thể xuất phát từ những mối đe dọa tiềm tàng của tổ chức IRA (Quân đội Cộng hòa Ireland).[351]

Tưởng niệm

[sửa | sửa mã nguồn]
Elton John biểu diễn tại buổi hòa nhạc tưởng niệm Diana, năm 2007.

Vào ngày giỗ đầu của Diana, dòng người đã đến đặt những bó hoa bên ngoài cổng Cung điện Kensington, và một lễ tưởng niệm đã được tổ chức tại Tu viện Westminster.[352][353] Gia đình Vương thất cùng gia đình Thủ tướng Tony Blair đã đến Nhà thờ Crathie Kirk để cầu nguyện riêng tư, trong khi gia đình Diana tổ chức một buổi lễ tưởng niệm kín đáo tại Althorp.[354][355] Theo lệnh của Nữ vương, toàn bộ cờ tại Cung điện Buckingham và các dinh thự hoàng gia khác đều được treo rủ.[356] Việc lá cờ Liên hiệp Anh (Union Jack) lần đầu tiên được hạ xuống treo rủ vào ngày tang lễ của Diana đã tạo ra một tiền lệ chưa từng có. Bởi theo nghi thức trước đó, không một lá cờ nào được phép treo rủ trên nóc cung điện, ngay cả khi một vị quân chủ băng hà.[357] Tuy nhiên, kể từ năm 1997, Cờ Liên hiệp Anh (ngoại trừ Cờ Hiệu vương thất) sẽ được treo rủ mỗi khi có thành viên vương thất qua đời hoặc trong các dịp quốc tang khác.[358] Buổi hòa nhạc dành cho Diana (Concert for Diana) đã diễn ra tại Sân vận động Wembley vào ngày 1 tháng 7 năm 2007. Sự kiện do hai Vương tử William và Harry đứng ra tổ chức nhằm kỷ niệm sinh nhật lần thứ 46 của mẹ, chỉ vài tuần trước cột mốc 10 năm ngày bà qua đời (31 tháng 8).[359][360] Toàn bộ doanh thu từ sự kiện này đều được chuyển đến các quỹ từ thiện của Diana.[361] Vào đúng ngày 31 tháng 8 năm 2007, một Lễ Tạ ơn dành cho Diana đã được cử hành trang trọng tại Nhà nguyện Guards. Trong số 500 khách mời tham dự có các thành viên Vương thất và họ hàng, gia tộc Spencer, cha mẹ đỡ đầu và các con đỡ đầu của bà, những nhân vật trong lễ cưới năm xưa, bạn bè thân thiết, các trợ lý, cùng đại diện của nhiều tổ chức từ thiện. Ngoài ra còn có sự hiện diện của các chính khách như Gordon Brown, Tony Blair, John Major và những người bạn trong giới giải trí như David Frost, Elton JohnCliff Richard.[192][362]

Tháng 1 năm 2017, một loạt bức thư do Diana cùng các thành viên Vương thất khác gửi cho một nhân viên quản gia tại Cung điện Buckingham đã được bán đấu giá theo bộ sưu tập.[363][364] Riêng sáu bức thư do chính tay Diana viết đã thu về 15.100 bảng Anh. [365][366] Đến năm 2021, một bộ sưu tập khác gồm 40 lá thư được bà viết trong giai đoạn 1990–1997 cũng được bán với giá 67.900 bảng.[367]Năm 2023, hai người bạn của Diana đã đưa ra đấu giá 32 lá thư và thiệp mang tính chất cực kỳ riêng tư, được bà viết trong thời gian diễn ra vụ ly hôn. Họ tuyên bố rằng toàn bộ số tiền thu được sẽ được quyên góp cho các tổ chức từ thiện gắn liền với tên tuổi của họ hoặc của Diana.[368] Cũng trong tháng 2 năm 2017, triển lãm mang tên "Diana: Her Fashion Story" (tạm dịch: Diana: Câu chuyện Thời trang) trưng bày các bộ lễ phục và âu phục của bà đã được khai mạc tại Cung điện Kensington. Đây là hoạt động tri ân nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất của Vương phi, nơi những bộ cánh yêu thích của bà do nhiều nhà thiết kế danh tiếng thực hiện được trưng bày.[369][370][371][372] Bên cạnh đó, nhiều hoạt động tưởng niệm khác cũng được triển khai, bao gồm các triển lãm tại Althorp do em trai bà là Bá tước Spencer chủ trì; chuỗi sự kiện kỷ niệm do tổ chức "Giải thưởng Diana" (The Diana Award)[373]thực hiện; cũng như việc cải tạo lại Vườn Kensington và kiến tạo một khu vực mới mang tên "Khu vườn Trắng" (The White Garden).[374][375][376]

Hình ảnh trước công chúng

[sửa | sửa mã nguồn]

Diana vẫn luôn là một trong những thành viên được yêu mến nhất của gia đình Vương thất trong suốt chiều dài lịch sử, và tầm ảnh hưởng của bà vẫn tiếp tục lan tỏa đến các thế hệ vương thất trẻ tuổi sau này.[377][378][379] Từ khi đính hôn với Charles cho đến lúc qua đời, bà luôn là một nhân vật có tầm vóc lớn trên trường quốc tế và thường được mệnh danh là "người phụ nữ được chụp ảnh nhiều nhất thế giới".[380][381] Bà được nhớ đến bởi lòng trắc ẩn, phong cách thời trang, sức hút cá nhân mãnh liệt và những hoạt động từ thiện tầm cỡ, cũng như cuộc hôn nhân đầy bi kịch của mình.[382][383][384] Người viết tiểu sử Sarah Bradford từng nhận xét: "Liều thuốc duy nhất cho nỗi đau khổ của bà lẽ ra phải là tình yêu của Thân vương xứ Wales... nhưng cách mà ông liên tục hạ thấp bà đã đẩy bà vào hố sâu tuyệt vọng.".[385] Bất chấp mọi sóng gió hôn nhân và bê bối, Diana vẫn duy trì được mức độ tín nhiệm cao trong các cuộc thăm dò dư luận, trái ngược hoàn toàn với tỷ lệ ủng hộ thấp mà chồng bà nhận được.[386] Patrick Jephson, cựu thư ký riêng của Diana, mô tả bà là một người làm việc có tổ chức và cần mẫn, đồng thời chỉ ra rằng Charles đã không thể "chấp nhận sự thật về sự nổi tiếng phi thường của vợ mình" – một quan điểm cũng được người viết tiểu sử Tina Brown đồng tình.[387][388] Jephson cũng cho biết bà là một người sếp nghiêm khắc, "luôn nhanh chóng ghi nhận sự nỗ lực" nhưng cũng sẵn sàng phản kháng quyết liệt "nếu bà cảm thấy mình là nạn nhân của sự bất công".[389] Mẹ của Diana cũng mô tả con gái mình là một người "giàu tình yêu thương" nhưng đôi khi cũng "dữ dội thất thường".[390] Diana thường được ca ngợi là một người mẹ tận tụy hết lòng vì con cái[391][392]; cả hai vương tử đều được cho là chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tính cách và lối sống của bà.[393]

Trong những năm đầu làm dâu Vương thất, Diana thường được biết đến với bản tính nhút nhát.[394][395] Tuy nhiên, nhà báo Michael White lại nhận thấy ở bà sự "thông minh", "sắc sảo và hài hước".[396] Những người tiếp xúc gần gũi mô tả bà là người luôn hành động theo "tiếng gọi của con tim".[397] Trong một bài viết trên tờ The Guardian, Monica Ali tin rằng dù thiếu kinh nghiệm và không có nền tảng học thuật cao, Diana vẫn đủ sức gánh vác những kỳ vọng của Vương thất và vượt qua những cam go, đau khổ trong cuộc sống hôn nhân. Ali cũng cho rằng bà "đã tạo ra ảnh hưởng lâu dài đến nhận thức xã hội, đặc biệt là trong các vấn đề về sức khỏe tâm thần" thông qua việc công khai thảo luận về chứng rối loạn ăn uống của chính mình.[398] Theo Tina Brown, trong những năm đầu, Diana sở hữu một thứ "quyền lực thụ động" – một phẩm chất mà bà cho là điểm tương đồng giữa Diana và Thái hậu Elizabeth (mẹ của Elizabeth II). Chính đặc điểm này đã cho phép bà sử dụng sức hút của mình một cách đầy bản năng để đạt được những mục tiêu mong muốn.[399]

Diana nổi tiếng với những cuộc gặp gỡ, sẻ chia cùng những bệnh nhân đang đau ốm, hấp hối, hay những người nghèo khổ, bị xã hội chối bỏ. Chính sự an ủi và vỗ về ân cần ấy đã giúp bà ngày càng chiếm trọn trái tim của công chúng.[400] Vốn nổi tiếng với tính cách gần gũi, bà được cho là rất ghét sự câu nệ nghi thức trong những mối quan hệ thân tín, thậm chí từng yêu cầu mọi người "đừng có đứng dậy mỗi khi bà bước vào phòng".[401] Diana thường được ghi nhận là người có công mở rộng phạm vi hoạt động từ thiện của Vương thất theo hướng hiện đại hơn.[402] Eugene Robinson của tờ The Washington Post từng viết: "Diana đã thổi vào vai trò Vương phi của mình một sức sống mãnh liệt, tinh thần hành động hăng say và trên hết là một vẻ quyến rũ đầy mê hoặc".[403] Alicia Carroll của tờ The New York Times thì ví Diana như "một làn gió mới" và là lý do chính khiến Vương thất Anh được biết đến rộng rãi tại Hoa Kỳ.[404] Theo quan điểm của Anthony Holden, Diana như được "tái sinh" sau khi ly thân với Charles. Holden mô tả giai đoạn này là "khoảnh khắc huy hoàng" của cuộc đời bà, đưa bà bước vào con đường thành công độc lập.[405]

Sự ra đi đột ngột của Diana đã gây ra một làn sóng tiếc thương chưa từng có trong lịch sử, và kéo theo đó là một cuộc khủng hoảng trầm trọng trong nội bộ Vương thất.[406][407][408] Andrew Marr cho rằng qua cái chết của mình, bà đã "khơi dậy văn hóa biểu lộ cảm xúc của công chúng".[409] Con trai bà, Vương tử William, từng khẳng định rằng sự tiếc thương vô hạn của công chúng sau cái chết của mẹ đã "thay đổi tâm thức người Anh theo hướng tích cực hơn". Trong khi đó, Alastair Campbell nhận định rằng cái chết của Diana đã góp phần làm mờ đi "lối sống kìm nén cảm xúc lạnh lùng đặc trưng" của người Anh.[410] Năm 1981 và 1997, Diana từng lọt vào danh sách đề cử hàng đầu cho danh hiệu Nhân vật của Năm do tạp chí Time bình chọn.[411][412] Đến năm 2020, tạp chí này đã đưa tên bà vào danh sách 100 Phụ nữ của Năm. Bà được vinh danh là Người phụ nữ của Năm 1987 nhờ những nỗ lực không mệt mỏi trong việc xóa bỏ sự kỳ thị đối với bệnh nhân HIV/AIDS.[413] Năm 2002, trong cuộc bình chọn "100 Người Anh Vĩ đại nhất" của đài BBC, Diana xếp thứ ba, đứng trên cả Nữ vương Elizabeth II và các vị quân chủ khác của nước Anh.[414]

Dù được tôn vinh là một biểu tượng và là thành viên được yêu mến bậc nhất của gia đình Vương thất, Diana vẫn vấp phải không ít chỉ trích lúc sinh thời.[415] Giáo sư triết học Anthony O'Hear từng lên tiếng phê bình bà trong các ghi chép của mình. Ông lập luận rằng bà không hoàn thành bổn phận, cho rằng những hành vi thiếu cẩn trọng của bà đang gây tổn hại đến nền quân chủ, và gọi những nỗ lực từ thiện của bà là sự "thỏa mãn cái tôi cá nhân".[416] Ngay sau đó, các tổ chức từ thiện do Diana bảo trợ đã lên tiếng bảo vệ bà, còn ông Peter Luff thì gọi những nhận xét của O'Hear là "phản cảm và không phù hợp".[416]Tuy nhiên, những lời phê bình vẫn tiếp tục xuất hiện khi bà bị cáo buộc lợi dụng hình ảnh công chúng để tư lợi,[417] từ đó "làm hạ thấp vị thế Vương thất" của mình.[415] Phong cách làm từ thiện độc đáo của Diana – đôi khi bao gồm cả việc tiếp xúc cơ thể trực tiếp với những người mắc bệnh hiểm nghèo – thỉnh thoảng lại vấp phải những phản ứng tiêu cực từ truyền thông.[415]

Mối quan hệ giữa Diana với báo chí và cánh săn ảnh thường được mô tả là đầy "mâu thuẫn". Có những lúc bà than phiền về cách đối xử của truyền thông, cho rằng sự hiện diện thường trực của họ khiến cuộc sống của bà trở nên ngột ngạt; nhưng cũng có những khi chính bà lại chủ động tìm kiếm sự chú ý và tuồn tin tức cho các phóng viên.[418][419] Viết trên tờ The Guardian, Peter Conrad cho rằng chính Diana đã mở cửa cho các nhà báo và cánh săn ảnh bước vào cuộc đời mình vì bà hiểu rõ họ chính là nguồn cội quyền lực của bà.[420] Quan điểm này được Christopher Hitchens đồng tình; ông tin rằng "trong nỗ lực tìm kiếm lối thoát cho cuộc sống riêng tư bất hạnh, bà đã trở thành một người tuồn tin vô cùng mẫn cán cho báo chí".[421] Cựu biên tập viên Hoàng gia của tờ News of the World, Clive Goodman – kẻ sau này từng nhiều lần nghe lén điện thoại của các con trai Diana – đã khai trước tòa vào năm 2014 rằng: năm 1992, chính Diana đã gửi một cuốn danh bạ mật chứa số điện thoại của các thành viên cấp cao trong Vương thất tới văn phòng báo chí nhằm mục đích trả đũa Thái tử Charles.[422]

Sally Bedell Smith đã khắc họa Diana là một người thất thường, ái kỷ và có tính chiếm hữu cao.[417] Smith lập luận rằng ngay cả trong khát khao làm từ thiện, Diana thực chất được "thúc đẩy bởi những toan tính cá nhân hơn là một tham vọng thực sự muốn gánh vác các vấn nạn của xã hội".[417] Tuy nhiên, Eugene Robinson lại phản bác và khẳng định rằng "[Diana] thực sự nghiêm túc với những sứ mệnh mà bà theo đuổi".[380] Theo Sarah Bradford, Diana tỏ ra coi thường Gia tộc Windsor; bà được cho là xem họ như "những gã hoàng tử ngoại lai học làm sang" và còn gọi họ là "lũ người Đức".[420] Trong khi đó, cựu Thủ tướng Tony Blair nhận xét Diana là một người có khả năng thao túng tâm lý và đồng thời cũng "cuốn hút đến kỳ lạ".[423][424][425]

Trong một bài viết trên tờ The Independent năm 1998, nhà báo Yvonne Roberts đã quan sát thấy sự "đảo chiều" đột ngột trong dư luận về Diana ngay sau khi bà qua đời: từ thái độ chỉ trích gay gắt chuyển sang ca ngợi hết lời.[426] Quan điểm này được Theodore Dalrymple đồng tình khi ông cũng nhận thấy "sự chuyển biến bất ngờ" đó. Roberts cũng nói thêm rằng Diana chẳng phải "thánh nhân" hay "nhà cách mạng", nhưng bà "có lẽ đã khích lệ được một số người" chung tay giải quyết các vấn nạn như bom mìn, AIDS và bệnh phong.[427] Khi phân tích tác động từ cái chết và sự nổi tiếng của Diana dưới góc độ giới, sử gia người Anh Ludmilla Jordanova nhận định: "Không một con người bằng xương bằng thịt nào có thể sống sót trước những áp lực phức tạp đè nặng lên những người phụ nữ có sức hút đặc biệt." Jordanova cũng chiêm nghiệm rằng: "Tốt hơn là hãy tưởng nhớ bà bằng cách thử giải mã xem tại sao cảm xúc lại có thể lấn át lý trí, và tại sao phụ nữ lại được xem là những người gìn giữ những rung cảm nhân đạo".[428] Tác giả Anne Applebaum tin rằng Diana không còn để lại tác động nào lên dư luận hậu thế[429]; một ý kiến được Jonathan Freedland của tờ The Guardian ủng hộ khi ông cho rằng ký ức và tầm ảnh hưởng của Diana đã bắt đầu phai nhạt dần theo năm tháng.[430] Trái lại, Peter Conrad – một cây bút khác của Guardian – lập luận rằng ngay cả "một thập kỷ sau khi mất, bà vẫn chưa hề im tiếng".[431] Còn Allan Massie của tờ The Telegraph thì tin rằng những tình cảm của Diana "vẫn đang tiếp tục định hình xã hội của chúng ta".[432] Viết trên tờ The Guardian, Monica Ali đã đúc kết về Diana: "Đầy mê hoặc nhưng cũng đầy khiếm khuyết. Di sản của bà có thể đa chiều, nhưng không hề nhỏ bé. Cuộc đời bà tuy ngắn ngủi, nhưng đã để lại một dấu ấn đậm sâu".[429]

Thời trang và phong cách

[sửa | sửa mã nguồn]
Váy Travolta, một trong những bộ trang phục yêu thích của Diana

Diana là một biểu tượng thời trang mà phong cách của bà đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho phụ nữ trên toàn thế giới. Năm 2012, tạp chí Time đã vinh danh bà trong danh sách "100 Biểu tượng Thời trang Mọi thời đại".[433] Iain Hollingshead của tờ The Telegraph từng nhận định: "[Diana] có khả năng bán sạch quần áo chỉ bằng một ánh nhìn".[434][435] Một minh chứng điển hình ngay từ những ngày đầu là vào năm 1980, khi bà đang hẹn hò với Charles: doanh số của đôi ủng Hunter Wellington đã bùng nổ ngay sau khi bức ảnh bà diện chúng tại điền trang Balmoral xuất hiện.[436][437] Theo các nhà thiết kế và cộng sự thân cận, Diana đã biến thời trang và phong cách thành công cụ đắc lực để hỗ trợ các hoạt động từ thiện, đồng thời là phương tiện để thể hiện bản thân và giao tiếp với công chúng.[438][439][440] Cho đến nay, bà vẫn là một tượng đài về phong cách, tiếp tục tạo nên những ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa và các xu hướng thời trang đương đại.[441][442][369][443]

Thời trang của Diana là sự giao thoa tinh tế giữa những chuẩn mực Vương thất cổ điển và các xu hướng đương đại tại Anh.[444][445] Trong các chuyến công du ngoại giao, trang phục của bà luôn được lựa chọn kỹ lưỡng để phù hợp với văn hóa nước sở tại; còn trong những khoảnh khắc đời thường, bà thường diện áo khoác rộng và áo len chui đầu thoải mái.[442][446] Anna Harvey, cựu biên tập viên Vogue Anh và cũng là cố vấn thời trang của Diana, nhận xét: "Bà luôn rất đắn đo về việc bộ trang phục của mình sẽ được công chúng đón nhận ra sao; đó là điều thực sự quan trọng đối với bà".[442][447] Ban đầu, gu thẩm mỹ của bà mang đậm nét đoan trang và lãng mạn, đặc trưng bởi những tông màu pastel dịu nhẹ và những bộ đầm dạ hội bồng bềnh.[445][448][449] Những yếu tố trong phong cách của bà nhanh chóng trở thành trào lưu.[442] Bà cũng phá vỡ nhiều quy tắc truyền thống, chẳng hạn như bỏ qua việc đeo găng tay khi làm nhiệm vụ, nhằm xây dựng một hình ảnh giúp bà dễ dàng kết nối, gần gũi hơn với công chúng.[440][446] Theo Donatella Versace,sự quan tâm và trí tò mò của Vương phi đối với thời trang đã trỗi dậy mạnh mẽ sau khi ly thân.[438] Phong cách của bà sau đó trở nên táo bạo và mang phong thái nữ doanh nhân hơn, với những bộ vest váy (skirt suits) có cấu trúc chuẩn mực, những chiếc đầm dạ hội phom dáng tinh xảo như tác phẩm điêu khắc, và các tông màu trung tính được thiết kế khéo léo để hướng sự chú ý vào các hoạt động từ thiện của bà.[441][450]

Catherine Walker nằm trong số những nhà thiết kế yêu thích nhất của Diana, người đã cùng bà kiến tạo nên "bộ đồng phục vương thất" (royal uniform) trứ danh.[445][451] Từ năm 1981 đến 1997, David Sassoon đã thiết kế khoảng 70 bộ trang phục cho bà, trong đó nhiều bộ mang đậm dấu ấn di sản Do Thái của ông.[452][453] Ngoài ra, danh sách các thương hiệu mà bà ưa chuộng còn có Versace, Armani, Chanel, Dior, GucciClarks.[442][443][454] Những bộ trang phục nổi tiếng gắn liền với tên tuổi Diana bao gồm chiếc áo len "Cừu đen" (Black Sheep Sweater),[455][456] chiếc "váy báo thù" (Revenge dress) mà bà diện ngay sau khi Charles thừa nhận ngoại tình,[457] và chiếc "váy Travolta".[442][451][445] Hàng triệu bản sao của chiếc áo blouse vải chiffon màu hồng do David và Elizabeth Emanuel thiết kế – từng xuất hiện trên tạp chí Vogue Anh vào ngày công bố lễ đính hôn của bà – đã được bán sạch.[445] Sinh thời, Diana từng ba lần xuất hiện trên trang bìa Vogue Anh và một lần nữa được vinh danh trên số tháng 10 năm 1997 sau khi qua đời.[458] Trong các sự kiện, Diana thường tự tay trang điểm nhưng luôn có một chuyên gia làm tóc tháp tùng bà mỗi khi xuất hiện trước công chúng.[438] Vào những năm 1990, bà thường lọt vào ống kính khi đang cầm trên tay những chiếc túi xách đặc trưng của GucciDior; những mẫu túi này về sau được đặt tên là Gucci DianaLady Dior để tri ân bà.[459][460]

Sau khi triển lãm trưng bày y phục của Diana khai mạc tại Cung điện Kensington vào năm 2017, Catherine Bennett của tờ The Guardian nhận định rằng những triển lãm như vậy là phương thức phù hợp để tôn vinh các nhân vật công chúng – những người mà phong cách thời trang được ghi nhận song hành cùng những thành tựu của họ. Triển lãm này cũng là lời đáp trả dành cho những kẻ gièm pha – những người cho rằng cũng giống như bao nàng công chúa khác, "công việc cả đời của bà chỉ đơn giản là trông thật xinh đẹp trong những bộ cánh khác nhau".[461] Donatella Versace cũng nhấn mạnh: "Tôi không nghĩ rằng có bất kỳ ai, dù là trước hay sau bà, đã làm được cho ngành thời trang như những điều như Diana đã làm".[438] John Boyd, một trong những nhà thiết kế mũ yêu thích của Diana, chia sẻ: "Diana là đại sứ tuyệt vời nhất của chúng tôi, và toàn bộ ngành công nghiệp làm mũ nợ bà một ân tình." Chiếc mũ tricorn (mũ ba sừng) màu hồng do Boyd thiết kế được Diana đội trong kỳ trăng mật sau đó đã được các thợ làm mũ trên khắp thế giới sao chép lại; nó được ghi nhận là cú hích giúp hồi sinh một ngành công nghiệp vốn đang trên đà thoái trào suốt nhiều thập kỷ.[462][463]

Các công trình tưởng niệm

[sửa | sửa mã nguồn]
Đài tưởng niệm Diana và Fayed tại cửa hàng bách hóa Harrods.
Hình ảnh tưởng nhớ Diana trên tem bưu chính Azerbaijan năm 1998.
Những lời tưởng niệm được đặt bên ngoài Cung điện Kensington nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 60 của Diana.

Nhiều công trình tưởng niệm vĩnh cửu đã được xây dựng để vinh danh Diana. Tại London, có thể kể đến Đài phun nước Tưởng niệm Diana, Vương phi xứ Wales ở Công viên Hyde[464]; Sân chơi Tưởng niệm Diana, Vương phi xứ Wales trong Vườn Kensington; và Lối đi bộ Tưởng niệm Diana, Vương phi xứ Wales – một cung đường vòng cung kết nối Vườn Kensington, Công viên Green, Công viên Hyde và Công viên St. James.[465] Bên cạnh đó còn có "Giải thưởng Tưởng niệm Diana" (The Diana Memorial Award), được thành lập năm 1999 và tái khởi động vào năm 2007 bởi Gordon Brown[466]; Bức tượng Diana, Vương phi xứ Wales đặt tại Vườn Trũng (Sunken Garden) của Cung điện Kensington[467]; và Đài tưởng niệm Công nương Diana trong khuôn viên lâu đài Schloss CobenzlVienna – công trình tưởng niệm đầu tiên dành cho bà tại một quốc gia nói tiếng Đức.[468] Tại Paris, Ngọn lửa Tự do (The Flame of Liberty) được dựng lên từ năm 1989 tại Quảng trường Alma, ngay phía trên lối vào đường hầm nơi xảy ra vụ tai nạn thảm khốc sau này.[469][470] Dù không chủ đích ban đầu, nó đã trở thành một đài tưởng niệm không chính thức của Diana.[470] Đến năm 2019, Quảng trường Alma đã chính thức được đổi tên thành Quảng trường Diana, Vương phi xứ Wales (Place Diana princesse de Galles). Sau khi bà qua đời, nhiều quốc gia như Armenia, Azerbaijan, SomaliaCongo đã phát hành tem bưu chính để tưởng nhớ bà.[471][472][473] Năm 2002, Bá tước Spencer cũng đã khánh thành một tấm biển đồng tại Tòa thị chính Northampton để tưởng niệm người chị gái của mình.[474]

Tại trung tâm thương mại Harrods, cha của Dodi Fayed (người sở hữu nơi này từ năm 1985 đến 2010) đã cho dựng hai đài tưởng niệm. Đài tưởng niệm thứ nhất là một tủ trưng bày hình kim tự tháp, bên trong lưu giữ những bức ảnh của Diana và con trai ông, một chiếc ly rượu được cho là từ bữa tối cuối cùng của họ, và chiếc nhẫn mà Dodi đã mua chỉ một ngày trước khi tai nạn xảy ra. Đài tưởng niệm thứ hai mang tên Innocent Victims (Nạn nhân Vô tội), được khánh thành năm 2005, là bức tượng đồng khắc họa hình ảnh Fayed đang khiêu vũ cùng Diana trên bãi biển dưới đôi cánh của một con chim hải âu.[475] Tháng 1 năm 2018, có thông báo rằng bức tượng này sẽ được trao trả lại cho gia đình Al-Fayed.[476]

Di sản của bà còn sống mãi qua những cái tên. Các cháu nội của bà là Charlotte Elizabeth Diana (sinh năm 2015)[477][478]Lilibet Diana (sinh năm 2021),[479] cũng như cô cháu gái Charlotte Diana Spencer (sinh năm 2012), tất cả đều được đặt tên theo bà để tri ân và tưởng nhớ.[480]

Trong văn hóa đại chúng và nghệ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]
Tượng sáp Diana tại Bảo tàng Madame Tussauds

Cả trước và sau khi qua đời, Diana luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho điện ảnh, truyền hình cũng như nghệ thuật đương đại. Những bộ phim tiểu sử đầu tiên về bà và Charles bao gồm Charles & Diana: A Royal Love StoryThe Royal Romance of Charles and Diana, lần lượt được phát sóng trên các kênh truyền hình Mỹ vào ngày 17 và 20 tháng 9 năm 1981.[481] Tháng 12 năm 1992, đài ABC đã công chiếu bộ phim truyền hình Charles and Diana: Unhappily Ever After (tạm dịch: Charles và Diana: Mãi mãi không hạnh phúc), khai thác sâu vào những rạn nứt trong cuộc hôn nhân của hai người.[482]

Hàng loạt nữ diễn viên tên tuổi đã từng hóa thân thành Diana trên màn ảnh, bao gồm: Serena Scott Thomas (trong Diana: Her True Story, 1993), Julie Cox (trong Princess in Love, 1996),[483] Amy Seccombe (trong Diana: A Tribute to the People's Princess, 1998),[484] Michelle Duncan (trong Whatever Love Means, 2005), Genevieve O'Reilly (trong Diana: Last Days of a Princess, 2007), Nathalie Brocker (trong The Murder of Princess Diana, 2007),[485][486] Naomi Watts (trong Diana, 2013),[487] Jeanna de Waal (trong vở nhạc kịch Diana: The Musical, 2019–2021),[488] Emma Corrin (2020)[489]Elizabeth Debicki[490] (trong loạt phim The Crown, 2022–2023), và Kristen Stewart (trong Spencer, 2021).[491]

Năm 2017, hai Vương tử William và Harry đã chủ trì thực hiện hai bộ phim tài liệu để kỷ niệm 20 năm ngày mất của mẹ.[492][493] Bộ phim đầu tiên, Diana, Our Mother: Her Life and Legacy (tạm dịch: Diana, Mẹ của chúng tôi: Cuộc đời và Di sản), được phát sóng trên ITVHBO vào ngày 24 tháng 7 năm 2017, tập trung khắc họa di sản và những nỗ lực nhân đạo của bà trong các lĩnh vực như AIDS, bom mìn, người vô gia cư và ung thư. Bộ phim thứ hai, Diana, 7 Days (tạm dịch: Diana, 7 Ngày), lên sóng BBC vào ngày 27 tháng 8, tập trung vào cái chết của Diana và làn sóng tiếc thương vô hạn của công chúng ngay sau đó.[494]

Trong lĩnh vực âm nhạc, vào tháng 1 năm 2023, nữ rapper Ice Spice – người được truyền thông nhận xét là có ngoại hình rất giống Diana – đã phát hành một ca khúc mang tên bà trong EP đầu tay "Like..?".[495] Ca khúc này sau đó có thêm bản remix kết hợp cùng rapper Nicki Minaj và đã xuất sắc vươn lên vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.[496]

Ngoài ra, tượng sáp của Diana hiện cũng được trưng bày trang trọng tại bảo tàng Madame TussaudsLondon và bảo tàng Musée GrévinParis.[497]

Tước hiệu, kính ngữ, vinh danh và huy hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Tước hiệu và kính ngữ

[sửa | sửa mã nguồn]
Chữ lồng Hoàng gia

Diana chào đời với kính ngữ "The Honourable Diana Frances Spencer" (Tiểu thư Danh dự Diana Frances Spencer). Khi cha bà thừa kế tước hiệu Bá tước xứ Spencer vào năm 1975, bà được mang kính ngữ "Lady Diana Spencer" (Tiểu thư Diana Spencer).[498] Trong thời gian hôn nhân, Diana được gọi là "Her Royal Highness The Princess of Wales" (Vương phi xứ Wales Điện hạ). Ngoài ra, bà còn mang các tước hiệu Công tước phu nhân xứ Rothesay,[499] Công tước phu nhân xứ Cornwall,[499] Bá tước phu nhân xứ Chester[500][501]Nam tước phu nhân xứ Renfrew.[499]

Sau khi ly hôn vào năm 1996 và cho đến khi qua đời, bà được gọi là "Diana, Princess of Wales" (Diana, Vương phi xứ Wales), mà không còn kính ngữ "Her Royal Highness" (Điện hạ).[498] Mặc dù công chúng thường gọi bà là "Princess Diana" (Công nương Diana), nhưng cách gọi này về mặt tước hiệu là không chính xác và bà chưa bao giờ chính thức nắm giữ tước hiệu đó.[a] Bà đôi khi vẫn được truyền thông nhắc đến là "Lady Diana Spencer" (Tiểu thư Diana Spencer) hoặc gọi thân mật là "Lady Di". Trong một bài phát biểu sau khi bà qua đời, Thủ tướng Tony Blair đã gọi Diana là "the people's princess" (Công nương của nhân dân).[503][504] Các cuộc thảo luận cũng đã được tổ chức với gia đình Spencer và Vương thất Anh về việc liệu có cần khôi phục kính ngữ Điện hạ (HRH) cho Diana sau khi bà qua đời hay không, nhưng gia đình Diana quyết định rằng điều đó trái với mong muốn của bà, và do đó, không có lời đề nghị chính thức nào được đưa ra.[505]

Huân chương
Vinh danh nước ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]
Bổ nhiệm danh dự
Thành viên học thuật
Quyền Tự do Thành phố

Bổ nhiệm quân sự danh dự

[sửa | sửa mã nguồn]

Với tư cách là Vương phi xứ Wales, Diana đã nắm giữ các chức vụ quân sự sau:

Úc
Canada
Anh Quốc

Bà đã từ bỏ các chức vụ này sau khi ly hôn.[141][99]

Huy hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "The Life of Diana, Princess of Wales 1961–1997".
  2. ^ "Diana, Princess of Wales - Marriage and family". royal.gov.uk. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012.
  3. ^ a b c d e f g "Princess Diana Biography". The Biography Channel. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2016.
  4. ^ Morton, p. 99
  5. ^ a b c "Diana: Her True Story – In Her Own Words".
  6. ^ a b c "The Diana Chronicles".
  7. ^ Morton, p. 98
  8. ^ a b "Princess Diana: The Early Years". British Royals. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2011.
  9. ^ "Raine Spencer: Friend not foe". The Independent. London. ngày 15 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2011.
  10. ^ "Princess Diana: The Earl's daughter, born to life of privilege". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2013.
  11. ^ "The Life of Diana, Princess of Wales 1961-1997". BBC News.
  12. ^ ""Diana, Princess of Wales"". The British Monarchy. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  13. ^ Brown, Tina. "The Diana Chronicles".
  14. ^ a b Bradford, Sarah (2006). Diana. New York; Toronto; London: Viking. ISBN 978-0-670-03807-7.
  15. ^ ""Descendant of 4 Kings Charms Her Prince"".
  16. ^ "Diana".
  17. ^ ""Royal weekend fuels rumours"".
  18. ^ "The Prince of Wales: A Biography".
  19. ^ Morton, Andrew (1997) [1992]. Diana: Her True Story – In Her Own Words. New York: Simon & Schuster. ISBN 0-684-85080-X.
  20. ^ Brown (2007), S. 147
  21. ^ "Tina Brown".
  22. ^ Brown (2007), S. 178/179
  23. ^ Brown (2007), S. 163
  24. ^ Brown (2007), S. 166
  25. ^ Brown (2007), S. 167
  26. ^ a b c d ""International Special Report: Princess Diana, 1961–1997"". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2000.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  27. ^ ""Princess Diana's engagement ring"". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2011.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  28. ^ ""Queen Mother on 'abhorrent' Diana, Princess of Wales"".
  29. ^ a b c ""It was love at first sight between British people and Lady Diana"".
  30. ^ "Diana, Princess of Wales". The British Monarchy. The Royal Household.
  31. ^ "How We Got bare: The '70s".
  32. ^ "Representing Diana, Princess of Wales: cultural memory and fairy tales revisited".
  33. ^ Field, Leslie (2002). The Queen's Jewels: The Personal Collection of Elizabeth II.
  34. ^ ""Duchess of Cambridge wears Princess Diana's favourite tiara to diplomatic reception at Buckingham Palace"".
  35. ^ ""Duchess Kate 'to receive special honour from the Queen' to celebrate Her Majesty's record reign"".
  36. ^ Brown, Tina (2007). The Diana Chronicles. London; New York: Doubleday. ISBN 978-0-385-51708-9. p.195
  37. ^ "Obituary: Sir George Pinker". Daily Telegraph. London. ngày 1 tháng 5 năm 2007. Archived from the original on ngày 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2012.
  38. ^ ""US TV airs Princess Diana tapes"". BBC. ngày 5 tháng 3 năm 2004. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  39. ^ ""Timeline: Diana, Princess of Wales"". BBC. ngày 5 tháng 7 năm 2004. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  40. ^ ""1982: Princess Diana gives birth to boy"". BBC. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  41. ^ Morton, Andrew (1997) [1992]. Diana: Her True Story – In Her Own Words. New York: Simon & Schuster. ISBN 0-684-85080-X. p.142-143
  42. ^ Morton, Andrew (1997) [1992]. Diana: Her True Story – In Her Own Words. New York: Simon & Schuster. ISBN 0-684-85080-X. p.147
  43. ^ a b ""Hewitt denies Prince Harry link"". BBC News. ngày 21 tháng 9 năm 2002. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2016.
  44. ^ ""Prince William Biography"". Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2008.
  45. ^ ""Prince Harry"". People. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2008.
  46. ^ Morton, Andrew (1997) [1992]. Diana: Her True Story – In Her Own Words. New York: Simon & Schuster. ISBN 0-684-85080-X. p.184
  47. ^ Brown, Tina (2007). The Diana Chronicles. London; New York: Doubleday. ISBN 978-0-385-51708-9. p.174
  48. ^ Holder, Margaret (ngày 24 tháng 8 năm 2011). "Who Does Prince Harry Look Like? James Hewitt Myth Debunked". The Morton Report. Archived from the original on ngày 29 tháng 5 năm 2012.
  49. ^ ""Diana tells of Camilla encounter"". BBC. ngày 12 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2018.
  50. ^ ""Diana tapes reveal Camilla confrontation"". The Telegraph. ngày 12 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2018.
  51. ^ ""Interview: Andrew Morton: He couldn't shout: 'Diana was in on this.' 'She trusted me. It would have been a betrayal'"". The Independent. ngày 1 tháng 12 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017.
  52. ^ ""Princess Di breaks down after making appearance"". Eugene Register Guard. ngày 12 tháng 6 năm 1992. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013.
  53. ^ Sabur, Rozina (ngày 10 tháng 6 năm 2017). "Princess Diana secretly recorded herself describing despair at the state of her marriage to Prince Charles, biographer reveals". The Telegraph. Archived from the original on ngày 16 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2018
  54. ^ Brandreth, Gyles (2004). Philip and Elizabeth: Portrait of a Marriage. London: Century. ISBN 0-7126-6103-4. pp.348-349
  55. ^ Brandreth, Gyles (2004). Philip and Elizabeth: Portrait of a Marriage. London: Century. ISBN 0-7126-6103-4. pp.349-351
  56. ^ Brandreth, Gyles (2004). Philip and Elizabeth: Portrait of a Marriage. London: Century. ISBN 0-7126-6103-4.p.351
  57. ^ Brandreth, Gyles (2004). Philip and Elizabeth: Portrait of a Marriage. London: Century. ISBN 0-7126-6103-4. pp.351-353
  58. ^ Rayner, Gordon (ngày 16 tháng 1 năm 2008). "Diana 'planned secret wedding to Hasnat Khan'". Telegraph. London. Archived from the original on ngày 19 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2008.
  59. ^ Allen, Nick (ngày 11 tháng 1 năm 2008). "Prince Philip sent 'nasty, cruel' letters to Diana". The Telegraph. Archived from the original on ngày 24 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  60. ^ Alderson, Andrew (ngày 14 tháng 10 năm 2007). "Diana and Prince Philip: the truth". The Telegraph. Archived from the original on ngày 4 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  61. ^ ""Diana tapes filmed by voice coach to air on Channel 4 documentary"". The Guardian. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017.
  62. ^ a b ""Diana 'wanted to live with guard'"". BBC News. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2017.
  63. ^ a b Langley, By William (ngày 12 tháng 12 năm 2004). "The Mannakee file". The Daily Telegraph. Archived from the original on ngày 31 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2017.
  64. ^ ""Diana: In Her Own Words – admirers have nothing to fear from the Channel 4 tapes"". Truy cập 22 tháng 10 năm 2017.. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày truy cập= (trợ giúp)
  65. ^ ""Conspiracy theorists feast on inquiry into death of Diana's minder"". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2017.
  66. ^ a b ""New Book Casts Shadow Over Diana"". CBS News. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2018. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  67. ^ Curry, Ann (ngày 6 tháng 12 năm 2004). ""Princess Diana tapes: Part 2"". NBC News. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2018. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  68. ^ ""Diana tapes captivate America"". Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2018.
  69. ^ ""Princess Margaret destroyed letters from Diana to Queen Mother"". The Daily Telegraph. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  70. ^ Rosalind Ryan (ngày 7 tháng 1 năm 2008). ""Diana affair over before crash, inquest told"". The Guardian. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  71. ^ ""Princess Diana letter: 'Charles plans to kill me'". The Daily Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2017.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  72. ^ ""Tiggy Legge-Bourke"". The Guardian. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  73. ^ ""The Princess and the Press"". PBS. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  74. ^ ""Timeline: Charles and Camilla's romance"". BBC. ngày 6 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  75. ^ Dimbleby, Jonathan (1994). The Prince of Wales: A Biography. New York: William Morrow and Company. ISBN 0-688-12996-X. p.395
  76. ^ Moseley, Ray (ngày 24 tháng 8 năm 1994). ""British Press Advising Princess Di To Get A Life"". Chicago Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  77. ^ Green, Michelle (ngày 5 tháng 9 năm 1994). ""A Princess in Peril"". People. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  78. ^ ""Oliver Hoare obituary"". The Times. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2018. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  79. ^ ""Sweep It Under the Rugger"". People. ngày 25 tháng 3 năm 1996. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018.
  80. ^ Leung, Rebecca (ngày 20 tháng 4 năm 2004). ""Diana's Secret Love"". Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  81. ^ Fromson, Brett (ngày 4 tháng 6 năm 1995). ""Dealmaker of the Decade"". The Washington Post. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2018.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  82. ^ Childs, Martin (ngày 26 tháng 11 năm 2011). ""Teddy Forstmann: Pioneer of the leveraged buy-out"". The Independent. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2018.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  83. ^ Ellam, Dennis (ngày 26 tháng 9 năm 2014). ""WILL CARLING: MY LIFE AS THE CAD: I used to be so arrogant. I thought"". Sunday Mirror. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  84. ^ Brewerton, David (ngày 22 tháng 11 năm 2011). ""Teddy Forstmann obituary"". Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2018. {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  85. ^ "The Panorama Interview with the Princess of Wales". BBC News. ngày 20 tháng 11 năm 1995. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010.
  86. ^ "1995: Diana admits adultery in TV interview". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2018.
  87. ^ "The Panorama Interview with the Princess of Wales". BBC News. ngày 20 tháng 11 năm 1995. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010.
  88. ^ "The Panorama Interview with the Princess of Wales". BBC News. ngày 20 tháng 11 năm 1995. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010.
  89. ^ "1995: Diana admits adultery in TV interview". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2018.
  90. ^ Kermode, Frank (ngày 22 tháng 8 năm 1999). "Shrinking the Princess". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  91. ^ "1995: Diana admits adultery in TV interview". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2018.
  92. ^ "1995: Diana admits adultery in TV interview". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2018.
  93. ^ Romo, Vanessa (ngày 20 tháng 5 năm 2021). "Princes William And Harry Say BBC Interview Led To Princess Diana's Divorce And Death". NPR. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2023.
  94. ^ Montalbano, D. (ngày 21 tháng 12 năm 1995). "Queen Orders Charles, Diana to Divorce". Los Angeles Times. London. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013.
  95. ^ "Charles and Diana to divorce". Associated Press. ngày 21 tháng 12 năm 1995. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013.
  96. ^ "1995: Diana admits adultery in TV interview". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2018.
  97. ^ Montalbano, D. (ngày 21 tháng 12 năm 1995). "Queen Orders Charles, Diana to Divorce". Los Angeles Times. London. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013.
  98. ^ "1995: Diana admits adultery in TV interview". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2018.
  99. ^ a b Lyall, Sarah (ngày 13 tháng 7 năm 1996). "Charles and Diana Agree on Divorce Terms". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2016.
  100. ^ "Timeline: Diana, Princess of Wales". BBC News. ngày 5 tháng 7 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.
  101. ^ "1995: Diana admits adultery in TV interview". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2018.
  102. ^ "1995: Diana admits adultery in TV interview". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2018.
  103. ^ Bradford 2006, tr. 306.
  104. ^ Lyall, Sarah (ngày 13 tháng 7 năm 1996). "Charles and Diana Agree on Divorce Terms". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2016.
  105. ^ "Divorce: Status And Role of The Princess of Wales" (Thông cáo báo chí). Buckingham Palace. ngày 12 tháng 7 năm 1996. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016 – qua PR Newswire.
  106. ^ Lyall, Sarah (ngày 13 tháng 7 năm 1996). "Charles and Diana Agree on Divorce Terms". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2016.
  107. ^ "1995: Diana admits adultery in TV interview". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2018.
  108. ^ Brown 2007, tr. 392.
  109. ^ Lyall, Sarah (ngày 13 tháng 7 năm 1996). "Charles and Diana Agree on Divorce Terms". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2016.
  110. ^ "Royal Split". The Deseret News. London. AP. ngày 28 tháng 2 năm 1996. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013.
  111. ^ a b "'Deprived Diana of a Home': Princess Diana's brother Charles Spencer's legal victory". The New Zealand Herald. ngày 29 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2023.
  112. ^ "'Deprived Diana of a Home': Princess Diana's brother Charles Spencer's legal victory". The New Zealand Herald. ngày 29 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2023.
  113. ^ "'Took him to the cleaners': Prince Charles' strict demand in Princess Diana divorce". The New Zealand Herald. ngày 15 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2021.
  114. ^ Lyall, Sarah (ngày 13 tháng 7 năm 1996). "Charles and Diana Agree on Divorce Terms". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2016.
  115. ^ Radnofsky, Louise (ngày 17 tháng 1 năm 2008). "We could have saved Diana, former Met chief tells inquest". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2021.
  116. ^ Erlandson, Robert A. (ngày 3 tháng 9 năm 1997). "Princess' death was avoidable, expert says Diana should have let Scotland Yard guard her, security consultant says". The Baltimore Sun. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2021.
  117. ^ "Diana Was Set to Become Blair's Ambassador for Britain". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2020.
  118. ^ Hallemann, Caroline (ngày 22 tháng 1 năm 2018). "Here's what Gianni Versace's funeral was really like". Town & Country. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2020.
  119. ^ Hills, Megan C. (ngày 15 tháng 7 năm 2020). "Princess Diana's celebrity friendship circle, from Sir Elton John to Grace Kelly". The Standard. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2023.
  120. ^ "'Took him to the cleaners': Prince Charles' strict demand in Princess Diana divorce". The New Zealand Herald. ngày 15 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2021.
  121. ^ Erlandson, Robert A. (ngày 3 tháng 9 năm 1997). "Princess' death was avoidable, expert says Diana should have let Scotland Yard guard her, security consultant says". The Baltimore Sun. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2021.
  122. ^ Khoshaba, Christy (ngày 31 tháng 7 năm 2013). "Princess Diana: Mag details 'secret romance' with Pakistani doctor". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2013.
  123. ^ "Princess Diana's ex-lover Hasnat Khan to give evidence". Herald Sun. Victoria, Australia. ngày 9 tháng 1 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2008.
  124. ^ "Imran and Jemima Khan Welcomed Princess Diana In Pakistan". Huffington Post. ngày 25 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013.
  125. ^ "Princess Diana was 'madly in love' with heart surgeon Hasnat Khan". The Telegraph. ngày 31 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015.
  126. ^ "Princess Diana was 'madly in love' with heart surgeon Hasnat Khan". The Telegraph. ngày 31 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015.
  127. ^ Rayner, Gordon (ngày 16 tháng 1 năm 2008). "Diana 'planned secret wedding to Hasnat Khan'". Telegraph. London. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2008.
  128. ^ Farouky, Jumana (ngày 14 tháng 1 năm 2008). "Diana's Butler Tells Some Secrets". Time. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2017.
  129. ^ Milmo, Cahal (ngày 25 tháng 10 năm 2002). "Diana did not talk to me in final months, admits her mother". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2016.
  130. ^ "'Took him to the cleaners': Prince Charles' strict demand in Princess Diana divorce". The New Zealand Herald. ngày 15 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2021.
  131. ^ Davies, Caroline (ngày 21 tháng 10 năm 2016). "Countess Raine Spencer, stepmother of Princess Diana, dies aged 87". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2018.
  132. ^ Jones, Tony (ngày 21 tháng 10 năm 2016). "Raine Spencer dead: Princess Diana's step-mother dies age 87". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2018.
  133. ^ a b c "The Life of Diana, Princess of Wales 1961–1997: Separation And Divorce". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2015. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “BBC-Bio-Div” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  134. ^ "Dodi 'ignored' protect Diana advice". Metro (UK). ngày 18 tháng 12 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2014.
  135. ^ Dominick Dunne (ngày 19 tháng 5 năm 2010). "Two Ladies, Two Yachts, and a Billionaire". Vanity Fair. New York. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2013.
  136. ^ Majendie, Paul (ngày 20 tháng 12 năm 2007). "Princess Diana planned move abroad, court told". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2022.
  137. ^ "Butler: Diana Planned Move to Malibu". ABC News. ngày 29 tháng 10 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2022.
  138. ^ Macke, Johnni (ngày 15 tháng 6 năm 2021). "Princess Diana Would Be in 'Complete Favor' of Prince Harry's Move to California: She Wanted Her Sons to Have 'Freedom,' Says Pal". US magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2025.
  139. ^ "Royal engagement photos through the years as Harry and Meghan's glamorous pictures prove they are Hollywood through and through". The Telegraph. ngày 21 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2018.
  140. ^ Weaver, Hilary (ngày 15 tháng 6 năm 2017). "Princess Diana Detailed Her Memorable Meetings with Grace Kelly and Elizabeth Taylor". Vanity Fair. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2017.
  141. ^ a b c d e f g "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  142. ^ "The newlyweds tour of Wales and the moment the nation fell in love with Diana". ITV News. ngày 29 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2018.
  143. ^ "Statement regarding the State Opening of Parliament in May 2013". The British Monarchy. ngày 1 tháng 4 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  144. ^ "The celebrities who have turned on the Christmas lights on Regent Street". The Telegraph. ngày 16 tháng 11 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2017.
  145. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  146. ^ Evans, Elinor (ngày 15 tháng 11 năm 2020). "The Crown S4 E6 real history: Charles and Diana's 1983 royal tour of Australia & the start of 'Dianamania'". BBC History. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2020.
  147. ^ Barr, Sabrina (ngày 23 tháng 1 năm 2020). "Photographer recalls capturing Diana bursting into tears during royal tour: 'It was the first sign something was wrong'". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2022.
  148. ^ a b "Royal Tours of Canada". Canadian Crown. Government of Canada. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2016.
  149. ^ "Who are the 'tartan terrorists'?". BBC News. ngày 2 tháng 3 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2020.
  150. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  151. ^ "Pope John Paul II in pictures". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  152. ^ Sullivan, Jane (ngày 2 tháng 11 năm 1985). "Australia succumbs to Diana mania". The Age. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2020.
  153. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  154. ^ "Royal Tours of Canada". Canadian Crown. Government of Canada. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2016.
  155. ^ Paddock, Richard C. (ngày 7 tháng 5 năm 1986). "Diana Faints at Expo". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2018.
  156. ^ Paddock, Richard C. (ngày 7 tháng 5 năm 1986). "Princess Diana Faints on Visit to California Expo Pavilion". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2018.
  157. ^ a b "The burqa Princess Diana packed for her first tour of the Arabian Gulf". The National. ngày 30 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019.
  158. ^ Holden, Anthony; Lamanna, Dean (ngày 1 tháng 2 năm 1989). "Charles and Diana: portrait of a marriage". Ladies Home Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
  159. ^ "The Crown: Inside Princess Diana's Night at the Opera During Her Historic 1989 Visit to N.Y.C." People. ngày 16 tháng 11 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2020.
  160. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v "Diana, Princess of Wales". The Telegraph. ngày 31 tháng 8 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2016.
  161. ^ a b "Elizabeth Blunt Remembers Diana". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  162. ^ "Elizabeth Blunt Remembers Diana". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  163. ^ "Prince Charles, Princess Diana visit Hungary". Associated Press News. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2012.
  164. ^ "Prince Charles, Princess Diana visit Hungary". Associated Press News. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2012.
  165. ^ "Distinguished guests from overseas such as State Guests, official guests (1989–1998)". The Imperial Household Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
  166. ^ "Royal Visits, Part I". Queen's University Archives. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  167. ^ "Prince Charles, Princess Diana leave Brazil after issue-oriented visit". Deseret News. ngày 28 tháng 4 năm 1991. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  168. ^ "Prince Charles, Princess Diana leave Brazil after issue-oriented visit". Deseret News. ngày 28 tháng 4 năm 1991. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  169. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  170. ^ "Diana, Princess of Wales was a global humanitarian figure who dedicated her life to helping improve the lives of disadvantaged people". The Diana, Princess of Wales Memorial Fund. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  171. ^ a b "Diana, Princess of Wales was a global humanitarian figure who dedicated her life to helping improve the lives of disadvantaged people". The Diana, Princess of Wales Memorial Fund. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  172. ^ Hunt, Peter (ngày 16 tháng 4 năm 2016). "Diana Taj Mahal photo captured disintegrating marriage". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2020.
  173. ^ Ross, Ashley (ngày 8 tháng 4 năm 2016). "The History That Lurks Behind Prince William and Kate Middleton's Taj Mahal Visit". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2018.
  174. ^ Rayner, Gordon (ngày 16 tháng 4 năm 2016). "Duke and Duchess of Cambridge pay loving tribute to Diana on visit to India's Taj Mahal". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2018.
  175. ^ "Look back at the Royal family's most stylish summer outfits". The Telegraph. ngày 10 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2022.
  176. ^ "In photos: Hosni Mubarak". CNN. ngày 25 tháng 2 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2022.
  177. ^ Holden, Anthony (tháng 2 năm 1993). "Diana's Revenge". Vanity Fair. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2020.
  178. ^ "Princess Diana Heads Home After Nepal Visit". AP News. ngày 6 tháng 3 năm 1993. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2022.
  179. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  180. ^ "Distinguished guests from overseas such as State Guests, official guests (1989–1998)". The Imperial Household Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
  181. ^ "Royal engagement photos through the years as Harry and Meghan's glamorous pictures prove they are Hollywood through and through". The Telegraph. ngày 21 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2018.
  182. ^ "Diana, Princess of Wales". British Monarchist Society and Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2017.
  183. ^ "Diana Visits Argentina as 'Ambassador'". Los Angeles Times. ngày 24 tháng 11 năm 1995. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2012.
  184. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  185. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  186. ^ MacLeod, Alexander (ngày 28 tháng 6 năm 1983). "The Princess of Wales: life as a star". The Christian Science Monitor. Lưu trữ bản gốc 14 tháng 4 2015. Truy cập 10 tháng 4 2015.
  187. ^ "The Royal Watch". Philadelphia Daily News. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2014.
  188. ^ Ali, Monica (ngày 30 tháng 3 năm 2011). "Royal rebel: the legacy of Diana". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  189. ^ a b c d "Diana's groups of charities". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  190. ^ Rayner, Gordon (ngày 21 tháng 4 năm 2013). "Duchess of Cambridge walks in Diana's footsteps by becoming Patron of Natural History Museum". The Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2013.
  191. ^ "Special: Princess Diana, 1961–1997". Time. ngày 12 tháng 2 năm 1996. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016.
  192. ^ a b "Diana memorial service in detail". The Telegraph. ngày 31 tháng 8 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  193. ^ "Barnardo's and royalty". Barnardo's. Lưu trữ bản gốc 7 tháng 3 2016. Truy cập 30 tháng 1 2016.
  194. ^ "Diana, Princess of Wales was a global humanitarian figure who dedicated her life to helping improve the lives of disadvantaged people". The Diana, Princess of Wales Memorial Fund. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  195. ^ Furness, Hannah (ngày 12 tháng 4 năm 2013). "Prince Harry to follow in his mother's footsteps in support of Headway charity". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  196. ^ "About the Chester Childbirth Appeal". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2016.
  197. ^ "About the Chester Childbirth Appeal". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2016.
  198. ^ Durand, Carolyn (ngày 15 tháng 10 năm 2015). "Prince William Gives Moving Tribute Speech About Princess Diana at Charity Event". ABC News. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018.
  199. ^ Kim, Eun Kyung (ngày 16 tháng 10 năm 2015). "Prince William pays tribute to mother during charity event for grieving families". NBC Today. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018.
  200. ^ a b "The Honorary Freedom". City of London. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018.
  201. ^ "Spurns Lunch Wine : 'I'm Not an Alcoholic'--Princess Di". Los Angeles Times. ngày 23 tháng 7 năm 1987. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018 – qua United Press International. she turned down the vintage wine offered at the luncheon welcoming her as a 'freeman' of the City of London ... the ancient ritual giving Diana the right to drive sheep across London Bridge, to be hanged with a rope made of silk rather than hemp and a guaranteed place in a poorhouse should the need arise.
  202. ^ "Harry honours his mother's legacy on the anniversary of her death". Hello!. ngày 31 tháng 8 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016.
  203. ^ Clayton, Tim (2001). Diana: Story of a Princess. New York: Simon and Schuster. tr. 288. ISBN 978-1-43911-803-0.
  204. ^ "Diana receives Humanitarian Award". The Standard. ngày 13 tháng 12 năm 1995. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016.
  205. ^ "Diana appeals for the elderly after dropping their charity". The Herald Scotland. ngày 14 tháng 10 năm 1996. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016.
  206. ^ "Charities devastated after Diana quits as patron". The Independent. ngày 17 tháng 7 năm 1996. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2011.
  207. ^ "Diana Memorial Charity Fund Set Up". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  208. ^ Pieler, George (Winter 1998). "The philanthropic legacy of Princess Diana". Philanthropy. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  209. ^ "Diana, Princess of Wales, to open Richard Attenborough Centre" (PDF). University of Leicester. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016.
  210. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  211. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  212. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  213. ^ "Toddler Stands In For Diana". BBC News. ngày 4 tháng 9 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2021.
  214. ^ Allen, Nick; Rayner, Gordon (ngày 10 tháng 1 năm 2008). "Queen 'was against' Diana's Aids work". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  215. ^ Allen, Nick; Rayner, Gordon (ngày 10 tháng 1 năm 2008). "Queen 'was against' Diana's Aids work". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  216. ^ Allen, Nick; Rayner, Gordon (ngày 10 tháng 1 năm 2008). "Queen 'was against' Diana's Aids work". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  217. ^ "How Princess Diana changed attitudes to Aids". BBC News. ngày 5 tháng 4 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  218. ^ "Diana: The Legacy". Huffington Post. ngày 31 tháng 8 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2016.
  219. ^ Allen, Nick; Rayner, Gordon (ngày 10 tháng 1 năm 2008). "Queen 'was against' Diana's Aids work". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  220. ^ "Diana: The Legacy". Huffington Post. ngày 31 tháng 8 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2016.
  221. ^ "1989: Diana opens Landmark Aids Centre". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2016.
  222. ^ "Princess Diana's charity work and causes (image 8)". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  223. ^ "Princess Diana's charity work and causes (image 13)". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016.
  224. ^ a b "International Special Report: Princess Diana, 1961–1997". The Washington Post. ngày 30 tháng 1 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.
  225. ^ "Diana 'Thrilled' To Meet Mandela In South Africa". Sun-Sentinel. ngày 18 tháng 3 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  226. ^ Holt, William (ngày 18 tháng 7 năm 2013). "Prince Harry posts photo of mother and Nelson Mandela". Yahoo. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  227. ^ a b "Mandela and Diana charities join forces". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2016.
  228. ^ "Mandela tells world to learn from Diana". The Telegraph. ngày 3 tháng 11 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2016.
  229. ^ "Mandela and Diana charities join forces". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2016.
  230. ^ "Prince Harry becomes patron of the HALO Trust's 25th Anniversary Appeal". The HALO Trust. ngày 6 tháng 3 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  231. ^ "Prince Harry continues Diana's charitywork in Africa". Today. ngày 12 tháng 8 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  232. ^ "Prince Harry becomes patron of the HALO Trust's 25th Anniversary Appeal". The HALO Trust. ngày 6 tháng 3 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  233. ^ "Prince Harry continues Diana's charitywork in Africa". Today. ngày 12 tháng 8 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  234. ^ "Princess Diana sparks landmines row". BBC News. ngày 15 tháng 1 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.
  235. ^ "Prince Harry becomes patron of the HALO Trust's 25th Anniversary Appeal". The HALO Trust. ngày 6 tháng 3 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  236. ^ "Prince Harry continues Diana's charitywork in Africa". Today. ngày 12 tháng 8 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  237. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  238. ^ "Diana Meets Landmine Victim in Bosnia". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015.
  239. ^ "Diana takes anti-land mine crusade to Bosnia". CNN. ngày 8 tháng 8 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013.
  240. ^ "Diana Meets Landmine Victim in Bosnia". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015.
  241. ^ "House of Commons Hansard Debates for 10 July 1998 (pt 1)". British Parliament. Lưu trữ bản gốc 30 tháng 9 2007. Truy cập 13 tháng 10 2008.
  242. ^ "The 1997 Nobel Prizes". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2010.
  243. ^ "President of The Royal Marsden". The Royal Marsden Cancer Charity. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  244. ^ "President of The Royal Marsden". The Royal Marsden Cancer Charity. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  245. ^ "President of The Royal Marsden". The Royal Marsden Cancer Charity. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  246. ^ McGirk, Tim (ngày 22 tháng 2 năm 1996). "Diana flies in to battle royal in Pakistan". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2018.
  247. ^ Rowley, Storer (ngày 17 tháng 5 năm 2018). "Princess Diana's visit to Northwestern remembered on eve of royal wedding". Northwestern Now. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2021.
  248. ^ "Diana Photo Gallery (13)". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  249. ^ "International Special Report: Princess Diana, 1961–1997". The Washington Post. ngày 30 tháng 1 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.
  250. ^ "Diana Photo Gallery (15)". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  251. ^ "Our history". Children with Cancer UK. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  252. ^ "27 years of saving young lives". Children with Cancer UK. ngày 16 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  253. ^ "Diana, Princess of Wales". Children with Cancer UK. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  254. ^ "Our history". Children with Cancer UK. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  255. ^ "27 years of saving young lives". Children with Cancer UK. ngày 16 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  256. ^ "Our history". Children with Cancer UK. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  257. ^ "27 years of saving young lives". Children with Cancer UK. ngày 16 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  258. ^ "Diana, Princess of Wales". Children with Cancer UK. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  259. ^ "Our history". Children with Cancer UK. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  260. ^ "Diana, Princess of Wales". Children with Cancer UK. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2016.
  261. ^ "The Life of Diana, Princess of Wales 1961–1997". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2015.
  262. ^ Allen, Nick; Rayner, Gordon (ngày 10 tháng 1 năm 2008). "Queen 'was against' Diana's Aids work". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  263. ^ "Charities devastated after Diana quits as patron". The Independent. ngày 17 tháng 7 năm 1996. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2011.
  264. ^ "Diana, Princess of Wales (1961–1997)". The Leprosy Mission. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  265. ^ "The Life of Diana, Princess of Wales 1961–1997". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2015.
  266. ^ "Diana, Princess of Wales (1961–1997)". The Leprosy Mission. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  267. ^ "Diana, Princess of Wales (1961–1997)". The Leprosy Mission. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  268. ^ "Our Patron Prince William". Centrepoint. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  269. ^ "William becomes patron of the homeless". The Telegraph. ngày 14 tháng 9 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  270. ^ Perry, Simon (ngày 30 tháng 9 năm 2021). "Prince William Celebrates a Cause Princess Diana Inspired Him and Prince Harry to Support Decades Ago". People. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  271. ^ "People Princess Diana speaks out for homeless young". Sarasota Herald-Tribune. ngày 8 tháng 12 năm 1995. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2016.
  272. ^ "People Princess Diana speaks out for homeless young". Sarasota Herald-Tribune. ngày 8 tháng 12 năm 1995. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2016.
  273. ^ "International Special Report: Princess Diana, 1961–1997". The Washington Post. ngày 30 tháng 1 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.
  274. ^ "Our Patron Prince William". Centrepoint. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  275. ^ "William becomes patron of the homeless". The Telegraph. ngày 14 tháng 9 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  276. ^ "Author defends Diana criticism". BBC News. ngày 17 tháng 4 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  277. ^ "Our Patron Prince William". Centrepoint. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  278. ^ "Press: Royal Pain". Time. ngày 8 tháng 12 năm 1980. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2021.
  279. ^ "Another round in Prince Charles' matrimonial sweepstakes". United Press International. ngày 22 tháng 11 năm 1980. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2021.
  280. ^ "Press: Royal Pain". Time. ngày 8 tháng 12 năm 1980. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2021.
  281. ^ "Timeline: Diana, Princess of Wales". BBC News. ngày 5 tháng 7 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  282. ^ "1993: Diana sues over gym photos". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  283. ^ "Gym owner defends Princess pictures: Bryce Taylor says 98 per cent of people would also have tried his 'legal scam' to make money". The Independent. ngày 17 tháng 11 năm 1993. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  284. ^ "1993: Diana sues over gym photos". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  285. ^ "Gym owner defends Princess pictures: Bryce Taylor says 98 per cent of people would also have tried his 'legal scam' to make money". The Independent. ngày 17 tháng 11 năm 1993. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  286. ^ "1993: Diana sues over gym photos". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  287. ^ "1993: Diana sues over gym photos". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  288. ^ "1993: Diana sues over gym photos". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  289. ^ "1993: Diana sues over gym photos". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  290. ^ "1993: Diana sues over gym photos". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  291. ^ "Topless Princess Di photos up for sale". United Press International. ngày 4 tháng 5 năm 1994. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2022.
  292. ^ Brown, Tina (ngày 5 tháng 4 năm 2022). "How Princess Diana's Dance With the Media Impacted William and Harry". Vanity Fair. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2022.
  293. ^ Hall, Alice (ngày 11 tháng 3 năm 2020). "A history of royal hoaxes – from Harry to Diana and the Queen". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2022.
  294. ^ Thorpe, Vanessa; Macdonald, Marianne (ngày 8 tháng 10 năm 1996). "Gotcha! 'Sun' says Diana tape was a fake". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2022.
  295. ^ Beckett, Andy (ngày 13 tháng 10 năm 1996). "Soaking up the Sun". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2022.
  296. ^ "1997: Princess Diana dies in Paris crash". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  297. ^ "1997: Princess Diana dies in Paris crash". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  298. ^ "1997: Princess Diana dies in Paris crash". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  299. ^ "Tracking 30 years of TV's most watched programmes". BBC News. ngày 22 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015.
  300. ^ "Networks: 50 million tuned in to Diana's funeral". The Associated Press. ngày 8 tháng 9 năm 1997. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2024.
  301. ^ "Audience for Princess Diana's funeral estimated at 2.5 billion people worldwide". Journal and Courier. ngày 7 tháng 9 năm 1997. tr. 3. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2024.
  302. ^ "Diana's funeral watched by millions on television". BBC News. ngày 6 tháng 9 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.
  303. ^ "World Reaction to Diana's Death". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015.
  304. ^ "World Remembers Diana". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2018.
  305. ^ "Your Thoughts". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  306. ^ "Princess Diana's body comes home". CNN. ngày 31 tháng 8 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013.
  307. ^ "World Reaction to Diana's Death". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015.
  308. ^ "Princess Diana's body comes home". CNN. ngày 31 tháng 8 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013.
  309. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  310. ^ "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 21 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2017.
  311. ^ "World Reaction to Diana's Death". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015.
  312. ^ Lynch, Joe (ngày 11 tháng 10 năm 2014). "17 Years Ago, Elton John's 'Candle In the Wind 1997' Started Its 14-Week No. 1 Run". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2016.
  313. ^ Lynch, Joe (ngày 11 tháng 10 năm 2014). "17 Years Ago, Elton John's 'Candle In the Wind 1997' Started Its 14-Week No. 1 Run". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2016.
  314. ^ "World Reaction to Diana's Death". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015.
  315. ^ "World Reaction to Diana's Death". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015.
  316. ^ "Diana Returns Home". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2015.
  317. ^ a b c "No. 52834". The London Gazette (Supplement). ngày 13 tháng 2 năm 1992. tr. 2581.
  318. ^ "Burial site offers princess a privacy elusive in life". Sarasota Herald Tribune. ngày 6 tháng 9 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2015.
  319. ^ Oborne, Peter (ngày 4 tháng 9 năm 1999). "Diana crash caused by chauffeur, says report". The Telegraph. Số 1562. London. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2008.
  320. ^ "Inquests into the deaths of Diana, Princess of Wales and Mr Dodi Al Fayed". Judicial Communications Office. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2011.
  321. ^ "Princess Diana unlawfully killed". BBC News. ngày 7 tháng 4 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.
  322. ^ "Diana letter 'warned of car plot'". CNN. ngày 20 tháng 10 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2019.; Eleftheriou-Smith, Loulla-Mae (ngày 30 tháng 8 năm 2017). "Princess Diana letter claims Prince Charles was 'planning an accident' in her car just 10 months before fatal crash". The Independent (UK). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2019.
  323. ^ Rayner, Gordon (ngày 20 tháng 12 năm 2007). "Princess Diana letter: 'Charles plans to kill me'". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  324. ^ Badshah, Nadeem (ngày 19 tháng 6 năm 2021). "Police interviewed Prince Charles over 'plot to kill Diana'". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2021.
  325. ^ "Al Fayed abandons Diana campaign". BBC News. ngày 8 tháng 4 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2012.
  326. ^ Mayoras, Danielle; Mayoras, Andy. "As Remainder Of Princess Diana's Estate Passes To Harry, Troubling Questions Remain". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2023.
  327. ^ "Diana's will: The full text". CNN. ngày 4 tháng 3 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2018.
  328. ^ Garber, Julie (ngày 31 tháng 5 năm 2018). "What Does Princess Diana's Will Say?". The Balance. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2018.
  329. ^ "Diana leaves £21m". BBC News. ngày 2 tháng 3 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2020.
  330. ^ a b "What will Prince Harry and Prince William inherit from Princess Diana?". The Telegraph. ngày 1 tháng 9 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2018.
  331. ^ "What will Prince Harry and Prince William inherit from Princess Diana?". The Telegraph. ngày 1 tháng 9 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2018.
  332. ^ Mayoras, Danielle; Mayoras, Andy. "As Remainder Of Princess Diana's Estate Passes To Harry, Troubling Questions Remain". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2023.
  333. ^ Mayoras, Danielle; Mayoras, Andy. "As Remainder Of Princess Diana's Estate Passes To Harry, Troubling Questions Remain". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2023.
  334. ^ "What will Prince Harry and Prince William inherit from Princess Diana?". The Telegraph. ngày 1 tháng 9 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2018.
  335. ^ Picheta, Rob (ngày 27 tháng 4 năm 2021). "Princess Diana's wedding dress to go on display after William and Harry agree to loan". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2021.
  336. ^ Garber, Julie (ngày 31 tháng 5 năm 2018). "What Does Princess Diana's Will Say?". The Balance. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2018.
  337. ^ "A Close Look at the British Royal Family's Engagement Rings". Vogue. ngày 13 tháng 3 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2018.
  338. ^ "Diana's will: The full text". CNN. ngày 4 tháng 3 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2018.
  339. ^ Mayoras, Danielle; Mayoras, Andy. "As Remainder Of Princess Diana's Estate Passes To Harry, Troubling Questions Remain". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2023.
  340. ^ Mayoras, Danielle; Mayoras, Andy. "As Remainder Of Princess Diana's Estate Passes To Harry, Troubling Questions Remain". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2023.
  341. ^ Mayoras, Danielle; Mayoras, Andy. "As Remainder Of Princess Diana's Estate Passes To Harry, Troubling Questions Remain". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2023.
  342. ^ Mayoras, Danielle; Mayoras, Andy. "As Remainder Of Princess Diana's Estate Passes To Harry, Troubling Questions Remain". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2023.
  343. ^ "Diana's will: The full text". CNN. ngày 4 tháng 3 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2018.
  344. ^ "Diana leaves £21m". BBC News. ngày 2 tháng 3 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2020.
  345. ^ "Diana's will: The full text". CNN. ngày 4 tháng 3 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2018.
  346. ^ Loeb, Vernon (ngày 12 tháng 12 năm 1998). "NSA Admits to Spying on Princess Diana". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018.
  347. ^ "Top secret US files could hold clues to death of Diana". The Guardian. ngày 11 tháng 1 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018.
  348. ^ Loeb, Vernon (ngày 12 tháng 12 năm 1998). "NSA Admits to Spying on Princess Diana". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018.
  349. ^ "Top secret US files could hold clues to death of Diana". The Guardian. ngày 11 tháng 1 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018.
  350. ^ Allen, Nick (ngày 9 tháng 1 năm 2008). "Diana's Squidgygate tapes 'leaked by GCHQ'". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018.
  351. ^ Allen, Nick (ngày 9 tháng 1 năm 2008). "Diana's Squidgygate tapes 'leaked by GCHQ'". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018.
  352. ^ "Diana: the people pay tribute". BBC News. ngày 31 tháng 8 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  353. ^ "Prayers for Diana". BBC News. ngày 30 tháng 8 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  354. ^ "Princes say thank you". BBC News. ngày 31 tháng 8 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  355. ^ "Commemorating Diana". BBC News. ngày 30 tháng 8 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  356. ^ "Flags at half mast for Diana". BBC News. ngày 23 tháng 7 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2018.
  357. ^ "Flags at half mast for Diana". BBC News. ngày 23 tháng 7 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2018.
  358. ^ David Pollard, Neil (2007). Constitutional and Administrative Law: Text with Materials. Oxford University Press. tr. 22. ISBN 978-0-199-28637-9.
  359. ^ "Diana concert a 'perfect tribute'". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2012.
  360. ^ "Diana: the people pay tribute". BBC News. ngày 31 tháng 8 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  361. ^ "Diana: the people pay tribute". BBC News. ngày 31 tháng 8 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  362. ^ "Princes to lead Service of Thanksgiving for Diana, Princess of Wales". The Royal Family. ngày 28 tháng 8 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2022.
  363. ^ "Handwritten Diana letters sell for £15,100 at auction". BBC News. ngày 5 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
  364. ^ "Princess Diana's letters about Prince Harry getting into trouble at school sell for five times more than expected". The Telegraph. ngày 6 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
  365. ^ "Handwritten Diana letters sell for £15,100 at auction". BBC News. ngày 5 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
  366. ^ "Princess Diana's letters about Prince Harry getting into trouble at school sell for five times more than expected". The Telegraph. ngày 6 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
  367. ^ "Princess Diana's handwritten letters fetch £67,900". BBC News. ngày 18 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2021.
  368. ^ Gair, Kieran (ngày 1 tháng 2 năm 2023). "Diana's letters reveal strain of her divorce with Charles". The Times. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2023.
  369. ^ a b "Princess Diana fashion exhibition to feature classic outfits from 80s and 90s". The Guardian. ngày 16 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
  370. ^ Rayner, Gordon (ngày 15 tháng 11 năm 2016). "Princess Diana's most iconic dresses being brought back to Kensington Palace to mark 20 years since her death". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
  371. ^ "Diana: Her Fashion Story". Historic Royal Palaces. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2017.
  372. ^ Smout, Alistair; Addiso, Stephen (ngày 22 tháng 2 năm 2017). "Princess Diana's dresses go on display in London, 20 years after her death". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2017.
  373. ^ "Princes William and Harry plan statue of their mother, Diana". The Guardian. ngày 28 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
  374. ^ "Princess Diana fashion exhibition to feature classic outfits from 80s and 90s". The Guardian. ngày 16 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
  375. ^ Rayner, Gordon (ngày 15 tháng 11 năm 2016). "Princess Diana's most iconic dresses being brought back to Kensington Palace to mark 20 years since her death". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
  376. ^ "William and Harry visit Princess Diana memorial". BBC News. ngày 30 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
  377. ^ "Princess Diana remains UK's most beloved royal". CBS News. ngày 20 tháng 8 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2021.
  378. ^ Jephson, Patrick (ngày 25 tháng 6 năm 2011). "We will never forget how Princess Diana made us feel". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  379. ^ White, Michael (ngày 31 tháng 8 năm 2012). "Princess Diana's influence on the royal family lives on". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  380. ^ a b "International Special Report: Princess Diana, 1961–1997". The Washington Post. ngày 30 tháng 1 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.
  381. ^ "Shades of Discipline: Princess Diana, The U.S. Media, and Whiteness". Iowa Journal of Cultural Studies. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  382. ^ Bradford 2006, tr. 307–308.
  383. ^ Ali, Monica (ngày 30 tháng 3 năm 2011). "Royal rebel: the legacy of Diana". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  384. ^ Ciccocioppo, Lucianna (ngày 26 tháng 9 năm 1997). "The power of Diana's charisma". University of Alberta. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2020.
  385. ^ Bradford 2006, tr. 189.
  386. ^ "International Special Report: Princess Diana, 1961–1997". The Washington Post. ngày 30 tháng 1 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.
  387. ^ "Patrick Jephson: Prince Charles Was Unable to Reconcile with Princess Diana's Extraordinary Popularity". The Independent. ngày 31 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  388. ^ McFadden, Cynthia; Arons, Melinda (ngày 29 tháng 8 năm 2007). "Princess Diana's Life and Legacy". ABC News. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  389. ^ "Patrick Jephson: Prince Charles Was Unable to Reconcile with Princess Diana's Extraordinary Popularity". The Independent. ngày 31 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  390. ^ Milmo, Cahal (ngày 25 tháng 10 năm 2002). "Diana did not talk to me in final months, admits her mother". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2016.
  391. ^ "International Special Report: Princess Diana, 1961–1997". The Washington Post. ngày 30 tháng 1 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.
  392. ^ Rob, Wallace. "'Rebel Royal Mum': Diana's Legacy as Parent". ABC News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  393. ^ Regan, Alex (ngày 31 tháng 8 năm 2017). "Diana's embrace: The legacy she left her sons". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2018.
  394. ^ Jephson, Patrick (ngày 25 tháng 6 năm 2011). "We will never forget how Princess Diana made us feel". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  395. ^ Hampson, Chris (ngày 28 tháng 8 năm 2007). "Why Princess Diana still fascinates us". NBC News. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  396. ^ White, Michael (ngày 31 tháng 8 năm 2012). "Princess Diana's influence on the royal family lives on". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  397. ^ "International Special Report: Princess Diana, 1961–1997". The Washington Post. ngày 30 tháng 1 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.
  398. ^ Ali, Monica (ngày 30 tháng 3 năm 2011). "Royal rebel: the legacy of Diana". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  399. ^ Brown, Tina (ngày 4 tháng 9 năm 2013). "Tina Brown: How Princess Diana Went from a Meek Mouse to a Windsor Lion". Vanity Fair (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  400. ^ "FAREWELL, DIANA". TIME.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  401. ^ Howell, Georgina (ngày 4 tháng 9 năm 2013). "Divorcing Di? How Prince Charles and Princess Diana's Fairytale Romance Soured". Vanity Fair (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  402. ^ Ali, Monica (ngày 30 tháng 3 năm 2011). "Royal rebel: the legacy of Diana". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  403. ^ "International Special Report: Princess Diana, 1961–1997". The Washington Post. ngày 30 tháng 1 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008.
  404. ^ Caroll, Alicia. "America's Obsession With Royalty Started With Princess Diana". New York Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  405. ^ Holden, Anthony (tháng 2 năm 1993). "Diana's Revenge". Vanity Fair. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2020.
  406. ^ "Tony Blair: Diana was a manipulator like me". The Telegraph. ngày 31 tháng 8 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  407. ^ "Criticism of Queen after death of Diana 'hugely upset' Queen Mother". The Telegraph. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  408. ^ Hoge, Warren (ngày 4 tháng 9 năm 1997). "Royal Family, Stung by Critics, Responds to a Grieving Nation". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  409. ^ Ali, Monica (ngày 30 tháng 3 năm 2011). "Royal rebel: the legacy of Diana". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  410. ^ Campbell, Alastair (ngày 29 tháng 5 năm 2017). "Prince William on Diana, Princess of Wales". British GQ (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  411. ^ "Others Who Stood in the Spotlight". Time (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 1 năm 1982. ISSN 0040-781X. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  412. ^ "Man of the Year 1997 - TIME". TIME.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  413. ^ "1987: Diana, Princess of Wales". Times.
  414. ^ "Great Britons 1–10". BBC (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  415. ^ a b c "We will never forget how Princess Diana made us feel". www.telegraph.co.uk. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  416. ^ a b "Author defends Diana criticism". news.bbc.co.uk. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  417. ^ a b c Frank, Kermode. "Shrinking the Princess". New York Times. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  418. ^ "The Princess and the Press". BBC News. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  419. ^ "Diana and the Paparazzi: A Morality Tale (Published 1997)". New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 9 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  420. ^ a b Conrad, Peter (ngày 17 tháng 6 năm 2007). "Diana: the myth, 10 years on". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  421. ^ "Mother Teresa or Mrs. Simpson: Which Was the Real Diana?". Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 9 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  422. ^ Holden, Michael. "Princess Diana leaked royal directories to Murdoch tabloid, court hears". Reuters (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  423. ^ White, Michael (ngày 31 tháng 8 năm 2012). "Princess Diana's influence on the royal family lives on". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  424. ^ "Tony Blair: Diana was a manipulator like me". The Telegraph. ngày 31 tháng 8 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2017.
  425. ^ "Princess Diana's death was 'global event' says Blair". BBC News. ngày 1 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2020.
  426. ^ "The Goddess of Domestic Tribulations". City Journal (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  427. ^ "One Year On: Dry your eyes She was no saint and her death changed". The Independent (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 8 năm 1998. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  428. ^ "The power of Diana's charisma". sites.ualberta.ca. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  429. ^ a b Ali, Monica (ngày 30 tháng 3 năm 2011). "Royal rebel: the legacy of Diana". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  430. ^ Freedland, Jonathan (ngày 13 tháng 8 năm 2007). "A moment of madness?". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  431. ^ Conrad, Peter (ngày 17 tháng 6 năm 2007). "Diana: the myth, 10 years on". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  432. ^ "Why Diana is still the spirit of the age". Telegraph. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  433. ^ Lee Adams, William (ngày 2 tháng 4 năm 2012). "All-Time 100 Fashion Icons: Princess Diana". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  434. ^ "Will Kate kick off a war of the Welles?". The Telegraph. ngày 17 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2016.
  435. ^ Lee Adams, William (ngày 2 tháng 4 năm 2012). "All-Time 100 Fashion Icons: Princess Diana". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  436. ^ "Will Kate kick off a war of the Welles?". The Telegraph. ngày 17 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2016.
  437. ^ Lee Adams, William (ngày 2 tháng 4 năm 2012). "All-Time 100 Fashion Icons: Princess Diana". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  438. ^ a b c d Paton, Elizabeth (ngày 22 tháng 2 năm 2017). "Why Are We Still Obsessed With Princess Diana's Style?". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2017.
  439. ^ Katz, Gregory (ngày 22 tháng 2 năm 2017). "Dresses that tell a story: Princess Diana fashion exhibit to open at Kensington Palace". Chicago Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2017.
  440. ^ a b Holt, Bethan (ngày 24 tháng 2 năm 2017). "No gloves and high split skirts: How Princess Diana rewrote the rules of royal dressing". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2017.
  441. ^ a b Elbaum, Rachel (ngày 30 tháng 8 năm 2012). "Forever fashionable: Princess Diana's style legacy lives on". NBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  442. ^ a b c d e f Holt, Bethan (ngày 19 tháng 11 năm 2016). "Why Princess Diana remains an enduring style icon for all generations". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  443. ^ a b Ferrier, Morwenna (ngày 4 tháng 4 năm 2016). "Why Rihanna's obsessed with Princess Diana". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  444. ^ "Diana, Style Icon". CBS News. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  445. ^ a b c d e Hudson, Mark (ngày 22 tháng 2 năm 2017). "Diana: Her Fashion Story, review: this riveting show of Diana's dresses shows just how magnificent she was". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2017.
  446. ^ a b Tashjian, Rachel (ngày 23 tháng 2 năm 2017). "How Princess Diana Became a Fashion Icon". Vanity Fair. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2017.
  447. ^ Mower, Sarah (ngày 1 tháng 11 năm 2013). "Princess Diana's Iconic Style: Why We're Still Fascinated by Her Fashion Today". Vogue. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  448. ^ Holt, Bethan (ngày 13 tháng 10 năm 2016). "The modern way to dress like Princess Diana". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  449. ^ Holmes, Elizabeth (ngày 9 tháng 11 năm 2020). "Why Princess Diana's Fashion Will Never Go Out of Style". Vanity Fair. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2021.
  450. ^ Crimmens, Tamsin (ngày 17 tháng 11 năm 2016). "Princess Diana's Iconic Fashion Moments". Elle. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  451. ^ a b "Princess Diana's changing fashion style explored in exhibition". BBC News. ngày 19 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2017.
  452. ^ Ashby, Chloë (ngày 14 tháng 10 năm 2023). "'Diana wanted five maternity coats': David Sassoon on tailoring to royalty". The Guardian. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.
  453. ^ "David Sassoon obituary: designer of 70 dresses for Diana". The Times (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.
  454. ^ Neel, Julia (ngày 15 tháng 4 năm 2011). "Style File – Diana, Princess Of Wales". Vogue. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  455. ^ Holt, Bethan (ngày 16 tháng 11 năm 2020). "Revealed: why Princess Diana had to replace her beloved sheep jumper". The Telegraph. ISSN 0307-1235. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2023.
  456. ^ "The Second Life of Princess Diana's Most Notorious Sweater". The New Yorker. ngày 20 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2023.
  457. ^ Adams, Rebecca (ngày 1 tháng 7 năm 2013). "Princess Diana's Black Dress Was The Best 'Revenge' After Separation". The Huffington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
  458. ^ "The Inside Story: Diana, Princess of Wales's Vogue Covers". British Vogue. ngày 5 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2021.
  459. ^ Newbold, Alice (ngày 6 tháng 7 năm 2021). "Gucci Has Reinvented One of Princess Diana's Favorite Handbags". Vogue. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2021.
  460. ^ Bongrand, Caroline; Müller, Florence (tháng 4 năm 2011), "Lady Dior", trong Éditions de La Martinière (biên tập), Inspiration Dior (bằng tiếng Pháp), Irina Antonova (preface), Paris: La Martinière, tr. 220–227, ISBN 978-2732446233, Inspi2011
  461. ^ Bennett, Catherine (ngày 25 tháng 2 năm 2017). "Diana shook up the royals but they have their poise back now". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2017.
  462. ^ "John Boyd, milliner who helped make Princess Diana a fashion icon, dies at 92". The Washington Post. ngày 6 tháng 3 năm 2018.
  463. ^ "Discreet hatmaker who sparked a craze for British millinery after he designed Princess Diana's pink, ostrich-feathered going-away hat". The Times. ngày 7 tháng 3 năm 2018.
  464. ^ "Queen unveils new Diana fountain" (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  465. ^ "Diana's walkway unveiled". BBC News. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  466. ^ Pierce, Andrew (ngày 15 tháng 2 năm 2007). "Brown launches Diana Award as charity". The Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2011.
  467. ^ "William and Harry unite to unveil Diana statue at Kensington Palace". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  468. ^ "Austrians unveil Diana memorial". BBC News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  469. ^ Bennhold, By Katrin. "In Paris, 'pilgrims of the flame' remember Diana - International Herald Tribune". www.iht.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  470. ^ a b "Paris Honors Diana with Two Memorials". People (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  471. ^ "Topical Stamps Featuring Princess Diana. Online Sales from The Collectible Stamps Gallery". www.collectiblestampsgallery.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  472. ^ "Welcome to Haypost CJSC | Բարի Գալուստ Հայփոստ ՓԲԸ". www.haypost.am. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  473. ^ "Xaricdə Təhsil Şirkətləri - ƏN SON". Az Study (bằng tiếng Azerbaijan). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  474. ^ "Diana memorial unveiled" (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  475. ^ "Harrods unveils Diana, Dodi statue". CNN. ngày 1 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  476. ^ Johnston, Chris (ngày 13 tháng 1 năm 2018). "'Tacky' statue of Diana and Dodi Fayed to be removed from Harrods". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  477. ^ "Royal princess named Charlotte Elizabeth Diana". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  478. ^ "Access Restricted". www.telegraph.co.uk. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  479. ^ "Meghan and Harry welcome baby girl, Lilibet Diana". CNN (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  480. ^ "Earl Spencer names baby daughter after Diana, Princess of Wales". The Telegraph. UK. ngày 6 tháng 8 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  481. ^ Bastin, Giselle (Summer 2009). "Filming the Ineffable: Biopics of the British Royal Family". Auto/Biography Studies. 24 (1): 34–52. doi:10.1080/08989575.2009.10846787. S2CID 220313542. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2013.
  482. ^ "Charles and Diana: Unhappily Ever After". Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  483. ^ "Princess in Love". Rotten Tomatoes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  484. ^ "Legal fight to safeguard Diana's voice from exploitation by". The Independent (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 1 năm 1998. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  485. ^ "Mrs Mary Johnson". BBC (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  486. ^ "Diana: Last Days of a Princess TV Show". TV Guide. ngày 20 tháng 1 năm 2013.
  487. ^ "Diana film slammed by British press". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  488. ^ Kumar, Naveen (ngày 18 tháng 11 năm 2021). "'Diana, The Musical' Review: A Royal Tragedy Turned Vacuous Rom-Com". Variety (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  489. ^ ""The Crown" Just Cast Its Princess Diana". BuzzFeed News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  490. ^ Haring, Bruce (ngày 16 tháng 8 năm 2020). "'The Crown' Adds Elizabeth Debicki As Princess Diana For Final Two Seasons". Deadline (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  491. ^ "Kristen Stewart joins the British royal family in Spencer". Cineuropa (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2025.
  492. ^ "About page for the HBO Documentary Film Diana, Our Mother: Her Life and Legacy". HBO. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2017.
  493. ^ "Diana, Our Mother: Her Life and Legacy". ITV Press Centre. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2017.
  494. ^ "William And Harry To Share Memories Of Mother Diana In Intimate TV Documentary". HuffPost UK. ngày 3 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2017.
  495. ^ Starr Bowenbank (ngày 11 tháng 5 năm 2023). "Ice Spice Reveals She Was Initially 'Confused' by Princess Diana Comparisons". Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2023.
  496. ^ Charisma Madarang (ngày 14 tháng 4 năm 2023). "Ice Spice And Nicki Minaj Drop Ode To British Royal With 'Princess Diana' Remix". Rolling Stone. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2023.
  497. ^ Adamson, Thomas; Cetinic, Oleg (ngày 20 tháng 11 năm 2025). "Wax Diana in 'revenge dress' is unveiled in Paris decades after her death in the city". AP News. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2025.
  498. ^ a b "Diana, Princess of Wales". The Royal Family. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2023.
  499. ^ a b c Jack, Ian (ngày 11 tháng 3 năm 2005). "Lay of the last duchess". The Guardian. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021. Diana Spencer had also been the Duchess of Rothesay, and of Cornwall, the Baroness Renfrew, etc, as well as the Princess of Wales.
  500. ^ de Lucia, Carmella (ngày 31 tháng 8 năm 2017). "How Chester came to a standstill in the aftermath of Princess Diana's untimely death". Chester Chronicle. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021.
  501. ^ de Lucia, Carmella (ngày 19 tháng 6 năm 2014). "Help hospital recreate historic day". Chester Chronicle. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021. This year the hospital is celebrating three decades since Diana, Princess of Wales officially opened the building, and as a result it was named in her honour.
  502. ^ "Why Prince Harry's wife will not be called Princess Meghan". BBC News. ngày 30 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2023.
  503. ^ "Tony coined the 'people's princess'". The Telegraph. London. ngày 9 tháng 7 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2015.
  504. ^ Hare, Breeanna (ngày 31 tháng 8 năm 2020). "How Diana became known as 'the people's princess'". CNN. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2024.
  505. ^ "Palace and Spencers Agree: No HRH". BBC News. ngày 8 tháng 9 năm 1997. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2021.
  506. ^ Vickers, Hugo (1994). Royal Orders. Boxtree. tr. 147. ISBN 9781852835101.
  507. ^ "Royal Insight". The British Monarchy. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2023.
  508. ^ a b Mosley, Charles, biên tập (2003). Burke's Peerage, Baronetage and Knightage. Quyển III (ấn bản thứ 107). Wilmington, Delaware: Burke's Peerage and Gentry LLC. tr. 3696. ISBN 978-0-97-119662-9.
  509. ^ "Prince William becomes honorary barrister". The Daily Telegraph. ngày 7 tháng 7 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019. The Prince is the sixth member of the Royal Family to be called to the Bench as a Royal Bencher and is following in the footsteps of the Queen Mother, called in 1944, and his mother Diana, Princess of Wales, called in 1988.
  510. ^ "RCS: Faculty of Dental Surgery" (PDF). The Royal College of Surgeons. tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018. There were records of such diverse events of the endowment of the Nuffield Research Professor in Dental Science, the admission of HRH Diana Princess of Wales as an Honorary Fellow in Dental Surgery and ...
  511. ^ "Freedom of Cardiff: List of recipients from 1886". BBC News. ngày 24 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2018.
  512. ^ "Honorary Freeman of the City and County of Cardiff" (PDF). cardiff.gov.uk. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2020.
  513. ^ "Diana Daffodils". Getty Images. tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2021.
  514. ^ "Diana memorial unveiled". BBC News. ngày 7 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  515. ^ Princess Diana in Northampton. YouTube. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2021.
  516. ^ "Diana And Her Father Earl Spencer". Getty Images. tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2021.
  517. ^ "Freedom of the city & keys of the city". Portsmouth City Council. ngày 27 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2018.
  518. ^ C.D. Coulthard-Clark (2000). Australia's Military Mapmakers. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-551343-1.
  519. ^ "Honorary Appointments". Princess of Wales Own Regiment. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
  520. ^ "No. 50148". The London Gazette. ngày 10 tháng 6 năm 1985. tr. 8028.
  521. ^ "Unpublished pictures of Princess Diana launching HMS Cornwall in 1985 up for auction". Forces Network. ngày 14 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2024.
  522. ^ "HMS VANGUARD NAMING CEREMONY WITH HRH DIANA THE PRINCESS OF WALES, BARROW-IN-FURNESS, 30 APRIL 1992 [Allocated Title]". Imperial War Museums. ngày 30 tháng 4 năm 1992. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  523. ^ "HMS VANGUARD COMMISSIONING CEREMONY WITH HRH DIANA, PRINCESS OF WALES, BARROW-IN-FURNESS, 14 AUGUST 1993 [Allocated Title]". Imperial War Museums. ngày 14 tháng 8 năm 1993. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2022.
  524. ^ "Funeral of Diana, Princess of Wales" (PDF). Westminster Abbey. ngày 6 tháng 9 năm 1997. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2021.
  525. ^ Montague-Smith, Patrick (1968). Debrett's Peerage, Baronetage, Knightage and Companionage. Kelly's Directories. tr. 24.
  526. ^ "The Coat of Arms of HRH Prince William and HRH Prince Harry of Wales". College of Arms. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2014.
  527. ^ Round, J.H. (1901). Studies in Peerage and Family History. London: A. Constable and Company. tr. 292–309.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “lower-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="lower-alpha"/> tương ứng