Digimon Xros Wars

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Digimon Xros Wars
Digimon Xros Wars poster.png
Áp phích mùa đầu tiên của xê-ri Digimon Xros Wars
デジモンクロスウォーズ
(Dejimon Kurosu Wōzu)
Thể loạihành động, phiêu lưu, khoa học viễn tưởng
Manga
Tác giảNakashima Yuki
Nhà xuất bảnShueisha
Đối tượngShōnen
Tạp chíV-Jump
Đăng tải21 tháng 6 năm 201021 tháng 3 năm 2012
Số tập4
Anime truyền hình
Đạo diễnEndo Tetsuya
Kịch bảnSanjo Riku
Âm nhạcYamashita Kousuke
Hãng phimToei Animation
Kênh gốcNhật Bản TV Asahi
Kênh khác
Canada YTV

Úc Go!
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Kix,[1] CITV
Hoa Kỳ Nickelodeon,[2]
Nicktoons (2013–nay)
The CW (Vortexx) (2014)[3] Nicktoons

Singapore Disney XD[4]
Phát sóng 6 tháng 7 năm 2010 21 tháng 3 năm 2012
Số tập79 (danh sách tập)
Trò chơi
Digimon Story: Super Xros Wars
Blue and Red
Phát triểnNamco Bandai
Phát hànhNamco Bandai
Thể loạiRPG
Hệ máyNintendo DS
Ngày phát hành3 tháng 3 năm 2011
Liên quan
Chủ đề Anime và manga

Digimon Xros Wars (デジモンクロスウォーズ (Số mã thú Hợp thể Chiến tranh) Dejimon Kurosu Wōzu?), hay còn gọi là Digimon Fusion[5] là loạt phim anime thứ sáu trong Digimon được sản xuất bởi Toei Animation. Phim được phát sóng tại Nhật Bản từ 6 tháng 7 năm 2010 đến 21 tháng 3 năm 2012. Phim gồm ba mùa, mùa 2 mang tên The Evil Death Generals and the Seven Kingdoms (悪のデスジェネラルと七人の王国 (Tà ác Đích Tử vong chỉ huy Quan dữ Thất cá Vương quốc) Aku no Desu Jeneraru to Nanajin no Oukoku?) và mùa 3 mang tên The Young Hunters Who Leapt Through Time (時を駆ける少年ハンターたち (Xuyên việt Thời không đích Thiếu niên Liệp nhân môn) Toki o Kakeru Shōnen Hantā-tachi?). Nội dung phim kể về hành trình của Xros Heart do Taiki đứng đầu cùng sự liên minh với Blue Faire của Kiriha giải phóng mọi vùng đất ở thế giới kĩ thuật số từ tay Barga Amry do Bagramon cầm đầu trong hai mùa đầu tiên, sau đó là sự đồng hành cùng những thợ săn Digimon từ những thành viên của liên quân này.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa 1[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa 2: The Evil Death Generals and the Seven Kingdoms[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa 3: The Young Hunters Who Leapt Through Time[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Digimon Tamers được sản xuất bởi Toei Animation với 79 tập với 30 tập ở mùa 1, 24 tập ở mùa 2 và 25 tập ở mùa 3, được phát sóng trên TV Asahi tại Nhật Bản từ từ 6 tháng 7 năm 2010 đến 21 tháng 3 năm 2012. Ca khúc mở đầu mùa 1 là "Never Give Up!" (ネバギバ! Neba Giba!?) của Sonar Pocket, mùa 2 và 3 lần lượt là "New World" và "STAND UP" của Twill. Nhạc lồng trong phim gồm 11 bài: "WE ARE Xros Heart" (WE ARE クロスハート! WE ARE Kurosu Hāto!?), "X4B THE GUARDIAN" và "Sora Mau Yuusha! X5" (空舞う勇者!×5 Sora Mau Yūsha! Kurosu Faibu?) của Wada Kouji, "Blazing Blue Flare" của Takatori Hideaki, "Dark Knight ~Fujimi no Ouja~" (DARK KNIGHT~不死身の王者~ Dark Knight ~Fujimi no Ōja~?) của Takayoshi Tanimoto, "Evolution & DigiXros ver. TAIKI" của Wada Kouji và Takayoshi Tanimoto, "Evolution & DigiXros ver. KIRIHA" của Takayoshi Tanimoto và Wada Kouji, "WE ARE Xros Heart ver. X7" (WE ARE クロスハート! ver. X7 WE ARE Kurosu Hāto! ver. X7?) của Wada Kouji, Takayoshi Tanimoto và Miyazaki Ayumi, "Tagiru Chikara!" (タギルチカラ!?) của Psychic Lover, "Shining Dreamers" của Iwasaki Takafumi và "Legend Xros Wars" (レジェンド・クロスウォーズ Rejendo Kurosu Wōzu?) của YOFFY và Iwasaki Takafumi.

Phân vai lồng tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật Diễn viên lồng tiếng Nhật Diễn viên lồng tiếng Anh
Kudou Taiki Takayama Minami Nicolas Roye
Hinomoto Akari Shiraishi Ryoko Colleen O'Shaughnessey
Mervamon Tara Platt
Opossumon
Tsurugi Jenzirou Kishio Daisuke Derek Stephen Prince
MaidBirdramon Patrick Seitz
Dracmon
Aonuma Kiriha Kusao Takeshi Vic Mignogna
Greymon Kyle Hebert
Ballistamon Steve Staley
Shoutmon Sakamoto Chika Benjamin Diskin
Cutemon Kuwashima Houko
Amano Nene Melissa Fahn
Tobari Ren
Amano Yuu Oki Kanae Cindy Robinson
Akashi Tagiru Inoue Marina
Mogami Ryouma Kakihara Tetsuya
Suzaki Airu Han Megumi
Dorulumon Sakurai Takahiro Kyle Hebert
Psychemon/Quartzmon
Sparrowmon Kikichi Kokoro Michelle Ruff
Damemon Kikuchi Masami Michael Sorich
Gumdramon Watanabe Kumiko

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Dickson, Jeremy (ngày 18 tháng 10 năm 2013). “ITV licenses Digimon Fusion”. Kidscreen. Brunico Communications Ltd. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2013. 
  2. ^ “Nickelodeon dives into Digimon | News”. C21Media. Ngày 20 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014. 
  3. ^ Dorich, Alan. “Saban Brands”. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2013. 
  4. ^ “Digimon Fusion Battles premiere”. Youtube.com. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014. 
  5. ^ “TV Kids Digital Edition: October 2012 (Page 91)”. WorldScreen. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]