Dimetyl kẽm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Dimetyl kẽm
Dimethylzinc-3D-balls.png
Ball-and-stick model of dimethylzinc
Danh pháp IUPAC dimethylzinc
Nhận dạng
Số CAS 544-97-8
PubChem 11010
ChEBI 51497
Ảnh Jmol-3D ảnh
SMILES
InChI
Thuộc tính
Công thức phân tử Zn(CH3)2
Khối lượng mol 95.478 g/mol
Điểm nóng chảy −42 °C (231 K; −44 °F)
Điểm sôi 46 °C (319 K; 115 °F)
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
KhôngN kiểm chứng (cái gì Có KhôngN ?)

Dimetyl kẽm, còn được gọi với nhiều cái tên khác kẽm metyl, DMZ hoặc DMZn là hợp chất có thành phần chính gồm nguyên tố kẽm và nhóm mety;, tồn tại dưới dạng thức là một chất lỏng di động không màu và công thức hóa học được quy định là Zn(CH3)2, được hình thành bởi hoạt động của metyl iotua trên kẽm ở nhiệt độ cao hoặc trên hợp kim natri kẽm.

2Zn + 2CH3I → Zn(CH3)2 + ZnI2

Natri hỗ trợ phản ứng của kẽm với metyl iotua. Kẽm iotua được hình thành như một sản phẩm phụ phản ứng.

Hợp chất này có mùi khó chịu, và là chất gây cháy. Điều này rất quan trọng trong việc tổng hợp các hợp chất hữu cơ. Nó hòa tan trong ankan và thường được bán dưới dạng dung dịch hexan. Nó thuộc về một loạt các hợp chất tương tự như dimetyl kẽm.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chất này được Edward Frankland điều chế lần đầu tiên trong quá trình làm việc với Robert Bunsen năm 1849 tại Đại học Marburg. Sau khi đun nóng một hỗn hợp kẽm và metyl iotua trong một ống kín, một ngọn lửa nổ ra khi nút niêm phong bị vỡ.[1] Trong phòng thí nghiệm, phương pháp tổng hợp này vẫn không thay đổi ngày nay, ngoại trừ các hợp chất đồng hoặc đồng được sử dụng để kích hoạt kẽm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ E. Frankland (1849). “Notiz über eine neue Reihe organischer Körper, welche Metalle, Phosphor u. s. w. enthalten”. Liebigs Annalen der Chemie und Pharmacie 71 (2): 213–216. doi:10.1002/jlac.18490710206.