Dispholidus typus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Dispholidus typus
Dispholidus typus.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Reptilia
Bộ (ordo)Squamata
Phân bộ (subordo)Serpentes
Phân thứ bộ (infraordo)Alethinophidia
Họ (familia)Colubridae
Phân họ (subfamilia)Colubrinae
Chi (genus)Dispholidus
FitzSimons & Brain, 1958
Loài (species)D. typus
Danh pháp hai phần
Dispholidus typus
(Smith, 1829)
Danh pháp đồng nghĩa

Dispholidus typus là một loài rắn trong họ Rắn nước. Loài này được Smith mô tả khoa học đầu tiên năm 1828.[2] Nó hiện là loài duy nhất trong chi, mặc dù một số loài và phân loài đã được mô tả trong quá khứ. Tên của nó có nghĩa là "rắn cây" trong tiếng Afrikaans và tiếng Hà Lan. Đây là loài bản địa và hạn chế ở châu Phi cận Sahara.

Chúng sinh hoạt ban ngày và hầu như chỉ sống trên cây. Chúng sống ẩn dật, và bỏ khỏi bất cứ con mồi nào quá lớn để ăn. chế độ ăn uống của chúng bao gồm tắc kè và thằn lằn sống trên cây khác, ếch, động vật có vú và thỉnh thoảng nhỏ, chim và trứng của các loài chim làm tổ. Trong thời tiết mát mẻ, chúng ngủ đông trong thời gian vừa phải, thường cuộn tròn bên trong tổ kín của các loài chim như thợ dệt.

Loài này có chất độc rất nguy hiểm, nếu bị chúng cắn, máu sẽ chảy khắp các bộ phận có lỗ cơ thể gồm: tai, mũi, mắt, ... và cả vết thương.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Boulenger, G.A. 1896. Catalogue of the Snakes in the British Museum (Natural History), Volume III. London. pp. 186–189.
  2. ^ Dispholidus typus. The Reptile Database. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]