Dries van Agt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dries van Agt
Dries van Agt, 2011 (cropped).jpg
Dries van Agt năm 2011
Thủ tướng thứ 34 của Hà Lan
Nhiệm kỳ
19 tháng 12 năm 1977 – 4 tháng 11 năm 1982
Nữ hoàng Juliana (1977–1980)
Beatrix (1980–1982)
Phó Thủ tướng
Tiền nhiệm Joop den Uyl
Kế nhiệm Ruud Lubbers
Đại sứ Liên minh Châu Âu tại Hoa Kỳ
Nhiệm kỳ
1 tháng 1 năm 1990 – 1 tháng 4 năm 1995
Tiền nhiệm Roy Denman
Kế nhiệm Hugo Paemen
Đại sứ Liên minh Châu Âu tại Nhật Bản
Nhiệm kỳ
1 tháng 1 năm 1987 – 1 tháng 1 năm 1990
Tiền nhiệm Laurens Jan Brinkhorst
Kế nhiệm Không rõ
Uỷ viên của Bắc Brabant
Nhiệm kỳ
1 tháng 6 năm 1983 – 22 tháng 4 năm 1987
Monarch Beatrix
Tiền nhiệm Jan Dirk van der Harten
Kế nhiệm Frank Houben
Bộ trưởng Ngoại giao
Nhiệm kỳ
28 tháng 5 năm 1982 – 4 tháng 11 năm 1982
Thủ tướng Dries van Agt
Tiền nhiệm Max van der Stoel
Kế nhiệm Hans van den Broek
Lãnh đạo Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo
tại Hạ viện
Nhiệm kỳ
10 tháng 6 năm 1981 – 24 tháng 8 năm 1981
Tiền nhiệm Ruud Lubbers
Kế nhiệm Ruud Lubbers
Nhiệm kỳ
8 tháng 6 năm 1977 – 19 tháng 12 năm 1977
Tiền nhiệm Chức vụ mới
Kế nhiệm Willem Aantjes
Lãnh đạo Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo
Nhiệm kỳ
22 tháng 10 năm 1976 – 25 tháng 10 năm 1982
Tiền nhiệm Chức vụ mới
Kế nhiệm Ruud Lubbers
Phó Thủ tướng Hà Lan
Nhiệm kỳ
11 tháng 5 năm 1973 – 8 tháng 9 năm 1977
Thủ tướng Joop den Uyl
Tiền nhiệm Roelof Nelissen
Molly Geertsema
Kế nhiệm Gaius de Gaay Fortman
Hạ nghị sĩ
Nhiệm kỳ
16 tháng 9 năm 1982 – 16 tháng 6 năm 1983
Nhiệm kỳ
10 tháng 6 năm 1981 – 9 tháng 9 năm 1981
Nhiệm kỳ
8 tháng 6 năm 1977 – 19 tháng 12 năm 1977
Nhiệm kỳ
23 tháng 1 năm 1973 – 22 tháng 4 năm 1973
Bộ trưởng Tư pháp
Nhiệm kỳ
6 tháng 7 năm 1971 – 8 tháng 9 năm 1977
Thủ tướng Barend Biesheuvel (1971–1973)
Joop den Uyl (1973–1977)
Tiền nhiệm Carel Polak
Kế nhiệm Gaius de Gaay Fortman
Thông tin cá nhân
Sinh Andreas Antonius Maria van Agt
2 tháng 2 năm 1931 (86 tuổi)
Geldrop, Hà Lan
Đảng chính trị Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo
(từ 1980)
Đảng Toàn thể Nhân dân
(cho đến 1980)
Vợ, chồng Eugenie Krekelberg
Con cái Eugenie (sinh 1959)
Frans (sinh 1961)
Caroline (sinh 1963)
Cư trú Nijmegen, Hà Lan
Alma mater Đại học Radboud Nijmegen
Nghề nghiệp Chính trị gia
Nhà ngoại giao
Công chức
Luật gia
Luật sư
Thẩm phán
Nhà nghiên cứu
Giám đốc
Lobbyist
Nhà hoạt động chính trị
Độc giả
Giáo sư
Tôn giáo Công giáo Roma
Chữ ký
Website (tiếng Hà Lan) Official site

Andreas Antonius Maria "Dries" van Agt (Hà Lan phát âm: [dris fɑn ɑxt], sinh ngày 02 Tháng 2 năm 1931) là một nhà chính trị Hà Lan đã nghỉ hưu của Đảng Dân chủ Cơ-đốc. Ông là thủ tướng Vương quốc Hà Lan từ ngày 19 tháng 12 năm 1977, cho đến ngày 04 tháng 11 năm 1982. Trước đó ông đã giữ chức Bộ trưởng Bộ Tư pháp từ 06 tháng 7 năm 1971 đến 08 tháng 9 năm 1977 trong các nội các của Biesheuvel I, II và Den Uyl. Ông đã là phó thủ tướng Chính phủ từ 11 tháng 5 năm 1973 cho đến ngày 8 tháng 9 năm 1977 trong nội các Den Uyl. Ông từ chức Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Phó Thủ tướng Chính phủ để trở thành lãnh đạo Đảng Dân chủ Cơ-đốc đầu tiên và là lãnh đạo Quốc hội đầu tiên của Đảng Dân chủ Cơ-đốc ở Hạ viện mà ông phục vụ từ 26 tháng 5 năm 1977 cho đến ngày 19 tháng 12năm 1977. ông là một dân biểu Hạ viện từ 08 tháng sáu 1977 đến 19 tháng 12 năm 1977. Văn Agt trở thành Thủ tướng của Hà Lan, lãnh đạo các nội các Van Agt I, II và III. Ông là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho nội các thứ ba của mình. Sau khi trở thành thủ tướng, Van Agt trở thành Ủy viên được ủy quyền của Nữ hoàng Hà Lan đối với Bắc Brabant từ ngày 01 tháng 6 năm 1983 ngày 22 tháng 4 năm 1987, ông từ chức là Ủy viên được ủy quyền của Nữ hoàng vì những lời chỉ trích về mức độ thực hiện của ông và sự hợp tác với Provinciale Staten (Nghị viện tỉnh). Sau khi rời khỏi Bắc Brabant, ông trở thành một nhà ngoại giao cho Cộng đồng châu Âu, đầu tiên làm đại sứ tại Nhật Bản từ ngày 01 Tháng 4 1987 cho đến tháng tư, 1 năm 1989khi ông trở thành đại sứ tại Hoa Kỳ cho đến ngày 01 tháng 4 năm 1995.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Thủ tướng Hà Lan