Du lịch kinh doanh

Du lịch kinh doanh (Business tourism) hay Đi công tác (Business travel) là một phân nhánh của hoạt động du lịch truyền thống thông thường[1][2], nơi mà mục đích chính của chuyến đi là làm việc và thực hiện các nhiệm vụ nghề nghiệp, kinh doanh, công việc. Những hoạt động cung ứng dịch vụ này ngày nay nó có vai trò như một ngành công nghiệp cung cấp các dịch vụ chuyên biệt cho du khách đi vì mục đích công vụ. Trong quá trình du lịch kinh doanh (di chuyển công tác), các cá nhân vẫn đang thực hiện công việc và được chi trả thù lao, thanh toán chi phí công tác, nhưng họ thực hiện điều đó ở một vị trí xa cả nơi làm việc thường xuyên và nơi cư trú.[2] Một số định nghĩa về du lịch loại trừ việc đi công tác[3] vì một chuyến đi công tác thường có lịch trình dày đặc, tập trung tối đa vào việc giải quyết công việc như gặp gỡ đối tác, ký kết hợp đồng, giao dịch, MOU, tiền trạm, khảo sát thực địa hoặc tham gia các buổi đào tạo nội bộ hơn là tâm trí để tham quan, du ngoạn. Tuy nhiên, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) định nghĩa khách du lịch là những người "di chuyển đến và lưu trú tại những địa điểm nằm ngoài môi trường sống thường xuyên của họ trong thời gian không quá một năm liên tục vì mục đích giải trí, kinh doanh và các mục đích khác".[4] Các hoạt động du lịch kinh doanh chính bao gồm hội họp, tham dự các hội thảo và triển lãm.[2] Mặc dù có thuật ngữ "kinh doanh" trong du lịch kinh doanh, nhưng khi các cá nhân từ các cơ quan chính phủ hoặc các tổ chức phi lợi nhuận tham gia vào các hoạt động tương tự, điều này vẫn được phân loại là du lịch kinh doanh (công tác).[2]
Vai trò
[sửa | sửa mã nguồn]Về mặt lịch sử, du lịch kinh doanh diễn ra dưới hình thức di chuyển đến, chi tiêu tiền bạc và lưu trú tại nước ngoài, tạm vắng mặt trong một khoảng thời gian nhất định, và nó có một lịch sử lâu dài tương đương với lịch sử của thương mại quốc tế.[5] Vào cuối thế kỷ XX, du lịch kinh doanh đã được nhìn nhận như một ngành công nghiệp lớn.[6] Theo dữ liệu năm 1998 từ Cơ quan Du lịch Anh và Tổng cục Du lịch London, du lịch kinh doanh chiếm khoảng 14% tổng số tất cả các chuyến đi đến hoặc trong phạm vi Vương quốc Anh, và chiếm 15% thị trường du lịch nội địa Vương quốc Anh.[7] Một ước tính vào năm 2005 cho thấy những con số này đối với Vương quốc Anh có thể tiến gần mức 30%.[8] Sharma (2004) đã dẫn dẫn một ước tính của UNWTO rằng du lịch kinh doanh chiếm khoảng 30% du lịch quốc tế, mặc dù tầm quan trọng của nó thay đổi đáng kể giữa các quốc gia khác nhau.[5]
Đặc điểm
[sửa | sửa mã nguồn]So với du lịch thông thường, du lịch kinh doanh liên quan đến một bộ phận dân cư nhỏ hơn, với những động lực khác nhau và chịu thêm các ràng buộc hạn chế quyền tự do lựa chọn do các khía cạnh công việc áp đặt.[1] Các điểm đến của du lịch kinh doanh có nhiều khả năng là những khu vực được phát triển đáng kể cho mục đích thương mại (các thành phố, khu vực công nghiệp).[1] Một khách du lịch kinh doanh trung bình có mức độ giàu có cao hơn so với một khách du lịch nghỉ dưỡng trung bình và được kỳ vọng sẽ chi tiêu nhiều tiền hơn.[5] Du lịch kinh doanh có thể được chia thành các hoạt động sơ cấp và thứ cấp. Các hoạt động sơ cấp liên quan đến kinh doanh (công việc), bao gồm các hoạt động như tư vấn, kiểm tra và tham dự các cuộc họp. Các hoạt động thứ cấp liên quan đến du lịch (nghỉ dưỡng), bao gồm các hoạt động như ăn uống bên ngoài, giải trí, mua sắm, tham quan, gặp gỡ những người khác cho các hoạt động giải trí, v.v.[3] Trong khi các hoạt động sơ cấp có xu hướng được coi là quan trọng hơn, các hoạt động thứ cấp tuy vậy vẫn thường được mô tả là "đáng kể".[9]
Du lịch kinh doanh có thể bao gồm việc di chuyển của cá nhân hoặc các nhóm nhỏ, và các điểm đến có thể bao gồm các cuộc gặp gỡ từ quy mô nhỏ đến lớn hơn, bao gồm các đại hội và hội thảo, hội chợ thương mại và triển lãm.[1][9] Tại Hoa Kỳ, khoảng một nửa lượng du lịch kinh doanh liên quan đến việc tham dự một loại hình hội họp lớn nào đó.[9] Hầu hết các cơ sở du lịch, chẳng hạn như sân bay, nhà hàng và khách sạn, được chia sẻ giữa khách du lịch nghỉ dưỡng và khách du lịch kinh doanh, mặc dù sự khác biệt về mùa vụ thường biểu hiện rõ rệt (ví dụ, du lịch kinh doanh có thể sử dụng những cơ sở đó trong những thời điểm ít hấp dẫn hơn đối với khách du lịch nghỉ dưỡng, chẳng hạn như khi điều kiện thời tiết không thuận lợi).[2][8]
Du lịch kinh doanh có thể được phân chia thành:
- Đi công tác truyền thống, hoặc hội họp - nhằm mục đích gặp gỡ trực tiếp với các đối tác kinh doanh ở các địa điểm khác nhau.[2][10]
- Các chuyến đi khen thưởng (incentive trips) - một đặc quyền công việc, nhằm mục đích thúc đẩy nhân viên (ví dụ, khoảng một phần ba các công ty tại Vương quốc Anh sử dụng chiến lược này để khích lệ người lao động).[2][6]
- Di chuyển hội nghị và triển lãm - nhằm mục đích tham dự các cuộc họp quy mô lớn. Trong số ước tính khoảng 14.000 hội nghị trên toàn thế giới (năm 1994), các điểm đến chính là Paris, London, Madrid, Geneva, Brussels, Washington, New York, Sydney và Singapore.[2][11]
Các từ hội họp (meetings), khen thưởng (incentive), hội thảo (conferences) và triển lãm (exhibition) trong bối cảnh du lịch kinh doanh được viết tắt là MICE.[2]
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b c d John Lennon (2003). Tourism statistics: international perspectives and current issues. Cengage Learning EMEA. tr. 106. ISBN 978-0-8264-6501-6. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2013.
- ^ a b c d e f g h i Brian Garrod (ngày 12 tháng 10 năm 2012). "Business tourism". Trong Peter Robinson (biên tập). Tourism: The Key Concepts. Routledge. tr. 18–22. ISBN 978-0-415-67792-9. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2013.
- ^ a b John Lennon (2003). Tourism statistics: international perspectives and current issues. Cengage Learning EMEA. tr. 118. ISBN 978-0-8264-6501-6. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2013.
- ^ "UNWTO technical manual: Collection of Tourism Expenditure Statistics" (PDF). World Tourism Organization. 1995. tr. 10. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2009.
- ^ a b c Kishan Kumar Sharma (ngày 1 tháng 1 năm 2004). World Tourism Today. Sarup & Sons. tr. 253. ISBN 978-81-7625-512-7. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2013.
- ^ a b Kishan Kumar Sharma (ngày 1 tháng 1 năm 2004). World Tourism Today. Sarup & Sons. tr. 254. ISBN 978-81-7625-512-7. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2013.
- ^ John Lennon (2003). Tourism statistics: international perspectives and current issues. Cengage Learning EMEA. tr. 107. ISBN 978-0-8264-6501-6. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2013.
- ^ a b Peter Robinson; Sine Heitmann; Peter U. C. Dieke (2011). Research Themes for Tourism. CABI. tr. 132. ISBN 978-1-84593-698-3. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2013.
- ^ a b c karin Weber; K. S. Chon (2002). Convention Tourism: International Research and Industry Perspectives. Psychology Press. tr. 20. ISBN 978-0-7890-1284-5. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2013.
- ^ Kishan Kumar Sharma (ngày 1 tháng 1 năm 2004). World Tourism Today. Sarup & Sons. tr. 256. ISBN 978-81-7625-512-7. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2013.
- ^ Kishan Kumar Sharma (ngày 1 tháng 1 năm 2004). World Tourism Today. Sarup & Sons. tr. 255. ISBN 978-81-7625-512-7. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2013.