Dzũng Chinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
DZŨNG CHINH
(Nhạc sĩ)
Tiểu sử
Tên thật Nguyễn Bá Chính
Sinh 18 tháng 12 năm 1941
Nha Trang, Khánh Hòa
Việt Nam
Mất 1 tháng 3, 1969 (28 tuổi)
Ninh Phước, Ninh Thuận
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Cấp bậc TrungUyQLVNCHlucquan.gif Trung úy (Truy thăng)
Đơn vị SuDoan9.jpg TRĐ 14/SĐ 9 BB[1]
ARVN 23rd Division Insignia.svg TRĐ 44/SĐ 23 BB[2]
Chỉ huy Flag of the South Vietnamese Army.jpg QLVNCH
Công việc khác Nhạc sĩ

Dzũng Chinh (1941-1969), nguyên là một sĩ quan Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ trường Hạ sĩ quan của Quân lực VNCH, ông cũng là một Nhạc sĩ sáng tác nhạc vàng trong Xã hội Miền Nam trước năm 1975. Ông là tác giả bản nhạc Những đồi hoa sim phổ thơ Hữu Loan nổi tiếng ở Miền Nam Việt Nam vào đầu thập niên 1960.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Nguyễn Bá Chính,[3] sinh ngày 18 tháng 12 năm 1941 trong một gia đình trung lưu tại Bình Cang, Nha Trang, Khánh Hòa. Ông đã tốt nghiệp Trung học Đệ nhị cấp tại Nha Trang với văn bằng Tú tài toàn phần. Sau đó học lên Đại học Luật khoa ở Sài Gòn. Cũng trong thời kỳ này ông đã sáng tác bản nhạc Những đồi hoa sim. Vào thời điểm năm 1961-1962 bài hát này nổi tiếng với tiếng hát của nữ ca sĩ Phương Dung (được khán giả đương thời ưu ái gọi là "Con nhạn trắng Gò Công").

Phục vụ Quân đội và sáng tác nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1965, ông nhập ngũ vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Mặc dù có bằng Tú tài II, nhưng do trình diện nhập ngũ quá hạn tuổi quân dịch,[4] ông bị chế tài không được vào trường Sĩ quan nên phải theo học khóa Hạ sĩ quan Trừ bị tại trường Hạ sĩ quan Đồng Đế, Nha Trang. Sáu tháng sau tốt nghiệp với cấp bậc Trung sĩ. Ra trường, ông được điều động về Trung đoàn 14 đồn trú tại Vĩnh Bình (Trà Vinh) thuộc Sư đoàn 9 Bộ binh[5] do Đại tá Lâm Quang Thi làm Tư lệnh.

Thời gian này, Nhạc sĩ Trúc Phương viết bài Để trả lời một câu hỏi tặng ông:

Sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1966, vì có trình độ học vấn cao ông được cử đi học khóa Sĩ quan Đặc biệt tại Nha Trang (một lần nữa, ông lại được về học ở Quân trường Đồng Đế). Giữa năm 1967 ông tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy trừ bị. Ra trường, để được gần nguyên quán, ông xin về phục vụ tại Trung đoàn 44 đang trú đóng tại Sông Mao, Hải Ninh, Bình Thuận thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh đặt bản doanh ở Ban Mê Thuột do Đại tá Trương Quang Ân làm Tư lệnh. Ông được cử làm Trung đội trưởng Trung đội tác chiến thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 2 (thời điểm này Đại đội trưởng là Trung úy Nguyễn Văn Chánh và Tiểu đoàn trưởng là Đại úy Ngô Văn Xuân).[6] Giữa năm 1968, ông được thăng cấp Thiếu úy. Sau đó, Trung đoàn biết ông là một nhạc sĩ, nên bố trí cho ông về phục vụ ở Khối Chiến tranh Chính trị của Bộ chỉ huy Trung đoàn. Sau vì ông hay "dù" (xuất trại không có phép) về Phan Thiết để chơi với bạn bè, nên bị kỷ luật trả về Trung đội tác chiến.

Giã từ vũ khí và âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Đêm ngày cuối tháng 2 năm 1969, Trung đội ông có nhiệm vụ chốt ở chân núi Chà Bang, Ninh Phước, đụng độ với một toán địch quân. Trong khi giao tranh, ông bị trúng đạn trọng thương. Ngay sau đó, ông được trực thăng của Mỹ tải thương về Quân y viện Phan Thiết nhưng vì vết thương quá nặng nên ông đã từ trần vào ngày 1 tháng 3 năm 1969 hưởng dương 28 tuổi. Ông được truy thăng cấp bậc Trung úy và được đưa về quê quán ở Nha Trang an táng.

Người bạn của ông là nhạc sĩ Thanh Sơn nghe tin bạn mình mất có viết bài hát Đọc tin trên báo, thâu vào đĩa nhựa Thiên Thai 45 do Trúc Ly ca.

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Những đồi hoa sim (thơ Hữu Loan)
  • Hai màu hoa (Dzũng Chinh - Bùi Tuấn Anh)
  • Tha La xóm đạo (thơ Vũ Anh Khanh)
  • Đêm dài chưa muốn sáng
  • Lời tạ từ
  • Hoa trắng tình yêu

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trung đoàn 14 thuộc Sư đoàn 9 Bộ binh.
  2. ^ Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh.
  3. ^ Một số tài liệu ghi là Nguyễn Văn Chính.
  4. ^ Vào giai đoạn này, quy định hạn tuổi của thanh niên thi hành quân dịch là tuổi 21. Nếu quá hạn sẽ bị mất quyền ưu tiên và bị chế tài, ngoại trừ trường hợp được hoãn dịch có lý do theo luật định hiện hành.
  5. ^ Bản doanh Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh đặt tại Thị xã Sa Đéc.
  6. ^ Đại úy Ngô Văn Xuân, sinh năm 1940 tại Hải Phòng. Tốt nghiệp Võ bị Quốc gia Đà Lạt K17. Từng là Trung úy Đại đội trưởng Đại đội Trinh sát của Trung đoàn 11 thuộc Sư đoàn 7 Bộ binh, Đại úy rồi Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh. Sau cùng là Trung tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 44.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]