EMC Corporation

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
EMC Corporation
Loại hình
Công ty đại chúng (NYSEEMC)
Ngành nghề Quản lý thông tin (phần cứng và phần mềm)
Thành lập 1979
Trụ sở chính Hopkinton, Massachusetts, USA
Số lượng trụ sở
>100
Nhân viên chủ chốt
Joseph M. Tucci, Chairman & CEO
Sản phẩm Symmetrix, CLARiiON, NetWorker, Avamar, Documentum, Captiva Software, Centera, Celerra, Connectrix, ControlCenter, VMware, Rainfinity, PowerPath, Retrospect, SRDF, RecoverPoint, DiskXtender, EmailXtender, EMC Autostart, EMC Smarts
Doanh thu Bản mẫu:Lợi nhuận$11.16 billion USD (2006)
Số nhân viên
31.000
Website www.emc.com

Công ty EMC (Mã chứng khoán tại NYSE: EMC) là nhà sản xuất phần mềm và phần cứng về quản lý thông tin và lưu trữ dữ liệu số thuộc danh sánh Fortune 500 và S&P 500. Trụ sở chính đặt tại Hopkinton, Massachusetts, USA. EMC sản xuất một dải rộng các sản phẩm lưu trữ quy mô doanh nghiệp bao gồm các dãy đĩa lưu trữ phần cứng và phần mềm quản lý lưu trữ. Dòng sản phẩm chủ đọa, Symmetrix, là nền tảng của hệ thống mạng lưu trữ trong nhiều trung tâm dữ liệu lớn. Dòng sản phẩm CLARRiiOn có được thông qua việc EMC mua lại công ty Data General vào năm 1999.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

EMC được sáng lập vào năm 1979. Những người sáng lập bao gồm Richard (Dick) Egan và Roger Marino, được viết tắt thành chữ E và M trong tên công ty. (Ban đầu, EMC không sử dụng biểu tượng EMC² để ám chỉ công thức nổi tiếng của Einsteinn, E=mc². Chữ C đầu tiên là viết tắt của người sáng lập thứ ba nhưng đã rời công ty trước khi công ty được thành lập và chữ C cuối cùng viết tắt của chữ Corporation (công ty). Tiền thân là một công ty sản xuất bảng mạch bộ nhớ, EMC mở rộng lĩnh vực ra khỏi lĩnh vực bộ nhớ và sang các hệ thống đĩa cứng. Với các thành tựu của Moshe Yanai (hiện đang làm việc cho XIV Storage), EMC vươn lên trở thành công ty hàng đầu với các nền tảng lưu trữ lớn và cách tân. Joseph Tucci trở thành Giám đốc điều hành năm 2001, thay thế Michael Ruettgers người vẫn giữ cương vị chủ tịch cho tới năm 2006.

Trong lĩnh vực lưu trữ, đối thủ cạnh tranh chính của EMC là IBM, Network Applicance, Hewlett-Packard, Hitachi Data Systems là một đối thủ mới nổi. EMC đã chuyển đổi từ một công ty đơn thuần sản xuất phần cứng thành một công ty cung cấp hỗn hợp phần cứng, phần mềm và dịch vụ chuyên nghiệp. Một động lực lớn cho tương lai của công ty đến từ các giải pháp ảo hóa gồm VMware, Invista và Rainfinity.

Nam 2006, EMC khai trương Văn phòng Nghiên cứu và Phát triển tại Thượng Hải, Trung quốc để tận dụng nguồn lao động dồi dào của nước này và hỗ trợ việc mở rộng thị phần tại quốc gia này.

Ngày 7 tháng 7 năm 2007, EMC tuyên bố sẽ đầu tư 160 triệu Đô la Mỹ vào Singapore để thiết lập phòng thí nghiệm phát triển rộng khoảng 1400 m² và sẽ bắt đầu đi vào hoạt động trong năm 2007. Ông Nair Predeep đã được bổ nhiệm làm giám đốc trung tâm thí nghiệm phát triển này.

Một chuỗi các thương vụ mua bán và hợp tác đối tác đã giúp đưa EMC trở thành nhà cung cấp lớn nhất về các nền tảng lưu trữ trên thế giới. Mới nhất, vào ngày 12 tháng 11 năm 2007, EMC hợp tác với NetQoS để cung cấp các giải pháp về phát hiện hạ tầng và theo dõi hiệu suất tích hợp.

Ngày 12 tháng 10 năm 2015, Dell Inc chính thức mua lại EMC với giá 67 tỉ đô la[1], thương vụ này trở thành thương vụ lớn nhất lịch sử ngành công nghệ.

Các thương vụ mua công ty khác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2002, EMC mua lại công ty Prisa Networks để có được dòng sản phẩm Quản trị mạng lưu trữ và Quản trị tài nguyên lưu trữ (tương đương với các sản phẩm VisualSAN và VisualSRM). Tiền thân là công ty phần cứng, năm 2003, EMC đa dạng hóa thành công ty mà phần mềm và dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn hơn. Bắt đầu từ khi giám đốc điều hành mới Joe Tucci nhậm chức năm 2001, EMC mua lại công ty Legato System Inc với giá 1.3 tỷ đô la Mỹ vào tháng 7 và tiếp theo là mua công ty Documentum, một nhà cung cấp phần mềm quản trị nội dung doanh nghiệp cho các công ty toàn cầu vào tháng 10, và VMWare vào tháng 12. Tiếp theo đà này, EMc tuyên bố mua lại công ty phần mềm quản lý mạng System Management Arts Inc (còn được gọi là SMARTS). Gần đây, EMC cũng hoạt động mạnh trong lĩnh vực Quản lý Vòng đời Thông tin (ILM) và đã bổ sung thêm các sản phẩm phần cứng bảo mật bao gồm Giải pháp Quản trị Phân tích Bảo mật.Thương vụ mua lại công ty Rainfinity vào tháng 8 năm 2005 mở rộng thêm các sản phẩm về ảo hóa hiện có của công ty và nhắm vào Ảo hóa Hệ thống Tập tin.

Thông qua việc mua một công ty của Bỉ tên là FilePool, EMC phát triển thành sản phẩm lưu trữ dữ liệu lâu dài tên là Centera. Phần cứng chuyên dụng để lưu trữ nội dụng này đáp ứng yêu cầu cụ thể về lưu trữ dữ liệu lâu dài trong Quản lý vòng đời thông tin trong các môi trường thay đổi nhanh chóng về công nghệ.

Ngày 29 tháng 6 năm 2006, EMC tuyên bố là sẽ mua lại công ty Bảo mật RSA. Thương vụ này đã hoàn tất và RSA hiện giờ là Bộ phận Bảo mật thông tin của EMC.

Ngày 12 tháng 7 năm 2007, EMc mua lại công ty X-Hive, một công ty dẫn đầu về công nghệ XML có trụ sở tại Rotterdam, Hà Lan. X-Hive nổi tiếng về cung cấp ccacs sản phẩm dựa trên XML với quy mô doanh nghiệp cho các ngành công nghiệp hàng không và xuất bản. Đây là một bằng chứng cho sự cam kết của EMC đối với thế hệ mới về quản lý thông tin và XML. X-Hive, với các sản phẩm và kiến thức về XML trên nền Java được kỳ vọng là sẽ có vị trí nổi bật trong các giải pháp phần mềm của EMC thông qua tích hợp XML vào Documentum để hình thành sản phẩm hạ tầng EMC của chính EMC.[1] -- từ thư viện XML, đánh chỉ số và tìm kiếm tới quản lý nội dung cấu phần và ứng dụng XML trong toàn bộ sản phẩm quản lý nội dung doanh nghiệp của EMC, cho phép các công ty thuộc các quy mô thay đổi phương thức khai thác giá trị thông tin của họ. Sau khi thương vụ hoàn tất, X-Hive sẽ trở thianhf tích hợp hoàn toàn vào Bộ phận kinh doanh Quản lý thông tin và lưu trữ lâu dài của EMC(CMA)[2]

Các giải pháp hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại EMC được coi là nhà cung cấp giải pháp quản lý vòng đời thông tin lớn nhất về doanh thu, khách hàng và số lượng sản phẩm và giải pháp. Cụ thể giải pháp của EMC được chia thành các nhóm sau:

Lưu trữ: Các giải pháp phần cứng lưu trữ sử dụng các công nghệ hiện có như SAN, NAS, CAS, Virtual Tape với các quy mô cực lớn (high-end), quy mô doanh nghiệp (mid-tier) và quy mô nhỏ (low-end). Một số tên sản phẩm bao gồm: Symmetrix DMX(II, III, IV), CLARiiON CX4-120/240/480, Cellera NS series, Centera, EMC Disk Library.

Bảo vệ: Các giải pháp bao vệ dữ liệu thông qua các công nghệ khác nhau như: sao lưu dự phòng/phục hồi, lưu trữ dữ liệu lâu dài, nhân bản dữ liệu phục hồi thảm họa. Các giải pháp này cũng có các quy mô và mức dịch vụ khác nhau mang lại lựa chọn cho khách hàng về đầu tư, mục tiêu thời gian phục hồi (RTO) và mục thời điểm phục hồi (RPO).Một số sản phẩm nổi tiếng bao gồm: Networker-sao lưu dự phòng, Replistor-nhân bản dữ liệu trên Windows, Avamar- giảm trùng lặp dữ liệu, SRDF-nhân bản dữ liệu cho phục hồi thảm họa, RecoverPoint-bảo vệ liên tục (CDP) và nhân bản ra xa liên tục (CRR).

Tối ưu: Các giải pháp cho phép sử dụng tốt hơn các đầu tư hiện có thông qua việc cung cấp các công cụ hỗ trợ quản trị. Một số giải pháp nổi tiếng gồm: Quản trị tài nguyên lưu trữ - EMC ControlCenter, Ảo hóa SAN, NAS, máy chủ-Invista, Rainfinity và VMWare, quản trị mang-SMARTS.

Khai thác: Các giải pháp cho phép khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá nhất của doanh nghiệp-thông tin. Giải pháp nổi tiếng gồm: Quản trị nội dung doanh nghiệp - Documentum, giải pháp số hóa tài liệu - Captiva

EMC tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

EMC đã tham gia vào thị trường Việt Nam từ cuối năm 2003 và đầu năm 2004 thông qua việc hợp tác với công ty InformationVN (tên cũ là StorageVN). EMC được thừa nhận là có đóng góp lớn vào phát triển nhận thức và thói quen tiêu dùng đối với các dòng sản phẩm lưu trữ, bảo vệ dữ liệu và nhân bản dữ liệu phục hôi thảm họa. Các khách hàng tại Việt Nam hiện tại thuộc nhiều lĩnh vực như Ngân hàng, bảo hiểm, công ty tài chính, Viễn thông, Chính phủ, Giáo dục, Y tế v.v

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]