Eastern Counties Football League

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Eastern Counties Football League
Tập tin:Ecfl.jpg
Quốc gia  Anh
Thành lập 1935
Các hạng đấu Premier Division (1935–nay)
Division One (1988–nay)
Số đội 39
20 (Premier Division)
19 (Division One)
Vị trí
trong hệ thống
Cấp độ 9–10
Cung cấp đội cho Isthmian League Division One North
Hạng dưới Anglian Combination
Cambridgeshire League
Essex & Suffolk Border League
Suffolk & Ipswich League
Cúp quốc gia League Cup
First Division Cup
Đương kim vô địch Norwich United (Premier Division)
Long Melford (Division One)
(2014–15)
Website thurlownunnleague.co.uk
2015–16 season
Vùng bao phủ bởi Eastern Counties League được tô màu kem.

Eastern Counties Football League, hiện tại có tên là Thurlow Nunn League vì lý do tài trợ, là một giải đấu bóng đá Anh nằm ở cấp độ 9 và 10 của Hệ thống các giải bóng đá ở Anh. Hiện tại giải đấu bao gồm các câu lạc bộ ở Norfolk, Suffolk, Bắc Essex và Đông Cambridgeshire, là giải đấu góp đội cho Division One North của Isthmian League.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sự thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Trong phần đầu của thế kỉ 20, có rất nhiều giải đấu bao phủ East Anglia, gồm Norfolk & Suffolk League, East Anglian League, Essex & Suffolk Border LeagueIpswich & District League, trong khi một số đội bóng lớn hơn (gồm Ipswich TownCambridge Town) chơi ở Southern Amateur League. Có nhiều đề nghị thành lập một giải đấu bao phủ cả khu vực từ đầu thập niên 1900, và ngày càng tăng lên sau khi Norwich City lên chơi ở Division Two của Football League năm 1934 và chứng kiến số lượng khán giả tăng đáng kể.[1] Trong mùa giải 1934–35 có động thái mạnh ở HarwichIpswich về sự thành lập giải đấu và sau khi vận động, 'Meeting of Representatives of East Anglian Football Clubs' được tổ chức tại Picture House ở Ipswich ngày 17 tháng 2 năm 1935.[1] 10 đội tham gia là Cambridge Town, Harwich & Parkeston và Ipswich Town từ SAL, Colchester TownCrittall Athletic từ Spartan League, và Gorleston, Great Yarmouth Town, King's Lynn, Lowestoft Town, Norwich CEYMS từ Norfolk & Suffolk League. Mặc dù Cambridge Town và Norwich CEYMS sau đó quyết định phản đối tham gia, 4 đội bóng khác được thêm vào là Bury Town, Thetford Town từ Norfolk & Suffolk League, Chelmsford City từ London LeagueClacton Town từ Ipswich & District League.

Những năm đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải đầu tiên khởi tranh vào ngày 31 tháng 8 năm 1935 và kết thúc với việc Harwich và Lowestoft đứng đầu, mỗi điểm 26 điểm. Mặc dù Lowestoft có số bàn thắng trung bình tốt hơn, chức vô địch vẫn được quyết định bằng trận play-off ở Layer Road ngày 29 tháng 8 năm 1936. Trận đấu kết thúc với trận hòa 3–3 và hai đội là đồng vô địch, mỗi đội được phép giữ cúp trong vòng 6 tháng.[1] Cuối mùa giải đầu tiên, Ipswich rút lui để tham gia Southern League và được thay thế bằng đội Dự bị của họ.

Cuối mùa giải 1936–37, xuất hiện nhiều lo ngại về sự tồn tại của giải đấu. Cả năm đội ở Essex gia nhập Essex County League, trong khi Thetford rời giải sau khi đứng cuối bảng, chỉ còn lại 6 câu lạc bộ. Tuy nhiên, 4 đội bóng mới (Colchester United Dự bị, Cromer, Newmarket Town và Norwich CEYMS) tham gia. Mùa giải sau đó, giải đấu mở rộng thành 13 câu lạc bộ khi có thêm 2 đội ở Essex gia nhập lại (Essex County League bị thất bại khi chỉ có 5 đội tham gia và không được tiếp tục).[1]

Mùa giải 1939–40 khởi tranh từ 26 tháng 8, nhưng bị hủy bỏ sau khi Thế chiến thứ II bùng nổ. Khi chiến tranh kết thúc vào tháng 5 năm 1945, một cuộc họp được tổ chức vào cuối tháng 6 để xem xét giải đấu có được bắt đầu lại hay không. Tuy nhiên, một cuộc họp nữa vào ngày 28 tháng 7 quyết định rằng do có quá ít câu lạc bộ quyết định tiếp tục thi đấu bóng đá khi có nhiều đội không thể nhận cầu thủ và một số sân vận động bị các lực lượng vũ trang kiểm soát. Cuối cùng giải đấu tiếp tục từ mùa giải 1946–47 với 10 đội tham gia.

Sự phát triển sau này[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi mùa giải 1948–49 bắt đầu, giải đấu mở rộng thành 16 clubs, hầu hết là các đội 'A' của 4 đội bóng London là Arsenal, Chelsea, Tottenham HotspurWest Ham United. Mùa giải sau đó Gillingham Dự bị tham gia, trở thành câu lạc bộ từ vùng Kent đầu tiên thi đấu ở giải, (Dartford cũng đăng ký tham gia, nhưng bị từ chối).[1] Năm 1951, giải đấu có thêm 1 đội bóng ở CambridgeshireCambridge United, và ở mùa giải 1955–56, giải đấu có đến 20 câu lạc bộ, trong đó có 5 đội là đội Dự bị hoặc đội 'A'. Mặc dù năm 1964, có một số đội bóng rời giải khiến giải đấu chỉ còn 14 đội, số đội bóng lại tăng lên nhanh chóng và trở lại thành 18 đội hai năm sau đó. Năm 1976, giải đấu đổi tên thành Eastern League, nhưng 6 năm sau lại đổi về tên gốc. Giải đấu là một trong những giải đầu tiên được tài trợ bởi công ty ngoài khi mà, cuối thập niên 1970, nó được tài trợ bởi xã hội công trình địa phương Magnet and Planet, và Town and Country.[2] Gần đây, giải đấu được hỗ trợ bởi công ty cung cấp công trình Jewson, Ridgeons, và hiện tại là nhà tài trợ Thurlow Nunn.

Mở rộng thành hai hạng đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều cuộc bàn luân về việc thêm vào một hạng đấu thứ hai kể từ khi giải đầu thành lập, năm 1983 nó có vẻ đã trở thành sự thật. Tuy nhiên, sau đó bị hoãn lại bởi the Football Association với đề nghị của Essex Senior League. Ý tưởng này lại được tạo dựng nên ở mùa giải 1987–88 và một cuộc họp được tổ chức vào ngày 22 tháng 11 năm 1987. Giải đấu liên hệ với 21 câu lạc bộ tiềm năng, trong đó có 15 đội mong muốn tham gia. 4 đội tiếp theo được liên hệ và thêm đội bóng (Long Sutton Athletic) muốn biết thêm chi tiết. Cuối cùng 14 câu lạc bộ đồng ý tham gia giải đấu; 8 đội từ Peterborough & District League là (Downham Town, Huntingdon United, King's Lynn Dự bị, Ortonians, Somersham Town, Warboys TownYaxleyParson Drove năm đó cũng đăng ký, nhưng bị từ chối), 3 đội từ Anglian Combination là (Diss Town, Fakenham Town, Wroxham) và 3 đội từ Essex & Suffolk Border League (Bury Town Dự bị, Hatfield Peverel and Little Oakley). Tất cả đều được chấp thuận trừ Hatfield Peveral và Little Oakley, vì họ có sân đấu không phù hợp, trong khi Ortonians sau đó rút lui khi gặp khó khăn trong việc đưa đội Dự bị và đội 'A' của họ vào Peterborough & District League. Mildenhall Town từ Cambridgeshire LeagueIpswich Wanderers từ Ipswich Sunday League sau đó được mời tham gia, trong khi Halstead Town được thuyết phục để chuyển từ Essex Senior League sau sự rút lui của Ortonian, cho phép hạng đấu mới Division One gồm 14 câu lạc bộ khởi tranh từ mùa giải 1988–89.

Các Câu lạc bộ hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Premier Division

Division One

Các Câu lạc bộ cũ[sửa | sửa mã nguồn]

66 câu lạc bộ từng chơi ở Eastern Counties League, gồm nhiều đội Dự bị và đội 'A'. Giới hạn địa lý của giải đấu trước đây kéo dài từ GillinghamKent về phía Nam đến BostonLincolnshire về phía Bắc và EynesburyCambridgeshire về phía Đông. Những năm 1940 và 1950 có đến 4 đội 'A' đến từ London.

¹ Lên thi đấu ở Isthmian League hoạc Southern League

² Rút khỏi giải đấu

³ Chuyển sang giải đấu khác cùng cấp độ

4 Được thay thế bởi đội hình chính

5 Hợp nhất để tạo thành đội bóng mới

6 Không trở lại sau Thế chiến thứ II

Các đội bóng từ chối[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi thành lập năm 1935 và theo cơ cấu lên xuống hạng giữa ECL và các giải đấu góp đội năm 1983, nhiều câu lạc bộ đăng ký tham gia Eastern Counties League nhưng bị từ chối, hoặc được giải đấu mời nhưng lại từ chối. Các đội bóng bao gồm:[3]

Nhà vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà vô địch của giải đấu như sau:[4]

Mùa giải Premier Division Division One League Cup
1935–36 Harwich & Parkeston/Lowestoft Town (joint) Harwich & Parkeston
1936–37 Crittall Athletic Harwich & Parkeston
1937–38 Lowestoft Town Great Yarmouth Town
1938–39 Colchester United Dự bị Lowestoft Town
1939–46 No competition due to World War II
1946–47 Chelmsford City Dự bị Colchester United Dự bị
1947–48 Chelmsford City Dự bị Colchester United Dự bị
1948–49 Chelmsford City Dự bị Tottenham Hotspur 'A'
1949–50 Tottenham Hotspur 'A' Chelsea 'A'
1950–51 Gillingham Dự bị Wisbech Town
1951–52 Gillingham Dự bị Gillingham Dự bị
1952–53 Gorleston Colchester United Dự bị
1953–54 King's Lynn King's Lynn
1954–55 Arsenal 'A' Lowestoft Town
1955–56 Peterborough United Dự bị Gorleston
1956–57 Colchester United Dự bị Peterborough United Dự bị
1957–58 Tottenham Hotspur 'A' Colchester United Dự bị
1958–59 Colchester United Dự bị Tottenham Hotspur 'A'
1959–60 Tottenham Hotspur 'A' Chelmsford City Dự bị
1960–61 Tottenham Hotspur 'A' March Town United
1961–62 Tottenham Hotspur 'A' Bury Town
1962–63 Lowestoft Town Abandoned due to severe weather
1963–64 Bury Town Bury Town
1964–65 Lowestoft Town Haverhill Rovers
1965–66 Lowestoft Town Lowestoft Town
1966–67 Lowestoft Town Lowestoft Town
1967–68 Lowestoft Town Chatteris Town
1968–69 Great Yarmouth Town Lowestoft Town
1969–70 Lowestoft Town Sudbury Town
1970–71 Lowestoft Town Wisbech Town
1971–72 Wisbech Town Wisbech Town
1972–73 Gorleston Hertford Town
1973–74 Sudbury Town Clacton Town
1974–75 Sudbury Town Great Yarmouth Town
1975–76 Sudbury Town Lowestoft Town
1976–77 Wisbech Town Sudbury Town
1977–78 Lowestoft Town Lowestoft Town
1978–79 Haverhill Rovers Cambridge City Dự bị
1979–80 Gorleston Ely City
1980–81 Gorleston Great Yarmouth Town
1981–82 Tiptree United Tiptree United
1982–83 Saffron Walden Town Sudbury Town
1983–84 Braintree Town Lowestoft Town
1984–85 Braintree Town Tiptree United
1985–86 Sudbury Town Tiptree United
1986–87 Sudbury Town Sudbury Town
1987–88 March Town United Braintree Town
1988–89 Sudbury Town Wroxham Sudbury Town
1989–90 Sudbury Town Cornard United Sudbury Town
1990–91 Wisbech Town Norwich United Histon
1991–92 Wroxham Diss Town Norwich United
1992–93 Wroxham Sudbury Wanderers Wroxham
1993–94 Wroxham Hadleigh United Woodbridge Town
1994–95 Halstead Town Clacton Town Wisbech Town
1995–96 Halstead Town Gorleston Halstead Town
1996–97 Wroxham Ely City Harwich & Parkeston
1997–98 Wroxham Ipswich Wanderers Woodbridge Town
1998–99 Wroxham Clacton Town Sudbury Wanderers
1999-00 Histon Tiptree United Wroxham
2000–01 AFC Sudbury Swaffham Town Lowestoft Town
2001–02 AFC Sudbury Norwich United Clacton Town
2002–03 AFC Sudbury Halstead Town Wroxham
2003–04 AFC Sudbury Cambridge City Dự bị Maldon Town
2004–05 AFC Sudbury Ipswich Wanderers Halstead Town
2005–06 Lowestoft Town Stanway Rovers AFC Sudbury
2006–07 Wroxham Walsham-le-Willows Lowestoft Town
2007–08 Soham Town Rangers Tiptree United Needham Market
2008–09 Lowestoft Town Newmarket Town Leiston
2009–10 Needham Market Great Yarmouth Town Needham Market
2010–11 Leiston Gorleston Wisbech Town
2011–12 Wroxham Godmanchester Rovers Stanway Rovers
2012–13 Dereham Town Cambridge University Press Wisbech Town
2013–14 Hadleigh United Whitton United Newmarket Town
2014–15 Norwich United Long Melford Norwich United

Kỉ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tham gia lâu nhất: Great Yarmouth Town – 1935 (thành viên sáng lập) đến nay[3]
  • Số khán giả tới xem nhiều nhất: 8,387 của King's Lynn đấu với Wisbech Town, 12 tháng 9 năm 1951[3]

Trận đấu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ít trận thua trong một mùa giải nhất: Chelmsford City Dự bị – bất bại ở mùa giải 1946–47[3]
  • Nhiều trận thắng trong một mùa giải nhất
    • Wroxham – thắng 34 trong 44 trận ở mùa giải 1996–97
    • Chelmsford City Dự bị – thắng 16 trong 18 trận ở mùa giải 1946–47 (tỉ lệ thắng 89%)[3]
  • Ít trận thắng trong một mùa giải nhất: không thắng trận nào, Thetford Town (1936–37), Newmarket Town (1951–52), Eynesbury Rovers (1960–61), Chatteris Town (1989–90), Clacton Town (2005–06)[3]
  • Nhiều trận thua trong một mùa giải nhất
    • Newmarket Town – thua cả 34 trận ở mùa giải 1951–52[3]
    • Clacton Town – thua 41 trong 42 trận ở mùa giải 2005–06[3]
  • Nhiều trận hòa trong một mùa giải nhất: Watton United – hòa 19 trong 40 trận ở mùa giải 1989–90[3]
  • Trận thắng đậm nhất: Lowestoft Town 19–0 Thetford Town, ngày 20 tháng 3 năm 1937[3]
  • Trận thắng đậm nhất trên sân khách: Newmarket Town 0–12 Biggleswade Town, ngày 2 tháng 12 năm 1961[3]
  • Chuỗi trận thắng dài nhất: 19 trận của Lowestoft Town từ 21 tháng 10 năm 1967 đến 13 tháng 4 năm 1968[3]
  • Nhiều trận thắng từ đầu mùa giải nhất: 18 trận của Bury Town ở mùa giải 1963–64[3]
  • Chuỗi trận bất bại dài nhất: 37 trận của Wisbech Town từ 30 tháng 4 năm 1983 đến 20 tháng 4 năm 1984[3]
  • Chuỗi trận bất bại dài nhất từ đầu mùa giải: 34 trận của Wisbech Town ở mùa giải 1983–84[3]
  • Chuỗi trận thua dài nhất: 39 trận của Newmarket Town từ năm 1951 đến năm 1959 (họ bỏ giải năm 1952 và trở lại năm 1959)[3]
  • Nhiều trận không thắng nhất: 45 trận của Newmarket Town từ năm 1951 đến năm 1959[3]

Bàn thắng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ghi nhiều bàn thắng trong một mùa giải nhất
    • Lowestoft Town ghi 157 bàn trong 34 trận ở mùa giải 1966–67 (4.62 bàn/trận)[3]
    • Chelmsford City Dự bị ghi 95 bàn trong 18 trận ở mùa giải 1946–47 (5.28 bàn/trận)[3]
  • Thủng lưới ít bàn nhất một mùa giải: Norwich United – 19 bàn trong 36 trận (1990–91)[3]
  • Ghi ít bàn thắng trong một mùa giải nhất
    • Thetford Town – 18 bàn trong 19 trận (1936–37), Haverhill Rovers – 18 bàn trong 36 trận (1975–76), March Town United – 18 bàn trong 32 trận (2000–01), Warboys Town – 18 bàn trong 36 trận (2002–03)[3]
    • Clacton Town – 20 bàn trong 42 trận ở mùa giải 2005–06[3]
  • Thủng lưới nhiều bàn nhất: Chatteris Town – 208 bàn trong 40 trận ở mùa giải 1989–90[3]
  • Ghi nhiều bàn trong một mùa giải nhất: 57 trong 30 trận của Mick Tooley (Lowestoft Town) ở mùa giải 1965–66[3]
  • Ghi nhiều bàn thắng trong một trận đấu nhất: 9 bàn do Ivan Thacker của Lowestoft Town trong trận thắng 16–0 trước Bury Town ngày 28 tháng 12 năm 1935[3]
  • Chuỗi ghi bàn liên tiếp trong các trận dài nhất: 18 bàn của Mick Tooley (Lowestoft Town) ở mùa giải 1965–66[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Blakeman, M (2010) The official history of the Eastern Counties Football League 1935–2010 Volume I ISBN 978-1-ngày 95 tháng 1 năm 8037
  2. ^ Williams, Tony (1978). The FA Non-League Football Annual 1978–79. MacDonald and Jane's Publishers Ltd. tr. 212. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư Blakeman, M (2010) The official history of the Eastern Counties Football League 1935–2010 Volume II ISBN 978-1-ngày 92 tháng 2 năm 8037
  4. ^ England – Eastern Counties League RSSSF

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Football in England table cells