Bước tới nội dung

Edmund Roberts

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Edmund Roberts
Sinh29 tháng 6 năm 1784
Portsmouth, New Hampshire
Mất12 tháng 6 năm 1836 (51 tuổi)
Ma Cao
Nghề nghiệpThương gia; Đặc phái viên
Nổi tiếng vìHiệp ước Thân hữu và Thương mại Xiêm-Mỹ
Hiệp ước Oman 1834
Tác phẩm nổi bậtEmbassy to the Eastern Courts of Cochin-China, Siam, and Muscat... (xuất bản sau khi mất)
Phối ngẫuCatherine Whipple Langdon
Con cái11

Edmund Roberts (29 tháng 6 năm 1784 – 12 tháng 6 năm 1836) là một nhà ngoại giao người Mỹ. Ông được Tổng thống Andrew Jackson bổ nhiệm làm đặc phái viên đầu tiên của Hoa Kỳ tại Viễn Đông. Trong giai đoạn từ năm 1832 đến 1836, ông tham gia các phái đoàn ngoại giao không thường trú tới Việt Nam (lúc đó gọi là Cochinchina), Thái Lan (lúc đó gọi là Siam), và Muscat và Oman.

Roberts đã ký kết hiệp ước với Thái Lan[1] và với Said bin Sultan, Quốc vương Muscat và Oman,[2] các hiệp ước này được phê chuẩn tại Washington, D.C. ngày 30 tháng 6 năm 1834. Năm 1836, ông quay trở lại để trao đổi việc phê chuẩn với Oman và Thái Lan. Ông cũng tiến hành nỗ lực ngoại giao lần thứ hai nhằm đàm phán với triều đình nhà Nguyễn thời Minh Mạng ở Việt Nam (bấy giờ phương Tây gọi là Cochinchina).[3]

Trong chuyến đi này, ông mắc bệnh kiết lị nặng và qua đời tại Macau, thuộc địa của Đế quốc Bồ Đào Nha. Do đó, ông không thể trở thành đặc phái viên đầu tiên của Hoa Kỳ tại triều đình Edo (Nhật Bản).[3][4]

Cuộc đời

[sửa | sửa mã nguồn]

Roberts sinh ngày 29 tháng 6 năm 1784, mẹ là Sarah Griffiths, sống ở Portsmouth, New Hampshire; cha là Thuyền trưởng Hải quân Hoàng gia Anh Edmund Roberts,[3] mất ngày 15 tháng 11 năm 1787 và được an táng tại Nghĩa trang North Cemetery.[3] Khi 13 tuổi, Edmund được một nghị sĩ giúp đỡ để vào làm việc trong các cơ sở của Hải quân Hoa Kỳ, nhưng ông từ chối để ở nhà theo mong muốn của mẹ. Sau đó, Roberts sang cư trú tại Luân Đôn, Anh cho đến năm 24 tuổi. Ông trở về Mỹ năm 1808 và kết hôn với Catherine Whipple Langdon — con gái của Thẩm phán Woodbury Langdon và cháu gái của Thống đốc John Langdon.[3] Cả hai tham gia vào hải trình thương mại tam giác New England giữa Portsmouth, Caribbean và Luân Đôn, trở thành những công dân giàu có và có ảnh hưởng tại Portsmouth. Trong số 11 người con, 8 người còn sống trước khi cha mẹ qua đời.[3]

Cuộc sống tại New Hampshire

[sửa | sửa mã nguồn]

Tại New Hampshire, gần Nhà máy đóng tàu hải quân Portsmouth ở Maine (cách bờ biển khoảng 16 dặm (26 km)), có ghi nhận dấu ấn hoạt động của Roberts trong thời gian ông làm việc tại đây.[3]

Thương gia Roberts

[sửa | sửa mã nguồn]

Roberts tham gia vào hải trình thương mại tam giác ở New England với tư cách là chủ tàu và chủ hàng, nhưng ông không bao giờ giữ chức thuyền trưởng.

Robert Hopkins Miller cho rằng Roberts đã mất phần lớn tài sản qua nhiều biến cố, nhưng có cơ hội vào năm 1823 khi được bổ nhiệm làm Lãnh sự Hoa Kỳ tại Demerara (nay thuộc Guyana). Tuy nhiên, Miller nhầm lẫn khi cho rằng Demerara ở bờ biển Đông Phi (thực tế ở Nam Mỹ) và bỏ qua cuộc nổi dậy Demerara năm 1823.[5]

"Cuộc nổi dậy năm 1823 có một ý nghĩa đặc biệt... [trong đó nó] đã thu hút sự chú ý ở Anh và trong Quốc hội về sự tàn khốc của chế độ nô lệ và nhu cầu xóa bỏ nó."[6] Roberts coi sự kiện này không chỉ là một cuộc nổi dậy nô lệ. Ông bày tỏ sự phản đối mạnh mẽ với chế độ nô lệ, điều này ảnh hưởng đến lập trường chính trị sau này của ông. Đến năm 1827, ông gần như mất hết tài sản do cạnh tranh từ thương nhân PhápTây Ban NhaTây Ấn. Ông cho tàu Mary Ann buôn bán ở Ấn Độ Dương và đến Zanzibar vào tháng 10 năm 1827. Năm sau, ông gặp Said bin Sultan, Sultan của Muscat và Oman, người lo ngại ảnh hưởng của Anh và đề nghị Roberts hộ tống một số tàu tới Hoa Kỳ để kiến nghị thương mại. Roberts hứa sẽ trình yêu cầu này lên Chính phủ Hoa Kỳ. Khi trở về, ông viết cho Thượng nghị sĩ Levi Woodbury, một người bạn của ông,[3] về khó khăn trong vận tải biển của Mỹ và đề xuất đàm phán các hiệp ước thương mại.[7]

Đến cảng xa nhất của Ấn Độ giàu có

[sửa | sửa mã nguồn]
Latin: Div viêm Indiae usque ad ultimum sinum

Sự nghiệp ngoại giao của Roberts gắn liền với thương mại của Salem với Trung QuốcĐông Ấn. Hiệp hội Hàng hải Đông Ấn, thành lập năm 1799, gồm các thuyền trưởng và siêu tàu (supercargo) từng đi qua Mũi Hảo Vọng hoặc Mũi Sừng, đã góp phần mở rộng quan hệ quốc tế của Hoa Kỳ giai đoạn 17881845. Từ năm 1826 đến 1832, John Shillaber, lãnh sự Hoa Kỳ tại Batavia, gửi nhiều thư cho thấy ông được trao quyền đàm phán hiệp ước thương mại.[3] Martin van Buren trả lời trong một lá thư ngày 13 tháng 12 năm 1830, yêu cầu thông tin chi tiết hơn về các chính phủ liên quan và những khó khăn gặp phải. :p.30 Vấn đề trở nên căng thẳng khi Charles Moses Endicott, chủ tàu Friendship của Salem, báo cáo rằng tàu của ông bị cướp biển tấn công ở Sumatra, nhiều thủy thủ bị giết.:p.121 Trước phản ứng dữ dội của công chúng, Tổng thống Andrew Jackson ra lệnh cho Đại tá hải quân John Downes, chỉ huy tàu khu trục Potomac, chuyển hướng sang thám hiểm Sumatra, rời cảng New York ngày 19 tháng 8 năm 1831.

Các sự kiện tiếp theo

[sửa | sửa mã nguồn]
Peacock (Con công). Alfred T. Agate. Bút chì.

Vận may đã ủng hộ Roberts. Người bạn của ông là Woodbury, khi đó là thượng nghị sĩ, đang chịu áp lực vì tình trạng cướp bóc hàng hải gia tăng thì nhận được thư của Roberts về nhu cầu đàm phán thương mại. Woodbury vừa trở thành Bộ trưởng Hải quân dưới thời Tổng thống Jackson và coi đây là một cơ hội. Vì tàu Potomac đang chuẩn bị nhổ neo, tàu schooner Boxer dự kiến được đưa vào vận hành; còn Peacock, vốn được trang bị cho nhiệm vụ thăm dò nhưng do thiếu kinh phí nên được chuyển sang hoạt động ở Tây Ấn, đã được gọi quay trở lại để tu chỉnh. Woodbury thuyết phục Jackson gửi cả 10 khẩu súng để hỗ trợ Potomac, đồng thời chỉ định Roberts làm đặc phái viên của Tổng thống.

Ngày 27 tháng 1 năm 1832, Ngoại trưởng Edward Livingston ký “Chỉ thị cho đặc vụ Edmund Roberts”, ra lệnh cho ông lên tàu Peacock dưới vỏ bọc thư ký thuyền trưởng. Nhiệm vụ thực sự của ông được giữ bí mật, chỉ thuyền trưởng và một số ít người biết. Trên đường đi, ông phải thu thập thông tin theo yêu cầu trước đó của Shillaber; nhiệm vụ chính thức của ông với tư cách phái viên sẽ bắt đầu tại Cochin-China (Việt Nam). Livingston cũng ghi thêm rằng Roberts sẽ nhận được 6 đô la mỗi ngày. :pp.308–9 Sau này, Jackson giải thích với Thượng viện trong thông điệp ngày 30 tháng 5 năm 1834 rằng “các chi phí của đặc phái viên đã được chi từ quỹ dự phòng cho Chính sách đối ngoại”.:p.21

Giữa tháng 2 năm 1832, tàu Boxer được phái đến Liberia với lệnh gia nhập Peacock ngoài khơi Brazil, nhưng hai tàu chỉ gặp nhau vào ngày 5 tháng 6 năm 1834 tại Batavia.[8] Tháng 3 năm 1832, Peacock khởi hành tới Brazil dưới sự chỉ huy của Tư lệnh David Geisinger, mang theo Francis Baylies (được bổ nhiệm làm Đại biện lâm thời d'affairesBuenos Aires) và Roberts (phái viên bí mật).

Hải trình của Roberts được phác thảo dựa trên cuốn sách của John Crawfurd, xuất bản năm 1830, ghi lại chuyến đi sứ của ông tới SiamCochinchina năm 1822 thay mặt Công ty Đông Ấn Anh. Trong báo cáo gửi Chính phủ Hoa Kỳ :p.305 và trong nhật ký, Roberts trích dẫn trang 269 bản sao của Crawfurd[9] (tương ứng trang 414 trong ấn bản thứ hai).[3]

Boxer không hoàn thành nhiệm vụ đúng thời hạn; các chỉ thị được để lại tại Montevideo để tàu có thể nhanh chóng đến Bencoolen. Peacock đi qua Cape Horn và tới Bencoolen ngày 23 tháng 8 năm 1833. Thống đốc Hà Lan báo cáo rằng Potomac đã hoàn thành nhiệm vụ,[10] do đó Peacock được tự do để Roberts tiếp tục công vụ.

Nhiệm vụ đầu tiên của Roberts

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo lệnh thu thập thông tin trước khi đến Cochinchina, Peacock đi thuyền đến Manila qua Lang IslandKrakatau, nơi có suối nước nóng phun trào mạnh mẽ ở phía đông đảo, cách bờ khoảng 150 foot (46 m). Do máy đo thời gian hàng hải của tàu Peacock bị hỏng, con tàu phải đi qua các eo biển Sunda. Trong hành trình từ Angier đến Manila, nhiều thủy thủ mắc tiêu chảykiết lỵ. Sau một đến hai tuần, bệnh tả bùng phát, bất chấp sự vệ sinh trên tàu. Peacock có bảy thủy thủ thiệt mạng; một số người khác tuy hồi phục nhưng sau đó chết vì bệnh khác. Không có ca bệnh tả mới nào sau khi tàu đến Macau ngày 2 tháng 11 năm 1833. Khi đi qua gần đảo Lamma hoặc Wanshan, tàu thuê thêm một hoa tiêu hàng hải với chi phí 13 đô la và một chai rượu rum.[11]

Ma Cao và thành phố Canton

[sửa | sửa mã nguồn]
Tàu Congress

Người Mỹ đến cảng Quảng Châu (Canton) được đối xử giống như các thương nhân nước ngoài khác, chỉ được phép giao dịch thông qua các co-hong — tức các nhà xưởng Trung Quốc được triều đình trao độc quyền thương mại với nước ngoài. Thương mại mang lại lợi nhuận, nhưng thương nhân ngoại quốc bị coi là tầng lớp thấp kém về xã hội và chính trị, không có bảo đảm cho tính mạng, tài sản hay quyền cư trú. Tuy nhiên, người Anh, người Mỹ và các thương nhân khác không muốn can thiệp, vì lo ngại nguy cơ bị cấm vận thương mại.

Tàu Congress dưới quyền thuyền trưởng John D. Henley, tàu hải quân đầu tiên của Hoa Kỳ đến Trung Quốc, cập đảo Lintin (Nei Lingding) ngày 3 tháng 11 năm 1819. Các quan chức Trung Quốc lo ngại khi tàu chiến xuất hiện và ra lệnh không được tiến vào sông Châu Giang. Được lãnh sự Hoa Kỳ trấn an rằng sẽ không có hậu quả bất lợi, Henley đã cho tàu tiến vào.

Tháng 1 năm 1830, tàu Vincennes do William B. Finch chỉ huy, trong chuyến đi vòng quanh Trái Đất đầu tiên của Mỹ, lưu lại hơn hai tuần tại Canton. Các thương nhân Mỹ khuyên rằng việc duy trì chuyến thăm hải quân thường niên sẽ hữu ích, miễn là chỉ huy thể hiện “sự tôn trọng phong tục Trung Quốc và thái độ hòa giải”. Finch báo cáo điều này về Bộ Hải quân, nhưng không rõ báo cáo có được chuyển đến Chính phủ hay Roberts có biết đến hay không. Trong thực tế, điều kiện tương tự cũng áp dụng cho các vương quốc trong vùng văn hóa Đông Á (Sinicized), tức là phải hành xử kín đáo, không có sự bảo đảm chính thức.[3]

Cuối năm 1832, Roberts đến thăm Ma CaoQuảng Châu, nơi ông ghi nhận: "Các thương nhân Trung Quốc có tiếng là những người buôn bán sắc sảo: họ ít giấu giếm nhau; mọi hợp đồng quan trọng phải được 'cố định' và được đảm bảo bằng cách thanh toán một khoản tiền theo quy định: nhưng họ bí mật tuyệt đối với khách hàng nước ngoài" (tr. 128). Ông thuê John Robert Morrison làm phiên dịch tiếng Trung Quốc và thư ký riêng, sau đó Morrison trở về Singapore.[12]

Cochin-China

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ Xiêm và Cochin China (Việt Nam) (1820–1829) trong sách của John Crawfurd (1828).

Sáu tuần sau khi đến Lintin (Quảng Châu), và sau nhiều ngày mưa gió, tàu Peacock chạy tới vịnh Turan (Đà Nẵng), vốn là điểm gần và thuận lợi nhất để liên lạc với kinh thành Huế, cách khoảng 50 dặm. Tuy nhiên, tàu không thể thả neo ngoài khơi Huế do ảnh hưởng của gió mùa Đông Á.[13] Ngày 1 tháng 1 năm 1833, Peacock rời vịnh Turan trong điều kiện thời tiết xấu, dòng chảy mạnh và gió liên tục đổi hướng từ tây bắc sang đông bắc.

Lo ngại việc đi gần bờ sẽ nguy hiểm, con tàu đi xa bờ nhưng bị gió tây bắc đẩy lệch hướng, mất dấu đất liền. Sau đó, tàu đi ngang qua cụm đảo Champella (nay là Cù Lao Chàm), rồi qua đảo False Champella.[13] Tiếp đó, tàu đi xuống phía nam qua Pulo Cambir (nay thuộc vùng Nước Mặn, Quy Nhơn), rồi vào các cảng Shundai (Xuân Đài), Vung-chao (Vũng Chào) và Vung-lam (Vũng Lấm) thuộc Phú Yên.[3]

An Nam đại quốc họa đồ do Jean-Louis Taberd vẽ dưới triều Minh Mạng, in trong Dictionarium Latino-Annamiticum (1838).

Tại đây, một cụ già ăn mặc giản dị được ngư dân đưa lên tàu. Ban đầu ông tỏ ra khó chịu vì không được mời ngồi, nhưng sau đó tiết lộ mình là “Keep-tu” (ông Từ, người giữ đình) của làng Vung-lam và King-chow. Ông được mời xuống khoang súng để trò chuyện. Theo lời ông, tàu đang ở vịnh Vũng Lấm, gần làng Shun-dai (Xuân Đài) có đồn lính, thuộc tỉnh Fooyan (Phú Yên). Tỉnh này cùng với Bình Định do một Tổng đốc quản lý, dưới quyền có các quan Bo chāng-sü (Bố chánh sứ), Au-tat-sü (Án sát sứ) và Phó tổng đốc. Kinh đô là Tüa-tien-pu (Thừa Thiên Phủ), vua là Minh-meng (Minh Mạng).[13]

Khi biết trên tàu có một đặc phái viên Mỹ muốn đến Huế, ông lão cho rằng tàu có thể quay lại phía bắc trong ba đến bốn ngày để tới kinh đô. Nhận xét này bị bỏ qua lúc đó, và sau này được nhớ lại khi phái bộ thất bại vì không nhận được lời mời chính thức từ triều đình.

Roberts cho rằng những hiểu lầm xuất phát từ sự bảo thủ và định kiến quốc gia của nhà Nguyễn, và ông để lại một bản ghi chép chi tiết.[14] Theo Miller, một nhà ngoại giao Việt Nam hiện đại nhận xét rằng Roberts thiếu “linh hoạt ngoại giao” và mô tả của ông về người Việt “phủ nhận mọi thiện chí và sự hiểu biết”.[15][16] Roberts qua đời trước khi có thể chỉnh sửa và công bố lại tài liệu của mình.[17]

Trong bản thảo, ông kể lại rằng từng trêu chọc các sứ giả triều Nguyễn khi bị yêu cầu rút ngắn chức danh của mình, bằng cách cố tình đọc ra tên hàng loạt quận, thị trấn và địa danh ở quê hương New Hampshire, khiến họ phải ghi chép dài dòng.[18]

Dòng mở đầu này xuất hiện phía trên chữ ký của ông trong hiệp ước được ký kết thành công với Thái Lan.

Sự quan tâm của Roberts đối với ngoại giao được khơi dậy từ một chuyến thăm vào khoảng năm 1827 tới Said bin Sultan, Quốc vương của Muscat và Oman.[3] Một hiệp ước với Quốc vương được ký kết tại Muscat ngày 21 tháng 9 năm 1833.[19][20]

Nhiệm vụ thứ hai

[sửa | sửa mã nguồn]

Bác sĩ phẫu thuật hải quân William Ruschenberger (1807–1895) phục vụ trên tàu Peacock,[21] do trung úy Cornelius Stribling chỉ huy. Cùng đi còn có tàu schooner Enterprise do trung úy chỉ huy A. S. Campbell. Cả hai tàu đều đặt dưới quyền chỉ huy của Đại tá hải quân Edmund P. Kennedy.[22]

Kết quả và di sản

[sửa | sửa mã nguồn]

Một dự luật nhằm giải quyết các thành quả của Edmund Roberts, viên chức ngoại giao quá cố của Hoa Kỳ tại Cochin China, Muscat và Siam, đề nghị đại diện hợp pháp của ông được ủy quyền rút khoản lương tương đương một Đại biện, trả theo ngày, kể từ 27 tháng 1 năm 1832 cho đến sáu tháng sau khi ông qua đời (13 tháng 6 năm 1836).[3] Thành tích trong nhiệm vụ của Roberts[23] đã được xuất bản sau đó; các tài liệu của ông được Hiệp hội Lịch sử Portsmouth lưu trữ từ tháng 7 năm 1991.[3] Nhiệm vụ của ông cũng được tưởng niệm trong một triển lãm lịch sử tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia thuộc Viện Smithsonian, như một món quà ngoại giao từ Thái Lan dành cho Hoa Kỳ.[3]

Roberts cũng được biết đến vì đã đề cập đến đồng xu Turban Head và đồng đô la Draped Bust năm 1804 (loại tiền nổi tiếng) như một phần trong bộ sưu tập tiền chứng minh mà ông mang theo trong nhiệm vụ thứ hai.

Các tài liệu của Roberts và Ruschenberger không mang dáng dấp của văn bản ngoại giao chính thức, nhưng được mô tả là “một người Mỹ bình thường làm quen với vùng đất và văn hóa xa xôi”. Sau này, chúng được sưu tập và xuất bản trong tác phẩm Two Yankee Diplomats in 1830s Siam.[24]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ United States Congress 1904, tr. 10.
  2. ^ Davis 1873, tr. 602.
  3. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p ...
  4. ^ Cole 1941, tr. 497–513.
  5. ^ Miller 1990, tr. 23.
  6. ^ Grange 2009, tr. 149.
  7. ^ Roberts 1837, tr. 5.
  8. ^ Roberts 1837, tr. 327.
  9. ^ Roberts 1837, tr. 198.
  10. ^ Roberts 1837, tr. 32.
  11. ^ Roberts 1837, tr. 65.
  12. ^ Roberts 1837, tr. 72–171.
  13. ^ a b c The Project Gutenberg EBook of Embassy to the Eastern Courts of Cochin-China, Siam, and Muscat, by Edmund Roberts
  14. ^ Roberts 1837, tr. 178ff..
  15. ^ Miller 1990.
  16. ^ Thế Anh Nguyễn 1967, tr. 156.
  17. ^ Ruschenberger 1838, tr. 23.
  18. ^ Roberts 1837, tr. 217.
  19. ^ Ruschenberger 1838.
  20. ^ Cotheal, Alexander I. (1854). "Treaty between the United States of America and the Sultân of Masḳaṭ: The Arabic Text". Journal of the American Oriental Society. Quyển 4. tr. 341–343. JSTOR 592284.
  21. ^ W.S.W. Ruschenberger, M.D. (1873). "A report on the origin and therapeutic properties of cundurango". Published by order of the Navy Department. Washington: G.P.O. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012.
  22. ^ Ruschenberger 1838, tr. 258.
  23. ^ Roberts 1837.
  24. ^ Ruschenberger 2002.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]