Satō Eisaku

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Eisaku Satō)
Satō Eisaku
佐藤 榮作
Eisaku Sato 19641109.jpg
Thủ tướng thứ 61, 62 và 63 của Nhật Bản
Nhiệm kỳ
9 tháng 11 năm 1964 – 7 tháng 7 năm 1972
7 năm, 241 ngày
Thiên hoàngChiêu Hoà
Tiền nhiệmIkeda Hayato
Kế nhiệmTanaka Kakuei
Thành viên Chúng Nghị viện
Nhiệm kỳ
23 tháng 1 năm 1949 – 3 tháng 6 năm 1975
Khu vực bầu cửYamaguchi 2nd
Thông tin cá nhân
Sinh27 tháng 3 năm 1901
Tabuse, Yamaguchi, Đế quốc Nhật Bản
Mất3 tháng 6 năm 1975 (74 tuổi)
Tokyo, Nhật Bản
Đảng chính trịĐảng Dân chủ Tự do (1955–1975)
Đảng khácĐảng Tự do (1949–1955)
Phối ngẫuHiroko Satō (1907–1987)
Con cái2
Alma materĐại học Tokyo
Chữ ký

Satō Eisaku (佐藤 榮作 (Tá Đằng Vinh Tác)? 27 tháng 3 năm 1901  – 3 tháng 6 năm 1975) là một chính trị gia Nhật Bản, từng là Thủ tướng Nhật Bản 3 nhiệm kì liên tục trong thời gian từ 9 tháng 11 năm 1964 đến 7 tháng 7 năm 1972. Năm 1974, ông được trao giải Nobel Hòa bình vì có công đề xuất ba nguyên tắc phi hạt nhân.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Từ bên trái là Sato (lúc đó là Bộ trưởng Bộ Xây dựng), Thủ tướng Yoshida Shigeru và Chủ tịch Đảng Ozawa Saeki (1953)

Satō Eisaku sinh ngày 3 tháng 6 năm 1901 tại thị trấn Tabuse, tỉnh Yamaguchi. Cha ông vốn là nhân viên văn phòng chính quyền tỉnh Yamaguchi, sau đó xin thôi việc về nhà làm nghề nấu rượu.

Satō Eisaku đi học ở quê, đến trung học phổ thông thì chuyển tới Nagoya để học. Tại đây, ông học cùng và trọ cùng ký túc xá với Ikeda Hayato.

Năm 1921, Sato trúng tuyển vào học ngành luật pháp tại Khoa Luật Đại học Đế quốc Tokyo (nay là Đại học Tokyo).

Tháng 12 năm 1923, Sato thi đỗ trong kỳ thi tuyển công chức cao cấp của Chính phủ. Tháng 4 năm 1924, Sato tốt nghiệp đại học vào làm việc ở Bộ Đường sắt.

Tháng 4 năm 1944, Sato đã thăng tiến đến vị trí Cục trưởng Cục Đường sắt Osaka.

Năm 1947, được mời làm thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải trong Nội các của Katayama Tetsu, nhưng Sato từ chối. Năm 1948, Sato thôi làm công chức và gia nhập Đảng Dân chủ Tự do, chính thức bắt đầu sự nghiệp chính trị.

Satō gia nhập Quốc hội vào năm 1949 với tư cách là thành viên của Đảng Tự do.

Ông từng là Bộ trưởng của Dịch vụ Bưu chính và Viễn thông từ tháng 7 năm 1951 đến tháng 7 năm 1952. Sato từng bước thăng tiến trong các cấp chính trị Nhật Bản, trở thành Chánh văn phòng nội các cho đến thời của thủ tướng Shigeru Yoshida từ tháng 1 năm 1953 đến tháng 7 năm 1954. Sau đó ông giữ chức bộ trưởng xây dựng từ tháng 10 năm 1952 đến tháng 2 năm 1953.

Sau khi Đảng Tự do hợp nhất với Đảng Dân chủ Nhật Bản để thành lập Đảng Dân chủ Tự do, Satō giữ chức chủ tịch hội đồng điều hành đảng từ Tháng 12 năm 1957 đến tháng 6 năm 1958. Satō trở thành Bộ trưởng Bộ Tài chính trong nội các của Kishi Nobusuke (anh trai của ông) vào năm 1958-1960[cần giải thích]

Từ tháng 7 năm 1961 đến tháng 7 năm 1962, Satō là Bộ trưởng Thương mại Quốc tế và Công nghiệp. Từ tháng 7 năm 1963 đến tháng 6 năm 1964, ông đồng thời là người đứng đầu Cơ quan Phát triển Hokkaidō và của Cơ quan Khoa học và Công nghệ.

Thủ tướng (1964-1972)[sửa | sửa mã nguồn]

Satō đã thương lượng với tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon để trả lại tỉnh Okinawa.

Satō kế nhiệm Ikeda sau khi người này từ chức vì sức khỏe kém. Chính phủ của ông kéo dài hơn nhiều chính phủ khác, và đến cuối những năm 1960, ông ta dường như nắm quyền kiểm soát một tay đối với toàn bộ chính phủ Nhật Bản. Ông là một thủ tướng phổ biến do nền kinh tế đang phát triển; chính sách đối ngoại của ông, vốn là một hành động cân bằng giữa lợi ích của Hoa KỳTrung Quốc, là viển vông hơn. Sự cực đoan hóa chính trị của sinh viên đã dẫn đến nhiều cuộc phản đối chống lại sự ủng hộ của Satō đối với Hiệp ước An ninh Hoa Kỳ-Nhật Bản, và sự ủng hộ ngầm của Nhật Bản đối với Hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Những cuộc biểu tình này mở rộng thành các cuộc bạo động lớn, cuối cùng buộc Satō phải đóng cửa Đại học Tokyo danh giá trong một năm vào năm 1969.[1]

Sau ba nhiệm kỳ thủ tướng, Satō quyết định không tranh cử lần thứ tư. Người kế nhiệm hiển nhiên của ông, Fukuda Takeo, đã giành được sự ủng hộ của phe Satō trong cuộc bầu cử Chế độ ăn uống sau đó, nhưng Bộ trưởng Bộ trưởng Thương mại Quốc tế và Công nghiệp nổi tiếng hơn, Tanaka Kakuei, đã giành được phiếu bầu, chấm dứt sự thống trị của phe Satō.

Mối quan hệ với Trung Quốc và Đài Loan[sửa | sửa mã nguồn]

Satō là thủ tướng cuối cùng của Nhật Bản đến thăm Đài Loan trong nhiệm kỳ của mình. Năm 1965, Satō phê duyệt khoản vay 150 triệu đô la Mỹ cho Đài Loan. Ông đến thăm Đài Bắc vào tháng 9 năm 1967. Năm 1969, Satō nhấn mạnh rằng việc bảo vệ Đài Loan là cần thiết cho sự an toàn của Nhật Bản. Satō đi theo Hoa Kỳ trong hầu hết các vấn đề lớn, nhưng Satō phản đối chuyến thăm của Nixon đến Trung Quốc.[2] Satō cũng gay gắt phản đối sự gia nhập của CHND Trung Hoa vào Liên hợp quốc vào năm 1971.

Các vấn đề hạt nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Vào những năm 1960, Sato cho rằng Nhật Bản cần vũ khí hạt nhân để sánh ngang với Trung Quốc, nhưng Hoa Kỳ phản đối điều đó. Chính quyền Johnson đã thúc ép Nhật Bản ký Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, chấm dứt tham vọng hạt nhân của Nhật Bản.[3]

Satō đưa ra Ba nguyên tắc phi hạt nhân vào ngày 11 tháng 12 năm 1967, có nghĩa là không sản xuất, không sở hữu và không giới thiệu vũ khí hạt nhân. Sau đó, ông đề xuất "Chính sách hạt nhân bốn trụ cột".[cần giải thích] Trong thời gian làm thủ tướng Satō, Nhật Bản đã tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Chế độ ăn kiêng đã thông qua một nghị quyết chính thức áp dụng các nguyên tắc vào năm 1971. Vì điều này, ông đã nhận được Giải Nobel Hòa bình vào năm 1974.

Tuy nhiên, các cuộc điều tra gần đây cho thấy đằng sau hậu trường, Satō tỏ ra dễ chịu hơn đối với các kế hoạch của Mỹ về việc đồn trú vũ khí hạt nhân trên đất Nhật Bản. Vào tháng 12 năm 2008, chính phủ Nhật Bản giải mật một tài liệu cho thấy trong chuyến thăm Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 1965, ông đã thảo luận với các quan chức Hoa Kỳ về khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[4] Vào tháng 12 năm 2009, con trai ông báo cáo rằng cha ông đã đồng ý trong một cuộc trò chuyện vào tháng 11 năm 1969 với Tổng thống Hoa Kỳ Nixon cho phép đồn trú các đầu đạn hạt nhân ở Okinawa sau khi nó được khôi phục thuộc chủ quyền của Nhật Bản.[5]

Các vấn đề ở Okinawa[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Okinawa đã bị Hoa Kỳ chiếm đóng. Trong khi thăm Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 1965, Satō công khai yêu cầu Tổng thống Lyndon Johnson trả lại Okinawa cho Nhật Bản. Vào tháng 8 năm 1965, Satō trở thành thủ tướng đầu tiên của Nhật Bản thời hậu chiến đến thăm Okinawa.

Năm 1969, Satō đạt được thỏa thuận với tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon để hồi hương Okinawa và loại bỏ vũ khí hạt nhân của nước này: thỏa thuận này đã gây tranh cãi vì nó cho phép Lực lượng Hoa Kỳ tại Nhật Bản duy trì các căn cứ ở Okinawa sau khi hồi hương. [6] Okinawa chính thức được trao trả cho Nhật Bản vào ngày 15 tháng 5 năm 1972, cũng bao gồm Quần đảo Senkaku (còn được gọi là Quần đảo Điếu Ngư ở Trung Quốc và là đối tượng tranh chấp chủ quyền Trung-Nhật kể từ năm 1971; xem Tranh chấp quần đảo Senkaku).

Satō và vợ với FerdinandImelda Marcos

Các ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Feilier. Learning to Bow. Page 80
  2. ^ MacMillan. Nixon and Mao: The Week that Changed the World
  3. ^ “Imagine This: Japan Builds Nuclear Weapons”. 25 tháng 5 năm 2019.
  4. ^ “Editorial: The U.S. nuclear umbrella, past and future”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011.
  5. ^ “Document on secret Japan-U.S. nuclear pact kept by ex-PM Sato's family”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011.
  6. ^ Ambrose. The Rise to Globalism. Page 235

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ
Tiền nhiệm
Ikeda Hayato
Thủ tướng Nhật Bản
1964–1972
Kế nhiệm
Tanaka Kakuei