Elaine Paige

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Elaine Paige
Elaine Paige Annie Skates.jpg
Elaine Paige
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhElaine Mary Bickerstaff[1]
Sinh5 tháng 3, 1948 (71 tuổi)
Nguyên quánBarnet, Hertfordshire, Anh
Nghề nghiệpca sĩ, diễn viên

Elaine Paige OBE (tên con gái Elaine Bickerstaff;[2] sinh ngày 5 tháng 3 năm 1948) là một ca sĩ kiêm diễn viên người Anh, nổi tiếng nhất với thể loại nhạc kịch. Paige lớn lên tại Barnet, Bắc London và đã học trường sân khấu Aida Foster. Cô biểu diễn chuyên nghiệp lần đầu vào năm 1964. Lần xuất hiện lần đầu tiên ở nhà hát West End vào năm 1968 trong tác phẩm Hair.

Sau các vai diễn nhỏ, Paige được chọn đóng vai Eva Perón trong tác phẩm đầu tiên Evita, vai diễn mang lại danh tiếng cho cô năm 1978. Với vai diễn này, cô giành được Giải Laurence Olivier cho diễn xuất nhạc kịch trong năm. Năm 1981, cô đã khởi đầu vai Grizabella trong tác phẩm Cats, và lọt vào bảng xếp hạng Top 10 hit với bài "Memory", một bài hát trong vở diễn của mình. Năm 1985, cô phát hành "I Know Him So Well" với Barbara Dickson trích ra từ vở nhạc kịch Chess; Cho tới nay, đây vẫn là bản thu bán chạy nhất của một cặp song ca nữ. Sau đó, Paige đã tham gia diễn trong vở Chess, sau đó là một vai chính trong Anything Goes, tác phẩm này cũng do cô đồng sản xuất. Paige diễn lần đầu trên sân khấu Broadway trong vở Sunset Boulevard vào năm 1996, với vai chính Norma Desmond. Cô đã đóng vai trong vở The King and I từ năm 2000 đến 2001, và sáu năm sau cô đã quay trở lại sân khấu West End trong vở The Drowsy Chaperone. Cô cũng tham gia làm phim và các chương trình truyền hình.

Bên cạnh việc năm lần được đề cử cho Giải Laurence Olivier, cô còn đạt được giải thưởng khác cho các vai diễn của mình và cô còn được gọi là "Đệ nhất phu nhân của nền nhạc kịch vương quốc Anh". Paige cũng đã phát hành 20 album đơn, trong đó có 8 album vàng và 4 album bạch kim. Cô còn nổi tiếng nhờ 7 album diễn xuất và các chuyên lưu diễn đi khắp nơi trên thế giới. Kể từ năm 2004, cô bắt đầu dẫn chương trình "Chủ nhật cùng Elaine Paige" trên sóng phát thanh BBC Radio 2.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Paige lớn lên ở Barnet, Bắc London, nơi bố cô hành nghề môi giới bất động sản và mẹ cô là một thợ làm mũ.[2] Mẹ cô đã từng là một ca sĩ khi còn trẻ, và bố cô từng là một tay trống nghiệp dư.[1] Paige cao không quá 5 feet (1,5 m), điều mà cô cho rằng chính là nguyên nhân khiến cho cô đã để mất nhiêu vai diễn chính.[3] Ước mơ sự nghiệp là trở thành một tay vợt tennis chuyên nghiệp, điều mà cô hiệu trưởng của Paige lúc đó đã khuyên rằng "họ sẽ không bao giờ thấy em ở lên lưới";[4] tuy vậy Paige vẫn tiếp tục chơi tennis và cô coi môn thể thao đó như một trong những niềm đam mê của cô.[5]

Năm 14 tuổi, Paige được nghe nhạc phim West Side Story, điều đó đã đánh thức khát khao muốn trở thành một diễn viên nhạc kịch trong cô.[6] Khả năng âm nhạc của Paige được khuyến khích bởi giáo viên dạy nhạc của cô lúc đó, Ann Hill.[5] Vai diễn đầu tiên của Paige trên sân khấu là vai Susanna trong vở kịch ở trường dựng lại tác phẩm The Marriage of Figaro của Mozart,[7] và sau đó là các vai diễn trong "cậu bé Mozart" và vị trí đơn ca trong Messiah của Handel[1] "một công việc khó khăn đối với một đứa trẻ".[5] Cha cô đề nghị cô theo học ở một trường kịch,[1] nên cô theo học trường sân khấu Aida Foster.[2] Sau khi tốt nghiệp, công việc đầu tiên của cô là thiết kế quần áo cho trẻ em tại hội chợ Ideal Home.[2]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu – 1968-1980: ra mắt lần đầu ở West End và Evita[sửa | sửa mã nguồn]

Paige biểu diễn chuyên nghiệp lần đầu tiên trên sân khấu trong quá trình lưu diễn quanh Vương quốc Anh với vở nhạc kịch The Roar of the Greasepaint—the Smell of the Crowd của Anthony Newley/Leslie Bricusse năm 1964,[1] với vai một đứa trẻ vụng về người Trung Quốc.[7] Ở tuổi 20, Paige ra mắt lần đầu ở West End trong vở Hair[8] vào ngày 27 tháng 9 năm 1968, và vẫn tiếp tục cho tới tháng 3 năm 1970.[9] Trong khi đang diễn vai dự bị cho nhân vật Sheila,[10] cô đóng vai một thành viên của dàn hợp xướng,[10] với vai này cô cần phải khỏa thân trong một cảnh.[7] Cô xuất hiện một chút trong bộ phim Oliver![11] công chiếu vào năm 1968, và trong suốt một thập kỉ sau đó, cô tham gia đóng nhiều vai trong nhiều vở kịch, bao gồm Jesus Christ Superstar; Nuts; Grease, trong đó cô đóng vai diễn chính, Sandy, từ năm 1973 đến năm 1974; vở nhạc kịch Billy, từ năm 1974 đến năm 1975 trong vai Rita;[8][12] và vở The Boyfriend, với vai Maisie (năm 1975–1976).[9]

Sau nhiều tháng tham gia các buổi thử giọng, thử diễn xuất,[6] Hal Prince đề nghị Paige, lúc đó vẫn còn ít tiếng tăm, tham gia đóng vai Eva Perón trong lần ra mắt đầu tiên vở nhạc kịch Evita của Tim RiceAndrew Lloyd Webber.[13][14] Vai diễn của cô đã nhận được nhiều lời phê bình tích cực và làm cho cô trở nên nổi tiếng ở tuổi 30.[15] Paige thực ra chỉ là sự lựa chon thứ hai cho vai diễn này sau Julie Covington, nhưng Covington đã từ chối cơ hội.[15] Với vai diễn trong Evita, cô giành được Giải Laurence Olivier cho diễn xuất nhạc kịch của năm,[16] và giải thưởng của hiệp hội sân khấu West End cho nữ diễn viên nhạc kịch xuất sắc nhất và giải thưởng Variety Club cho nhân vật trong làng giải trí của năm.[17] Cô đã đóng vai này trong tổng cộng 20 tháng từ năm 1978 đến năm 1980.[18] Cô đồng thời cũng ra album đầu tiên vào năm 1978, đặt tên là Sitting Pretty.[8] Trước thành công trong Evita, Paige đã thật sự quan tâm tới việc trở thành một bảo mẫu, nhưng sau khi cô hát cho Dustin Hoffman, cô hứa rằng sẽ tiếp tục sự nghiệp sân khấu.[15]

1981–1993: thời kì của CatsChess[sửa | sửa mã nguồn]

Paige thể hiện một số vai diễn nữ đáng chú ý của Lloyd Webber, đặc biệt là nhân vật Grizabella trong vở Cats từ ngày 11 tháng 5 năm 1981 tới ngày 13 tháng 2 năm 1982.[19][20] Cô tham gia khá muộn trong quá trình tổng duyện khi nữ diễn viên Judi Dench phải rút lui do chân thương dây chằng ở bụng chân.[19] Bài hát "Memory", với vai diễn của Paige trong vở "Cats", đã lọt vào Top 10 hit,[21] và trở thành một phần dấu ấn trong sự nghiệp diễn xuất của cô.[15][22] Bài hát đã xếp vị trí thứ 5 trong UK Singles Chart và kể từ đó đã được tái thu âm bởi hơn 160 nghệ sĩ.[23] Cô đóng lại vai Grizabella một lần nữa trong bản video của Cats vào năm 1998,[24] một trong hai diễn viên đóng phim là diễn viên cũ ở London.[20] Trang web của Paige tuyên bố rằng cuốn băng đã sớm trở thành bản video bán chạy nhất ở Mỹ và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.[25]

Paige đã đóng vai chính trong một vở Abbacadabra vào năm 1983, viết bởi các cựu thành viên của ABBA, Björn UlvaeusBenny Andersson,[26] trong đó cô đóng vai Carabosse.[27] Cô tiếp tục diễn vai Florence trong album chủ đềChess, với lời của Tim Rice và nhạc của Ulvaeus và Anderson.[28] Các album của cô, Stages (1983), và Cinema (1984), kết hợp với bản ghi âm của Chess đang giữ vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, giving her three consecutive successful albums.[8] Năm 1985, Paige cho ra "I Know Him So Well", một đoạn song ca trích từ Chess, hát với Barbara Dickson. Bản nhạc giữ vị trí số 1 UK Singles Charts trong bốn tuần liền[29] và vẫn là bản ghi âm song ca bán chạy nhất, theo Sách Kỷ Lục Guinness.[15][30] Từ năm 1986 đến năm 1987, Paige đóng vai Florence trong vở nhạc kịch Chess,[8] vai diễn giúp cô nhận được thêm một đề cử giải Laurence Olivier nữa dành cho diễn viên nhạc kịch nữ cực kỳ xuất sắc.[31] Năm sau, cô đến biểu diễn ở Nhà Trắng vào năm 1988.[22]

Sau đó, Paige nhận vai diễn Reno Sweeney trong vở nhạc kịch Anything Goes, tác phẩm mà cô đồng sản xuất, đóng từ năm 1989 đến năm 1990.[8] Patti Lupone, một nữ diễn viên người Mỹ, cũng diễn vai Sweeney ở BroadWay cùng thời điểm đó, nên Paige tìm cách trở thành nhà đồng sản xuất của phiên bản tại West End như một cách để bảo vệ vai diễn này trước khi Lupone nhận nó.[18] Đóng vai Reno Sweeney là lần đầu tiên Paige phát âm kiểu Mỹ trên sân khấu,[32] và vai diễn này đã đem lại đề cử Olivier lần thứ ba cho cô.[33] Bên cạnh các vai diễn kịch, cô cũng xuất hiện trên chương trình truyền hình Unexplained Laughter vào năm 1989 cùng Diana Rigg.[8]

Năm 1993, Paige nhận thể hiện hình ảnh của ca sĩ hộp đêm nổi tiếng người Pháp Édith Piaf trong vở nhạc kịch Piaf của 'Pam Gems' để được sự khen ngợi của công chúng.[12] The Guardian viết rằng Paige là "một Piaf vĩ đại và hoàn hảo".[1] Vỏ diễn với yêu cầu rất cao này buộc Paige hát 15 bài, một số bằng tiếng Pháp, và lên sàn trong tổng cộng 2 giờ 40 phút, khiến cô bị kiệt sức.[12] Sự thể hiện của cô trong vở Piaf mang lại cho cô đề cử thứ 4 cho giải Olivier cho diễn viên nhạc kịch nữ xuất sắc nhất;[34] sau đó cô cho phát hành bản album; lấy tên là Piaf, có chứa các bài hát của Édith Piaf.[35]

1994–2001: Sunset Boulevard và lân đầu xuất hiện ở Broadway[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1995, Paige được phong tước OBE bởi nữ hoàng Elizabeth cho những đóng góp của cô cho sân khấu nhạc kịch.[36][37]

Paige thế chân Betty Buckley trong vai Norma Desmond trong vở nhạc kịch Sunset Boulevard của Lloyd Webber ở sân khâu West End vào năm 1994, khi Buckley bị ốm, trước khi trở thành diễn viên chính thức vào năm sau.[12] Với vai thế này, cô giành được giải Variety Club cho diễn viên xuất sắc nhất của năm,[8] và được đề cử diễn viên nữ xuất sắc nhất giải Olivier năm 1996.[38] Sau đó, cô chuyển đến Mỹ để ra mắt ở Broad Way, tại sân khấu Minskoff vào ngày 12 tháng 9 năm 1996,[9] và tiếp tục gắn bó với chương trình diễn cho đến khi nó kết thúc ngày 22 tháng 3 năm 1997.[39] Trong vở Sunset Boulevard ở Broadway, cầu thang đã được nâng cao tới 6 inch để phù hợp với chiều cao khiêm tốn của Paige, hoặc khán giả sẽ khó nhìn thấy cô sau lan can.[40] Paige nhận được nhiều lời nhận xét tích cực đối với vai Norma Desmond "Âm điệu ngọt ngào và sức mạnh tuyệt đối của giọng ca cô, đơn giản là tuyệt đến mức khó tin", một nhà phê bình viết, trong khí đó một người khác nói "Giọng của cô có một âm vực rộng, sự rõ ràng đán kể và đầy sức truyền cảm".[41] Đề cập đến vai diễn của Paige trong "As If We Never Said Goodbye", Lloyd Webber nói rằng: nó "rất tốt, nếu không phải là tốt nhất, trong những gì.. tôi từng nghe ".[1] Dù cô thất vọng khi mong muốn được diễn Evita, CatsChess ở Broad Way không được thực hiện, Paige nhận xét rằng sự ra mắt của mình tại Broad Way "là thời điểm tuyệt vời để diễn vở nhạc kịch này".[12] Sau khi Sunset Boulevard kết thúc, cô đau khổ, nói rằng việc buổi diễn kết thúc "tạo nên cho tôi một cảm gíac kinh khủng.... Tôi cảm thấy như mình vừa mất cái gì đó vô cùng quan trọng. Tôi cảm thấy như nó đã chết vậy".[42]

Năm 1996, Nhà phê bình nghệ thuật Melvyn Bragg dẫn một chương trình đặc biệt của The South Bank Show nói về sự nghiệp của Paige, mang tên là The Faces of Elaine Paige.[43] Chương trình đã theo các cuộc viếng thăm của côtới những địa điểm trên thế giới nơi mà những vở kịch cô tham gia đã được dựng.[43] Năm 1997, Paige ra mắt ở sân khâu Mỹ đầu tiên khi cô mở đầu cho mùa Boston Pops, vở nhạc kịch được phát sóng trên đài WGBH ở Mỹ.[44] Năm sau, cô xuất hiện ở lễ sinh nhật ở tuổi 50 của Andrew Lloyd Webber ở Royal Albert Hall với tư cách là một khách mời nổi tiếng.[45] Trong lễ sinh nhật đó, cô hát hai bài "Memory" và "Don't Cry for Me Argentina", trích từ các vở nhạc kịch của Lloyd Webber. Vai diễn tiếp theo của Paige là Célimène trong vở kịch Le Misanthrope (không phải nhạc kịch) vào năm 1998, nhưng cô thừa nhận rằng cô nhớ cái chất âm nhạc không thể làm quan với sự im lặng.[12] Giải Lifetime Achievement từ National Operatic and Dramatic Association sớm đến với cô.[17] Cô diễn cùng với Bette Midler trong một buổi hòa nhạc tại New York năm 1999 để tăng tiền quyên góp cho Breast Cancer Research Foundation.[46]

Từ năm 2000 đến năm 2001, cô đóng vai Anna trong vở kịch The King and I của Rodgers and Hammerstein, một vở kịch đã lâu không được đóng, ở London Palladium.[17] Paige đã khước từ đề nghị về vai diễn này trong lân đầu tiên cô nhận được, nhưng sau đó lại chấp nhận, và thừa nhậ rằng mình đã quên đi điểm thú vị của nó,[47] dù cô đã đặt ra câu hỏi liệu cô có phù hợp với vai diễn đó.[18] Trước khi mở cửa, vở kịch đã bán được hơn 7 triệu vé.[48] Nhà phê bình của The Independent nói rằng, "Nó không thể trờ nên thành công như Evita hay Anna",[49] whereas The Spectator asserted that the role further strengthened her title as the "First Lady of British Musical Theatre".[50]

2002-đến nay: Sóng phát thanh và trở lại West End[sửa | sửa mã nguồn]

Paige hát ở lễ khai mạc của Thế vận hội Mùa đông 2002Thành phố Salt Lake,Utah, và rồi diễn buổi đầu tiên của cô ở Los Angeles tại Pasadena Civic Auditorium.[51] Năm 2003, cô đóng vai Angèle trong Where There’s a Will (Ở đâu có giấc mơ), đạo diễn bởi Peter Hall.[17] Tiếp theo cô đóng vai quý bà Lovett trong vở kịch Sweeney Todd của Stephen SondheimNhà hát Opera thành phố New York,[52] nhận được các lời khen ngợi từ các nhà phê bình,[53] và một đề cử giải Drama Desk cho diễn viên nhạc kịch nữ đặc biệt xuất sắc.[54] Sau đó Paige tham gia chuyến lưu diễn quanh Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland mang tên"No Strings Attached".[55]

Vào tháng 9 năm 2004, Paige bắt đầu tham gia một chương trình phát thanh hàng tuần, Elaine Paige on Sunday(Chủ Nhật của Elaine Paige),[36] trên sóng BBC Radio 2, về âm nhạc trong nhạc kịch và phim.[56] Trong một bài báo tỏ thái độ không thích thú, Elisabeth Mahoney của The Guardian mô tả chương trình như một chương trình không thân thiện và một bước đi sai lầm hiếm có của Radio 2.[57] Lisa Martland của The Stage đồng ý rằng "Âm nhạc mới là thứ mang tôi trở lại chương trình này;.. chứ không phải lối dẫn chương trình nhẹ cân của cô ta.[58] Tuy vậy, chương trình vẫn thu hút được 3 triệu thính giả,[26] với các cuộc phóng vấn đặc biệt vào mỗi tuần.[59] Paige cũng quan tâm vào việc xuất hiện trên các chương trình truyền hình, đóng vai Dora Bunner trên ITV năm 2005 trong bộ phim chuyển thể A Murder is Announced của Agatha Christie trong series chương trình Marple, trước khi tham gia Where the Heart Is trong vai một nữ hiệu trưởng đã nghỉ hưu.[60] Có 7,78 triệu người theo dõi chương trình Marple,[61] và 6,34 triệu người theo dõi chương trình Where the Heart Is.[62]

Năm 2006, Paige phát hành bản album đầy đủ đầu tiên của cô trong 12 năm, đặt tên là Essential Musicals.[60] Bản album bao gồm các bài hát nổi tiếng nhất từ các vở nhạc kịch cô từng tham gia, xác định qua một cuộc điều tra trên chương trình truyền hình của cô,[60] với 400.000 thính giả tham gia bầu chọn.[4] Paige đã ghi âm tổng cộng 20 album solo, trong đó có 8 đĩa liên tiếp đạt giải vàng và 4 đạt giải đa bạch kim, và cô cũng nổi bật nhờ 7 album kịch.[4] Gần đây hơn, cô cộng tác với nhóm Secret Garden trong việc ghi âm bài hát "The Things You Are to Me" trong album năm 2007, Inside I'm Singing của họ.[63] Paige cũng đã xuất hiện tại sân khấu ở Scandinavia, Hong Kong, châu Âu, Trung Đông, New Zealand, Australia và Singapo.[64] Ngày 20 và 21 tháng 12 năm 2006, cô diễn tại sân khấu ở Thượng Hải, kéo dài chuyến lưu diễn của cô kéo dài tua diễn thêm hai ngày để đáp ứng nhu cầu của khán giả.[13] Vào năm 2006, trả lời câu hỏi tại sao cô không tham gia diễn nhạc kịch nữa trong nhiều năm, cô tuyên bố rằng "Không có gì tôi muốn làm, và nếu bạn cam kết một năm ở nhà hát, sáu ngày trong tuần, và không có cuộc sống, rồi nó trở thành một cái gì đó bạn muốn làm bằng cả trái tim ".[60] Cô cũng khẳng định rằng đối với một diễn viên lớn tuổi, kiếm được một vai diễn sẽ khó hơn.[65]

Năm 2007, Paige trở về sân khấu West End lần đầu tiên sau 6 năm,[36] trong vai Chaperone/Beatrice Stockwell trong The Drowsy ChaperoneNhà hát Novello.[66] Chương trình diễn đáng thất vọng với 96 buổi diễn,[67] dù nó mở màn để đón sự hưởng ứng nhiệt tình từ phía khán giả và phản ứng lạc quan của các nhà phê bình.[68] The Daily Telegraph viết, "Elaine Paige is a good sport... enduring jokes about her reputation for being 'difficult' with a grin that doesn't seem all that forced.... Only the self-importantly serious and the chronically depressed will fail to enjoy this preposterously entertaining evening".[69] Paul Taylor từ tờ The Independent không ấn tướng đến như vậy và cô viết "a miscast Elaine Paige manages to be unfunny to an almost ingenious degree as the heroine's bibulous minder".[70] Với vai diễn này cô được đề cử cho giải What's On Stage cho nữ diễn viên nhạc kịch có nhiều đóng góp nhất.[71]

Ngày 28 tháng 7 năm 2007, Paige xuất hiện trong một phiên bản kỷ niệm đặc biệt của chương trình Ai là triệu phú cùng với Michael Ball gây quỹ từ thiện và cả hai đã giành được £64.000.[3] Paige nhảy điệu Tango trong chương trình Strictly Come Dancing cùng với Matt Dawson vào tháng 3 năm 2008 để tăng tiền quyên góp cho chương trình Sport Relief, hai người giành vị trí thứ hai trong chương trình này.[72] Cô tham giaLễ hội Eisteddfod Quốc tếLlangollen vào tháng 7 năm 2008, trình diễn một vài bài hát nổi tiếng trong 40 năm sự nghiệp của cô.[73] Cô tiếp theo sẽ tham gia một chuyến lưu diễn quay thế giới đến Trung Quốc, Mỹ và Úc.[22] Để kỷ niệm 40 năm ngày cô xuất hiện trên sân khấu chuyên nghiệp lần đầu tiên, vào tháng 10 năm 2008 Paige xuất bản cuốn hồi ký bằng ảnh, Memories.[74]

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Paige chưa kết hôn cũng hay có con,[42] dù cô có một mối quan hệ tình ái kéo dài 11 năm với người viết lời nhạc kịch Tim Rice trong suốt thập kỷ 1980.[75] Cô nói rằng cô muốn có con, nhưng "Tôi đã có một cuộc sống tuyệt với và đã được thỏa mãn theo nhiều cách khác".[60]

Trong suốt thời gian vở nhạc kịch Sunset Boulevard diễn ra ở Sân khấu Adelphi vào năm 1995, Paige phát hiện thấy mình có khối u ở ngực, khiến cô phải gặp bác sĩ, vị bác sĩ trấn an cô rằng không có gì phải lo lắng.[76] Cô trở lại hai lần, và bác sĩ của cô sau đó cho cô đi xét nghiệm và phát hiện ra rằng khối u kia là u ác tính, chín tháng sau khi cô phát hiện ra nó.[77] Cô tiếp tục các vai diễn của mình và nói rằng, "khi tôi tham gia các buổi diễn, tôi xúc động. Một số lời kịch dường như mang một nghĩa hoàn toàn khác. Các lời như, 'như thể chúng ta chưa bao giờ chào tạm biệt' trở nên thực hơn".[76] Paige nhập viện để phẫu thuật vào một ngày Chủ Nhật vì phải tham gia diễn xuất, và có 5 năm điều trị bằng hóa chất và trị xạ.[76] Năm 2004, cô phát biểu lần đầu tiên về quá trình đối diện với ung thứ vú trong một cuộc phỏng vấn,[76] và đã miêu tả khoảng thời gian đó như "điều tồi tệ nhất từng xảy ra đối với cuộc đời tôi".[65] Trong thời gian cô đóng The King and I, mẹ của cô được chẩn đoán là bị ung thư. Bất chấp việc Paige muốn rút khỏi chương trình, mẹ cô chắc chắn rằng bà có thể sống được đến khi cô kết thúc bản hợp đồng,[2] và chị của Paige, Marion Billings, thừa nhận rằng, "Rất khó khăn cho Elaine khi phải diễn trên sân khấu hết những đêm này đem khác trong khi cô mong muốn ở bên mẹ".[2]

Paige đôi khi được mô tả là "khó khăn". Cây bút Brian Logan của tạp chí Times, viết, " Paige không phải chính xác nổi tiếng nhờ sự khiêm tốn của cô ấy. Trong hồ sơ báo chí, dread từ 'khó khăn' thường được áp dụng".[15] Trong một dịp đặc biệt, cô nói với một phóng viên nữ rằng cô sẽ dừng trả lời phỏng vấn với một phóng viên nữ, vì, "Tôi không tin những người phụ nữ khác trong những tình huống như thế này. Họ tìm cách thiết lập tình chị em với bạn rồi họ phản bội bạn".[12] What was perceived to be a cold side to her personality was also noted by Logan,[15] nhưng Paige đã bày tỏ quan điểm rằng có một sự hiểu nhầm về cô, mà mọi người thường gặp phải, là cô tự tin và rất nghiêm túc.[78] Một biên tập viên khác nhận thấy cô "refreshingly down-to-earth" và "rất thân thiện".[22]

Paige là người bảo trợ của một số tổ chức từ thiện. Cô hỗ trợ cho Breast Cancer Care và The Lupus Trust,[79] sau khi cô được xác định bị Lở năm 1989.[80] Paige cũng tham gia tổ chức The Children's Trust trong 15 năm, cũng như chọn một trong những tổ chức từ thiện khác để hộ trợ mỗi năm, ví dụ như tổ chức Chữ thập đỏ.[79] Cô đồng thời cũng hỗ trợ tổ chức Everychild, vì họ cô đã có một chuyến thi công khai tới Peru vào tháng 2 năm 2003.[81]

Quan điểm về sân khấu[sửa | sửa mã nguồn]

Dù Paige có một sự nghiệp diễn nhạc kịch lâu năm, nhưng cô hiếm khi đến xem các vở nhạc kịch, và thường xem các bộ phim và kịch nói hơn.[79] Hơn thế nữa, cô quan tâm đến sự nghiệp diễn viên hơn là một ca sĩ,[12] cô nói rằng, "Tôi thật sự muốn in character".[4] So sánh giữa công việc của Rodgers và Hammerstein với công việc của Lloyd Webber, Paige nói rằng cô nhận thấy Rodgers và Hammerstein more difficult and formal to sing, and described it as challenging. Cô kết luận rằng, "it's a quieter kind of singing, more controlled, not belting it out".[12]

Paige đã cho biết những nhu cầu vật chất của việc diễn kịch: "Nhạc kịch là việc khó nhất mà các diễn viên từng làm. Bạn bị ám ảnh về việc ngủ, ăn đúng loại thức ăn, không nói và để giữ giọng cho mình và tiếp tục luyện tập ".[8] Đối với những áp lực của việc ở trong điều kiện diễn thiếu thốn mỗi đêm ở sân khấu, cô nói rằng "Bạn không muốn đọc các lá thư người khác viết khi you're off và họ không hài lòng — Nó thật khủng khiếp, the guilt one feels for not being there".[12] Như một phần của cuộc sống hàng ngày khủng khiếp trước các vở nhạc kịch, cô phải chăm sóc giọng của mình, dừng ăn các sản phẩm từ sữa và uống rượu và cũng tập trung hơn vào việc bảo vệ sức khỏe.[12] Sau khoảng 3 tháng khi giọng của cô đã mệt mỏi vì phải diễn, cô bỏ cả cuộc sống xã hội, chỉ đôi khi giữ liên lạc thông qua notepad và fax.[12] Cô cũng không bao giờ đọc các bài phê bình của các nhà phê bình, cô nhận ra rằng sẽ không tốt nếu có quá nhiều ý kiến.[6]

Paige đã đặt tên cho series chương trình người thật việc thật như Any Dream Will Do, với mục đích tìm một diễn viên không tên tuổi để làm diễn viên chính trong một vở nhạc kịch, như hiểm họa lớn nhất đối với nhạc kịch hiện đại, cô tin rằng "các diễn viên, đã cố gắng trên sân khấu, không mơ đặt chính họ trong các chương trình như thế này".[6] Trong một cuộc phỏng vẫn sau đó, cô đặt một câu hỏi về mức độ nghiêm trọng của các diễn viên tham gia thử giọng cho loại hình biểu diễn này: "bạn không đặt chính mình lên trên một trong những buổi biểu diễn này trong trường hợp bạn bị giết và tất cả các đồng nghiệp của bạn đều nhìn thấy".[15] Cô cũng biểu thị một mong muốn về việc nhiều vở nhạc kịch mới được dàn dựng, thay vì làm lại các vở kịch cũ.[22]

Stage roles[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian Sản phẩm(vở kịch) Vai Sân khấu Các giải thưởng[27]
1968–1970 Hair Member of the Tribe Sân khấu Shaftesbury
1973–1974 Grease Sandy New London Theatre
1974–1975 Billy Rita Nhà hát hoàng gia, Drury Lane
1975–1976 The Boyfriend Maisie Sân khấu Haymarket, Leicester
1978–1980 Evita Eva Perón Sân khấu Prince Edward
1981–1982 Cats Grizabella Sân khấu New London
1983–1984 Abbacadabra Miss Williams/Carabosse Sân khấu Lyrice, Hammersmith
1986–1987 Chess Florence Vassy Sân khấu Prince Edward
  • 1986: Giải Variety Club for Recording Artiste of the Year
  • 1986: Đề cử giải Laurence Olivier for diễn xuất xuất sắc của năm cho một nữ diễn viên nhạc kịch trong Chess[31]
  • 1987: Head of the Year Award
1989–1990 Anything Goes Reno Sweeney Sân khấu Prince Edward
  • 1989: Đề cử giải Laurence Olivier for diễn xuất xuất sắc của năm cho một nữ diễn viên nhạc kịch trong Anything Goes[33]
1993–1994 Piaf Édith Piaf Sân khấu Piccadilly
  • 1994: Huy chương vàng của giải Merit BASCA
  • 1994: Đề cử giải Laurence Olivier for diễn xuất của năm cho một nữ diễn viên nhạc kịch trong Piaf[34]
1994, 1995-1996, 1996–1997 Sunset Boulevard Norma Desmond Sân khấu Adelphi rồi đến Sân khấu Minskoff
1998 Le Misanthrope Célimène Sân khấu Piccadilly
  • 1999: Lifetime Achievement National Operatic and Dramatic Association
2000–2001 The King and I Anna Leonowens London Palladium
2003 Where There's a Will Angèle Sân khấu Yvonne Arnaud rồi đến Sân khấu hoàng gia Brighton
2004 Sweeney Todd – The Demon Barber of Fleet Street Mrs Lovett Nhà hát Opera thành phố New York
  • 2004: Đề cử giải Drama Desk cho nữ diễn viên xuất sắc trong một vở nhạc kịch ở Sweeney Todd
2007 The Drowsy Chaperone The Drowsy Chaperone/Beatrice Stockwell Sân khấu Novello
  • 2007: What's On Stage Award nomination for Best Supporting Actress in a Musical in The Drowsy Chaperone[71]

Discography[sửa | sửa mã nguồn]

Solo albums[sửa | sửa mã nguồn]

Year Album title Other notes
1978 Sitting Pretty
1981 Elaine Paige
1983 Stages
1984 Cinema
1985 Love Hurts
1986 Christmas
1987 Memories: The Best Of Elaine Paige
1988 The Queen Album
1990 The Collection
1991 Love Can Do That
1991 An Evening With Elaine Paige Live recordings of her 1991 UK Tour
1993 Romance & the Stage
1994 Piaf Songs featured in the musical Piaf
1995 Encore Including three songs from the musical Sunset Boulevard
1996 Performance Live recordings of her 1991 UK Tour
1997 From a Distance A compilation of Love Can Do That and Romance & the Stage plus two tracks from the 1991 UK Tour
1998 On Reflection: The Very Best Of Elaine Paige
2004 Centre Stage: The Very Best Of Elaine Paige Including 9 previously unreleased studio recordings and 3 live recordings
2006 Essential Musicals
2007 Songbook
2009 Elaine Paige Live Live recording made as part of Paige's tour celebrating 40 years since she first appeared in the West End

Cast recordings[sửa | sửa mã nguồn]

Year Album title Other notes
1974 Billy Original London Cast Recording
1978 Evita Original London Cast Recording
1981 Cats Original London Cast Recording
1984 Chess
1989 Anything Goes 1989 London Cast Recording
1992 Nine
2000 The King and I 2000 London Cast Recording

Other albums and guest appearances[sửa | sửa mã nguồn]

Year Album title Other notes
1998 Songs from Whistle Down the Wind Recording of the song "If Only"
2000 Michael Ball - Christmas Duet on "As Long As There's Christmas"
2001 Andrew Lloyd Webber — Masterpiece Live recording of concert at the Great Hall of the People, Beijing, China.

Videos and DVDs[sửa | sửa mã nguồn]

Year Album title Other notes
1985 Lyrics by Tim Rice Performances of "Don't Cry for Me Argentina" and "I Know Him So Well"
1991 Elaine Paige in Concert Live recording at the Birmingham Symphony Hall of 1991 concert tour
1998 Andrew Lloyd Webber — Celebration Live performances of "Don't Cry for Me Argentina" and "Memory"
2001 Andrew Lloyd Webber — Masterpiece Live performances of "Don't Cry for Me Argentina", "The Heart is Slow to Learn", "Memory", "The Perfect Year", "As If We Never Said Goodbye", "No Matter What" and "Ni Yong You Wo De Wei Lai — Friends for Life" (The Chinese translation of "Amigos Para Siempre")

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ Gans, Andrew. DIVA TALK: Meet Broadway's New Norma, Elaine Paige. Playbill, ngày 11 tháng 9 năm 1996. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2008. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “newnorma” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ a ă â b c d Fox, Sue. Relative Values: Elaine Paige, singer, and her sister, Marion. The Times, ngày 23 tháng 5 năm 2004. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  3. ^ a ă Elaine is a little cross. The Daily Express, ngày 14 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 21 tháng 1 năm 2007.
  4. ^ a ă â b Copstick, Kate. A new Paige. The Scotsman, ngày 21 tháng 10 năm 2006. Lấy lại ngày 18 tháng 1 năm 2008.
  5. ^ a ă â Actress and singer Elaine Paige. abc.net.au, ngày 11 tháng 10 năm 2005. Lấy lại ngày 7 tháng 1 năm 2008.
  6. ^ a ă â b Barnett, Laura. Portrait of the artist: Elaine Paige, actor. The Guardian, ngày 22 thasng5 năm 2007. Lấy lại ngày 7 tháng 1 năm 2008.
  7. ^ a ă â Angie Davidson Interviews Elaine Paige. lupus.org.uk. Lấy lại ngày 10 tháng 3 năm 2008.
  8. ^ a ă â b c d đ e ê Shenton, Mark. Turning another Paige - Elaine Paige. The Stage, ngày 10 tháng 12 năm 2004. Lấy lại ngày 12 tháng 4 năm 2008. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “thestageturning” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  9. ^ a ă â Elaine Paige Shows. Trang Web chính thức của Elaine Paige. Lấy lại ngày 2 tháng 7 năm 2008.
  10. ^ a ă Fessier, Bruce. Keep turning the Paige. The Desert Sun, ngày 10 tháng 8 năm 2008. Lấy lại ngày 14 tháng 8 năm 2008.
  11. ^ Programmes - Ron Moody. BBC, ngày 25 tháng 11 năm 2007. Lấy lại ngày 21 tháng 5 năm 2008.
  12. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Barber, Lynn. Show girl. The Guardian, ngày 16 tháng 5 năm 2000. Lấy lại ngày 7 tháng 1 năm 2008. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “show” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  13. ^ a ă Qiao, Michelle. Elaine Paige sings to Shanghai. China Daily, ngày 12 tháng 12 năm 2006. Lấy lại ngày 18 tháng 1 năm 2008. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “shanghai” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  14. ^ Lloyd Webber to revive Evita show. BBC News, ngày 31 tháng 1 năm 2006. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  15. ^ a ă â b c d đ e Logan, Brian. The turning of the Paige. The Times, ngày 4 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 6 tháng 1 năm 2008.
  16. ^ a ă The Nominees and Winners of The Laurence Olivier Awards for 1978. Society of London Theatre. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.
  17. ^ a ă â b Elaine Paige to Return to the West End in B'way Hit The Drowsy Chaperone. london.broadway.com. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  18. ^ a ă â Shenton, Mark. Elaine Paige. london.broadway.com, ngày 11 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.
  19. ^ a ă Record-breaking Cats bows out. BBC News, ngày 15 tháng 1 năm 2002. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  20. ^ a ă Marks, Peter. Cover Story; Broadway's 'Cats': Restaged for Eternity (And We Thought They Were Kidding!). The New York Times, ngày 1 tháng 11 năm 1998. Lấy lại ngày 6 tháng 1 năm 2008.
  21. ^ Elaine Paige launches eisteddfod. BBC News, ngày 9 tháng 7 năm 2008. Lấy lại ngày 13 tháng 7 năm 2008.
  22. ^ a ă â b c Price, Karen. Elaine Paige - the First Lady of Theatre. Western Mail, ngày 27 tháng 6 năm 2008. Lấy lại ngày 29 tháng 6 năm 2008.
  23. ^ Milner, Catherine. Lloyd Webber's Cats give their final miaow. The Daily Telegraph, ngày 5 tháng 12 năm 2002. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  24. ^ Paws and play - Cats goes to video. BBC News, ngày 1 tháng 10 năm 1998. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  25. ^ Elaine Paige Biography. Elaine Paige Official Website. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  26. ^ a ă Blackman, Jaine. Elaine Page & Michael Ball - The Rec. Swindon Advertiser, ngày 15 tháng 7 năm 2006. Lấy lại ngày 19 tháng 1 năm 2007.
  27. ^ a ă Elaine Paige career profile. Elaine Paige Official Website. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  28. ^ Groban & Menzel Star in Chess at Royal Albert Hall. whatsonstage.com, ngày 11 tháng 1 năm 2008. Lấy lại ngày 19 tháng 1 năm 2008.
  29. ^ Corliss, Richard. A Hit Show for the Record. Tạp chí Time, ngày 18 tháng 3 năm 1985. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  30. ^ Bạn hỏi các câu hỏi (Ví dụ như: Elaine Paige, cô đã bao giờ hát trong một quán ba chưa?). The Independent, ngày 7 tháng 6 năm 2000. Lấy lại ngày 29 tháng 1 năm 2008.
  31. ^ a ă The Nominees and Winners of The Laurence Olivier Awards for 1986. Society of London Theatre. Lấy lại ngày 24 tháng 1 năm 2008.
  32. ^ Trucco, Terry. A London Accent for 'Anything Goes'. The New York Times, ngày 25 tháng 7 năm 1989. Lấy lại ngày 21 tháng 3 năm 2008.
  33. ^ a ă The Nominees and Winners of The Laurence Olivier Awards for 1989/90. Society of London Theatre. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.
  34. ^ a ă The Nominees and Winners of The Laurence Olivier Awards for 1994. Society of London Theatre. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.
  35. ^ Piaf. Amazon. Lấy lại ngày 19 tháng 2 năm 2008.
  36. ^ a ă â Elaine Paige returns to West End. BBC News, ngày 18 tháng 1 năm 2007. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  37. ^ a ă 54066/page/ “No. số 54066”. The London Gazette (invalid |supp= (trợ giúp)). Ngày 16 tháng 6 năm 1995. 
  38. ^ a ă The Nominees and Winners of The Laurence Olivier Awards for 1996. Society of London Theatre. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.
  39. ^ Weber, Bruce. The Fans Kept Howling for More, but That's All There Was. The New York Times, ngày 24 tháng 3 năm 1997. Lấy lại ngày 11 tháng 7 năm 2008.
  40. ^ Brantley, Ben. Growth Factor: It's a Force of Will. The New York Times, ngày 13 tháng 9 năm 1996. Lấy lại ngày 27 tháng 3 năm 2008.
  41. ^ Gans, Andrew. Diva Talk: Elaine Shines/ Betty Sings. Playbill, ngày 13 tháng 9 năm 1996. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.
  42. ^ a ă Barber, Richard. Getting to know me: Elaine Paige. Daily Mirror, ngày 16 tháng 4 năm 2000. Lấy lại từ findarticles.com vào ngày 6 tháng 1 năm 2008.
  43. ^ a ă Torreano, Bradley. Elaine Paige Biography. MTV. Lấy lại ngày 29 tháng 3 năm 2008.
  44. ^ Gans, Andrew. Diva Talk: Together at Last (Again): Elaine in Boston; Patti in London. Playbill, ngày 16 tháng 5 năm 1997. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.
  45. ^ Van Gelder, Lawrence. Footlights. The New York Times, ngày 7 tháng 4 năm 1998. Lấy lại ngày 7 tháng 1 năm 2008.
  46. ^ Gans, Andrew. Diva Talk: Charitable Divas and More. Playbill, ngày 7 tháng 5 năm 1999. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.
  47. ^ Low, Valentine. New Paige turns for King and I. The London Evening Standard, ngày 25 tháng 4 năm 2000. Lấy lại ngày 21 tháng 1 năm 2007.
  48. ^ King and I opens in triumph. BBC News, ngày 4 tháng 5 năm 2000. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.
  49. ^ Butler, Robert. All dressed up but going nowhere. The Independent, ngày 8 tháng 5 năm 2000. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.
  50. ^ Morley, Sheridan. The first lady sings. The Spectator, ngày 13 tháng 5 năm 2000. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.
  51. ^ Ehren, Christine.Elaine Paige Sings for Olympics Feb. 15-16; Makes L.A. Concert Debut Feb. 20-21. Playbill, ngày 15 tháng 2 năm 2002. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.
  52. ^ Zinoman, Jason. On Stage And Off. The New York Times, ngày 30 tháng 1 năm 2004. Lấy lại ngày 6 tháng 1 năm 2008.
  53. ^ New York City Opera's Sweeney Todd reviews. The Stephen Sondheim Society, ngày 12 tháng 3 năm 2004. Lấy lại ngày 9 tháng 5 năm 2008.
  54. ^ Gans, Andrew. Elaine Paige to Record New Theatre Album. Playbill, ngày 25 tháng 6 năm 2006. Lấy lại ngày 24 thasng2 năm 2008.
  55. ^ Gans, Andrew. Elaine Paige to Launch "No Strings Attached Tour" in May. Playbill, ngày 25 tháng 12 năm 2003. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.
  56. ^ Lulu stars in new Radio 2 line-up. BBC News, ngày 3 tháng 8 năm 2004. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  57. ^ Mahoney, Elisabeth. Shrill by mouth. The Guardian, ngày 30 tháng 5 năm 2005. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  58. ^ Martland, Lisa. Radio - light programme. The Stage, ngày 30 tháng 4 năm 2007. Lấy lại ngày 12 tháng 4 năm 2008.
  59. ^ Gans, Andrew. West End Star Elaine Paige to Host BBC Radio Program . Playbill, ngày 11 tháng 8 năm 2004. Lấy lại ngày 24 tháng 6 năm 2008.
  60. ^ a ă â b c Marlow, Will. Rock and pop. Manchester Evening News, ngày 17 tháng 10 năm 2006. Lấy lại ngày 6 tháng 1 năm 2008.
  61. ^ Weekly Viewing Summary. See w.e 02/01/05. Broadcasters' Audience Research Board. Lấy lại ngày 9 tháng 3 năm 2008.
  62. ^ Weekly Viewing Summary. See w.e 10/07/05. Broadcasters' Audience Research Board. Lấy lại ngày 9 tháng 3 năm 2008.
  63. ^ Gans, Andrew. Paige, Streisand and More Featured on Secret Garden's "Inside I'm Singing" CD. Playbill, ngày 4 tháng 12 năm 2007. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.
  64. ^ Paige starts Antipodes tour. The Stage, ngày 20 tháng 9 năm 2005. Lấy lại ngày 12 tháng 4 năm 2008.
  65. ^ a ă Bishop, Caroline. The Big Interview: Elaine Paige. Society of London Theatre, ngày 6 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 6 thasng1 năm 2007.
  66. ^ Baluch, Lalayn. West End’s The Drowsy Chaperone to close in August. The Stage, ngày 10 tháng 7 năm 2007. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  67. ^ Hastings, Chris and Jones, Beth. Early curtain call for 25 West End shows. The Daily Telegraph, ngày 29 tháng 7 năm 2007. Lấy lại ngày 8 tháng 3 năm 2008.
  68. ^ Ouzounian, Richard. Drowsy Chaperone wakes up British critics. The Star, ngày 8 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.
  69. ^ Spencer, Charles. Frothy and inane, but curiously touching. The Daily Telegraph, ngày 7 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.
  70. ^ Taylor, Paul. The Drowsy Chaperone, Novello Theatre, London. The Independent, ngày 8 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.
  71. ^ a ă WOS Theatregoers' Choice Nominees Announced. whatsonstage.com, ngày 7 tháng 12 năm 2007. Lấy lại ngày 22 tháng 2 năm 2008.
  72. ^ Sport Relief. The Daily Mirror, ngày 14 tháng 3 năm 2008. Lấy lại ngày 15 tháng 3 năm 2008.
  73. ^ Elaine Paige to open latest chapter of International Musical Eisteddfod. Wrexham Evening Leader, ngày 15 tháng 1 năm 2008. Lấy lại ngày 8 tháng 5 năm 2008.
  74. ^ Gans, Andrew. Elaine Paige Memoir, "Memories," Arrives in U.K. Stores Oct. 2. Playbill, ngày 2 tháng 10 năm 2008. Lấy lại ngày 18 tháng 10 năm 2008.
  75. ^ Bertodano, Helena de. Tunes are child's play. The Daily Telegraph. Lấy lại ngà 6 tháng 1 năm 2008.
  76. ^ a ă â b Hardy, Rebecca. Elaine's close curtain call. The Daily Mail, ngày 8 tháng 5 năm 2004. Lấy lại ngày 6 tháng 1 năm 2008.
  77. ^ Cummins, Fiona. Elaine's Secret Breast Cancer Battle. Daily Mirror, ngày 8 tháng 5 năm 2004. Lấy lại ngày 7 tháng 1 năm 2008.
  78. ^ Dykes, Andy. The 5-Minute Interview: Elaine Paige, Singer, actor and broadcaster. The Independent, ngày 14 tháng 5 năm 2007. Lấy lại ngày 18 tháng 1 năm 2008.
  79. ^ a ă â Ellis, James. Elaine Page Interview. Metro, ngày 5 tháng 1 năm 2001. Lấy lại ngày 7 tháng 1 năm 2008.
  80. ^ Burne, Jerome. Living with lupus. The Times, ngày 7 tháng 6 năm 2004. Lấy lại ngày 6 tháng 1 năm 2008.
  81. ^ Elaine Paige. everychild.org.uk. Lấy lại ngày 10 tháng 1 năm 2008.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:BBC Radio 2