Elena Ceaușescu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Elena Ceaușescu
Elena Ceausescu portrait.jpg
Chức vụ
Phó thủ tướng Romania
Nhiệm kỳ 9 tháng 12 năm 1967 – 22 tháng 12 năm 1989
Kế nhiệm Nina Iliescu
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Romania
Sinh 7 tháng 1, 1916(1916-01-07)
Petrești, Dâmbovița, Romania
Mất 25 tháng 12, 1989 (73 tuổi)
Târgoviște, Dâmbovița, Romania
Con cái Valentin
Zoia
Nicu

Elena Ceaușescu (phát âm tiếng România: [eˈlena t͡ʃe̯auˈʃesku]; nhũ danh Lenuța Petrescu; 7 tháng 1 năm 1916 - 25 tháng 12 năm 1989) là vợ của Nicolae Ceauşescu, lãnh tụ cộng sản của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Romania. Bà cũng là Phó Thủ tướng Romania.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bà sinh Lenuţa Petrescu thành một gia đình nông dân ở xã Petreşti, huyện Dâmboviţa, trong khu vực phi chính thức Wallachia. Cha của bà làm thợ cày. Học bạ cho thấy cô phải bỏ học lớp 4 vì không có khả năng tiếp tục. Sau khi học tiểu học, cô chuyển đến sống cùng với anh trai cô đến Bucharest, nơi cô làm trợ lý phòng thí nghiệm trước khi làm việc tại một nhà máy dệt. Cô gia nhập Đảng Cộng sản Romania năm 1939 và gặp Nicolae Ceauşescu, 21 tuổi. Ceauşescu ngay lập tức bị sức hút của cô choán hết tâm trí và ông không bao giờ yêu người phụ nữ khác nữa[2]. Mối quan hệ của họ đã bị gián đoạn bởi các cuộc đình công thường xuyên của Ceauşescu trong tù, nhưng cuối cùng họ đã kết hôn vào ngày 23 tháng 12 năm 1947sau khi chồng bà thâu tóm hết quyền lực,sau đó ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền gọi bà là "Mẹ dân tộc"

Sự nghiệp trong chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Elena Ceauşescu nhận bằng tiến sĩ danh dự tại Manila (1975).

Sau khi đảng cộng sản nắm quyền, Ceauşescu làm thư ký của Bộ Ngoại giao và là một nhân vật không quan trọng cho đến khi chồng cô trở thành tổng thư ký của đảng. Bắt đầu vào tháng 7 năm 1972, Elena Ceauşescu được bổ nhiệm các chức vụ khác nhau ở cấp cao trong Đảng Cộng sản Rumani. Tháng 6 năm 1973, bà trở thành thành viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Romania, trở thành người quan trọng thứ hai sau Ceauşescu. Bà đã tham gia sâu vào quản lý đảng bên cạnh chồng cô, và là một trong số ít vợ chồng của một lãnh đạo Đảng Cộng sản có chức vụ cao trong đảng và nhà nước.

Ceauşescu thường xuyên đi cùng chồng khi đi viếng thăm chính thức nước ngoài. Trong chuyến thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào tháng 6 năm 1971, bà đã nhận thấyrằng vợ của Chủ tịch Mao Trạch Đông Giang Thanh, nắm giữ quyền lực thực sự. Có nhiều khả năng lấy cảm hứng từ điều này, bà bắt đầu tìm cách gia tăng vị thế chính trị của mình ở Romania. Tháng 7 năm 1971, bà được bầu làm Uỷ viên Trung ương về dự báo kinh tế-xã hội, và tháng 7 năm 1972, bà trở thành thành viên chính thức của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Rumani. Tháng 6 năm 1973, sau khi được Emil Bodnăraş đề cử, bà được bầu vào Ban Chấp hành Đảng. Vào tháng 11 năm 1974, tại Đại hội Đảng lần thứ 11, bà đã trở thành ủy viên Bộ chính trị (được đổi tên), và tháng 1 năm 1977, bà trở thành thành viên của cơ quan cao nhất của đảng, ủy viên thường vụ Chính trị. Vào tháng 3 năm 1975, bà được bầu vào Quốc hội Đại hội toàn quốc, nắm giữ chức vụ của Piteşti, hạt Arges, khu vực công nghiệp quan trọng nhất của đất nước, cho đến khi bà chết vào năm 1989. Vào tháng 3 năm 1980, bà được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng thứ nhất.Cuối năm 1989, xảy ra đảo chính ở Rumani lật đổ chế độ độc tài Ceausescu. Hai vợ chồng Ceausescu bỏ trốn bằng máy bay trực thăng ra khỏi Bucharest, nhưng sau đó bị cảnh sát bắt giữ. Họ bị lôi ra xử và kết án tử hình trong một phiên tòa cấp tốc chỉ kéo dài chưa đầy 2 tiếng đồng hồ vào ngày 25/12/1989. Trong phiên tòa, Elena Ceausescu vẫn kiêu ngạo tự nhận mình là nhà khoa học lớn. Hai vợ chồng Ceausescu bị đem ra xử bắn ngay trong ngày hôm đó. Kết thúc bi kịch của Ceausescu mở ra một trang sử mới cho Rumani.[3]

Khoa học gia rởm[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong các ý tưởng nổi tiếng của "khoa học gia" Elena là phát triển kinh tế bằng cách đẻ thật nhiều để “tạo sức lao động”. Từ năm 1966, luật của Rumani cấm các biện pháp tránh thai và nạo thai. Thay vào đó, mỗi phụ nữ được yêu cầu phải đẻ ít nhất 4-5 con. Dân số bùng nổ và quản lý kinh tế yếu kém đẩy Rumani vào tình trạng nghèo đói đến mức nhiều gia đình Rumani không có khả năng nuôi con, phải gửi con vào trại trẻ mồ côi. Do điều kiện chắm sóc quá tồi và thiếu ăn, nên phần lớn các trẻ em trong các trại mồ côi đó bị ốm yếu bệnh tật cả về thể xác lẫn tinh thần. Trong những năm 1980, hàng nghìn trẻ em trong các trại này bị nhiễm bệnh SIDA do truyền máu, nhưng hội đồng y tế quốc gia do Elena Ceausescu cầm đầu thì khẳng định là “không thể có bệnh SIDA ở Rumani”.

“Mẹ dân tộc” sẽ không tha thứ cho kẻ nào dám vượt trội mình. Một lần, trong một chuyến đi thăm Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), có bộ trưởng ngoại giao Rumani và vợ của ông ta đi theo, ông thủ tướng Turkey tưởng nhầm vợ của ông bộ trưởng ngoại giao là bà Ceausescu vì trông bà ta sáng sủa nhất, tuy rằng bà Ceausescu đứng ngay cạnh đấy và ăn vận bộ đồ vô cùng đắt tiền. Hai hôm sau, ông bộ trưởng này liền bị cách chức.

Viện sĩ trình độ lớp 4[sửa | sửa mã nguồn]

Để khẳng định vị trí “mẹ dân tộc” của mình, Elena Ceausescu đã lựa chọn “con đường khoa học”. Bà ta ghi tên làm tiến sĩ về hóa học ở Bucharest theo hệ học từ xa buổi tối. Với tấm bằng tiến sĩ, bà Ceausescu nhanh chóng trở thành “nhà khoa học lỗi lạc”, viện trưởng Viện hóa học vào năm 1965 (?), rồi chủ tịch hội đồng quốc gia về khoa học và công nghệ vào năm 1970, viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Rumani vào năm 1974, chủ tịch hội đồng quốc gia về văn hóa và giáo dục vào năm 1975. Hàng loạt bài báo khoa học, đặc biệt là về các vật liệu polymer, được ký tên Ceausescu. Người ta gọi bà một cách kính cẩn là “kỹ sư tiến sĩ viện sĩ Elena Ceausescu”. Bà ta còn ứng cử vào chức Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học, tuy không được bầu.

Một giáo sư người gốc Rumani hiện làm việc ở Paris kể câu chuyện sau: Khi làm Viện trưởng Viện hóa học, bà Ceausescu đưa ra 3 cải cách mà các nhà khoa học Rumani sẽ còn nhớ lâu. Đó là:

– Những người làm việc trong viện phải mặc đồng phục, mỗi tầng mặc một màu khác nhau (như vậy sẽ dễ nhận biết ai có lảng vảng ở tầng không thuộc phận sự của mình).

– Ai đi vào nhà vệ sinh, thì phải ghi giờ đi vào và đi ra khỏi nhà vệ sinh.

– Đóng cửa thư viện. (Kẻ nào mà cần tra cứu sách thư viện, tức là kẻ đó chưa đủ kiến thức trong đầu, không xứng đáng được làm ở viện!)

Đằng sau lưng, người ta gán cho bà Ceausescu biệt danh “codoi”, vì bà ta thậm chí không biết đọc đúng ký hiệu CO2 và đọc nó thành “codoi”, nhưng tiếng Rumani “codoi” có nghĩa là cái đuôi. Sự vô học của bà ta là một “điều bí mật mà ai cũng biết”. Sau năm 1989, các nhà khoa học Rumani khẳng định là các “công trình khoa học” của Elena đều do nhữngngười khác viết, do đồng lõa hoặc bị ép buộc. Nhưng dưới thời Ceausescu, ai dám mở miệng nói ra những điều như vậy sẽ bị trừng trị thích đáng. Nhà hóa học Rumani nổi tiếng thế giới, ông Cristofor Simionescu, bị cách chức hiệu trưởng Bách Khoa Iasi năm 1976 sau khi nói với Đại sứ Liên Bang Đức là bà Ceaucescu là “kẻ mù chữ” (trong một cuộc nói chuyện riêng, nhưng bị cơ quan an ninh của Rumani ghi âm). Một số nhà khoa học bị đuổi việc, hoặc thậm chí bị đi tù, vì dám gọi chệch một quyển sách về polymere ký tên bà ta thành polypere (tiếng Rumani: mere là quả táo, pere là quả lê). Ngược lại, những nhân vật khoa học chấp nhận “ăn theo” Ceausescu sẽ được thăng quan tiến chức. Trong đó có một người nổi bật tên là Ion Ursu, chuyên “viết thuê” cho bà ta.

Hơn 100 văn bằng danh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1978, hai vợ chồng Ceausescu được nữ hoàng Anh mời thăm chính thức (thường mỗi năm nữ hoàng Anh chỉ mời 2 nguyên thủ quốc gia). Tất nhiên, có sự vụ lợi của Anh trong việc mời mọc này. Về mặt kinh tế, họ đang chào bán cho Rumani một loạt 80 máy bay dân sự (nhãn hiệu BAC 1-11, với động cơ Rolls-Royce), và hợp đồng mua bán này sẽ được ký trong chuyến đi thăm London của Ceausescu. Về phía Ceausescu, đây cũng là dịp để họ khẳng định vị trí chính trị của mình. Elena Ceausescu đòi hỏi Viện hàm lâm hoàng gia Anh (Royal Society) và Đại học Oxford phong danh hiệu viện sĩ và tiến sĩ danh dự. Tuy nhiên cả hai nơi đều từ chối. Giới khoa học Anh thừa biết “tiểu sử khoa học” rởm của bà ta. Cuối cùng, các nhà ngoại giao móc nối được hai nơi khác, là Royal Institute of Chemistry đồng ý phong danh hiệu thành viên danh dự (honorary fellow) cho bà ta, và Polytechnic of Central London đồng ý phong danh hiệu giáo sư danh dự. Trong các buổi lễ phong danh hiệu danh dự đó, Elena Ceausescu đã được mấy nhân vật có quyền lực trong giới khoa học của Anh đọc diễn văn tâng bốc lên thành “nhà hóa học lỗi lạc, với những công trình ảnh hưởng lớn đến nhân loại”.

Elena Ceausescu nhận được các danh hiệu viện sĩ, tiến sĩ hay giáo sư danh dự không chỉ ở Anh, mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới, trong đó có cả Mỹ, Pháp, Mexico, Hy lạp, v.v. Cứ nơi đâu mà vợ chồng Ceausescu đặt chân tới theo danh nghĩa nguyên thủ quốc gia, thì các nhà ngoại giao và các nhà khoa học của Rumani được giao chỉ thị phải mặc cả cho được danh hiệu danh dự của một vài tổ chức khoa học uy tín tại nơi đó. Tất nhiên, đối với dân chúng, lần nào cũng sẽ là viện hay trường nước ngoài “rất kính trọng và đánh giá cao các công trình khoa học vĩ đại của bà, và vì nể họ nên bà nhận bằng danh dự mà họ muốn được trao tặng bà”. Tổng cộng, Elena Ceausescu thu thập được hơn 100 danh hiệu danh dự như vậy.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Árpád Szoczi, Timisoara: The Real Story Behind the Romanian Revolution, 2013, ISBN 9781475958744
  2. ^ Sebetsyen, Victor (2009). Revolution 1989: The Fall of the Soviet Empire. New York City: Pantheon Books. ISBN 0-375-42532-2. 
  3. ^ Enhanced Personality Cult for Elena Ceausescu 1986-1-8

3.http://zung.zetamu.net/2010/01/elena-ceausescu-d%E1%BB%89nh-cao-c%E1%BB%A7a-khoa-h%E1%BB%8Dc-r%E1%BB%9Fm/