Elton John

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sir Elton John
Elton John 2011 Shankbone 2.JPG
John tại Liên hoan phim Tribeca 2011
Sinh Reginald Kenneth Dwight
25 tháng 3, 1947 (69 tuổi)
Pinner, Middlesex, Anh
Công việc
  • Nhạc sĩ
  • ca sĩ
  • nhà phổ nhạc
Năm hoạt động 1962–nay
Người phối ngẫu Renate Blauel (kết hôn  1984–1988) «start: (1984)–1988 (1988-end+1:)»"Hôn nhân: Renate Blauel đến Elton John" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Elton_John)
David Furnish (kết hôn  2014–nay) «start: (2014)»"Hôn nhân: David Furnish đến Elton John" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Elton_John)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
  • Hát
  • dương cầm
Hãng đĩa
Website eltonjohn.com

Sir Elton Hercules John, (tên thật Reginald Kenneth Dwight; sinh ngày 25 tháng 3 năm 1947)[1][2][3] là một nhạc công dương cầm, ca sĩ kiêm sáng tác và nhà soạn nhạc người Anh. Ông hợp tác với nhạc sĩ Bernie Taupin trong hơn 30 album phòng thu, kể từ năm 1967 đến nay. Sinh trưởng tại khu vực Pinner của Luân Đôn, ông học chơi dương cầm từ khi còn nhỏ và thành lập nên nhóm Bluesology năm 1962. Trong hai năm, John và Taupin sáng tác nhiều bài hát cho các nghệ sĩ khác, bao gồm Roger CookLulu, trong khi ông trở thành một nhạc sĩ hỗ trợ cho the Holliesthe Scaffold. Năm 1969, ông phát hành album đầu tay Empty Sky. Năm 1970, đĩa đơn "Your Song" từ album thứ hai của ông, Elton John đạt top 10 tại Hoa Kỳ và Anh Quốc.

Trong sự nghiệp kéo dài 5 thập kỷ, Elton John đã bán hơn 300 triệu đĩa nhạc, giúp ông trở thành một trong những nghệ sĩ âm nhạc bán đĩa chạy nhất thế giới.[4][5] Ông có 7 album liên tiếp dẫn đầu tại Hoa Kỳ, 58 đĩa đơn đạt Billboard Top 40, 27 bài hát Top 10 và 9 bài hát quán quân. Trong 31 năm liên tiếp (1970–2000) ông có ít nhất 1 bài hát lọt vào Billboard Hot 100. Đĩa đơn "Candle in the Wind 1997" của ông chạm mốc 33 triệu bản trên toàn cầu, nằm trong những đĩa đơn bán chạy nhất lịch sử xếp hạng tại Hoa Kỳ và Anh Quốc.[6][7][8] Ông còn soạn nhạc, sản xuất thu âm và tham gia điện ảnh. John sở hữu Câu lạc bộ bóng đá Watford từ năm 1976 đến 1987 và từ 1997 đến 2002.

Ông là chủ nhân của 5 giải Grammy, 5 giải Brit—bao gồm giải "Đóng góp âm nhạc nổi bật" và "Biểu tượng Anh Quốc" vào năm 2013 cho "những ảnh hưởng kéo dài trong văn hóa Anh", một giải Oscar, một giải Quả cầu vàng, một giải Tony, một giải Disney LegendKennedy Center Honors năm 2004. Tạp chí âm nhạc Rolling Stone liệt ông vào danh sách "100 nhạc sĩ gây ảnh hưởng nhất kỷ nguyên Rock and Roll".[9] Năm 2013, Billboard gọi ông là nam nghệ sĩ đơn ca thành công nhất trong danh sách "The Billboard Hot 100 Top All-Time Artists", chỉ đứng sau the BeatlesMadonna.[10] Đại sảnh Danh vọng Sáng tácĐại sảnh Danh vọng Rock and Roll đều lần lượt vinh danh ông. Nữ hoàng Elizabeth II trao cho ông Tước Hiệp sĩ cho "những cống hiến đến âm nhạc và từ thiện" vào năm 1998.[11] John tham gia nhiều sự kiện hoàng gia, bao gồm lễ tang của Diana, Vương phi xứ Wales tại Westminster Abbey năm 1997, đêm nhạc Party at the Palace năm 2002 và Diamond Jubilee Concert của Nữ hoàng bên ngoài Cung điện Buckingham năm 2012.

Ông là một trong những người tiên phong trong cuộc chiến chống lại AIDS kể từ cuối thập niên 1980.[12] Năm 1992, ông thành lập Quỹ AIDS Elton John và chủ trì một bữa tiệc giải Oscar một năm sau đó, trở thành một trong những bữa tiệc Oscar nổi tiếng nhất ngành điện ảnh Hollywood. Từ khi mở cửa, quỹ đã thu về 200 triệu đô-la Mỹ.[13] John thông báo mình là người song tính năm 1976 và trở thành người đồng tính công khai kể từ năm 1988, tham gia vào phong trào công dân với David Furnish vào tháng 12 năm 2005. Sau khi Anh hợp thức hóa hôn nhân đồng giới, ông kết hôn với Furnish vào tháng 12 năm 2014.

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1947–61: Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

1962–69: Nghệ sĩ dương cầm và sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

1969–73: Empty Sky tới Goodbye Yellow Brick Road[sửa | sửa mã nguồn]

1974–79: The Rocket Record Company tới 21 at 33[sửa | sửa mã nguồn]

1980–89: The Fox tới Sleeping with the Past[sửa | sửa mã nguồn]

1990–99: The One tới Aida[sửa | sửa mã nguồn]

2000–09: Are You Ready for Love[sửa | sửa mã nguồn]

2010–nay[sửa | sửa mã nguồn]

Phong cách nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ bóng đá Watford[sửa | sửa mã nguồn]

Quỹ AIDS[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Elton John Band[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bản mẫu:Who's Who (cần đăng ký mua)
  2. ^ “Elton John – Songwriter, Singer”. Biography.com. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2015. 
  3. ^ Erlewine, Stephen Thomas. “Artist Biography [Elton John]”. AllMusic. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2014. 
  4. ^ Gundersen, Edna (23 tháng 9 năm 2013). “Elton still standing for gay rights, home, Tammy Faye”. USA Today. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2013. 
  5. ^ Gundersen, Edna (3 tháng 10 năm 2013). “Russian Imam against Elton John Concert”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013. 
  6. ^ “RIAA News Room – The American Recording Industry Announces its Artists of the Century”. Recording Industry Association of America website. RIAA. 10 tháng 11 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010. 'Candle in the Wind 1997' soon surpassed Bing Crosby's 'White Christmas' to become the best-selling single of all time. 
  7. ^ “Elton John: Biography – Rolling Stone Music”. Rolling Stone. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  8. ^ Guinness Book of Records 2009 states that "Candle in the Wind 1997" is the "best-selling single since charts began". John's 1997 song has sold the most copies when looking at copies sold since charts began, as verified in Guinness World Records. ISBN 1-904994-37-7.  See also: Guinness Book of Records, 2009 Edition, pages 14, 15 & 169 [1] Được lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2013 tại Wayback Machine
  9. ^ “The Immortals: The First Fifty”. Rolling Stone (946). 2 tháng 12 năm 2010. 
  10. ^ “Hot 100 55th Anniversary by the Numbers: Top 100 Artists, Most No. 1s, Biggest No. 2s & More”. Billboard. 2 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2015. 
  11. ^ “About: All About Elton: Bio”. Elton John. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010. 
  12. ^ “Elton John AIDS Foundation”. Ejaf.org. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010. 
  13. ^ “Elton John on his idol, Leon Russell”. Reuters. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
Nguồn

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]