Emmelie de Forest

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Emmelie de Forest
Emmelie de Forest, ESC2013 press conference 01.jpg
Emmelie de Forest (2013)
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Emmelie Engström
Nghệ danh Emmelie
Sinh 28 tháng 2, 1993 (24 tuổi)
Nguyên quán Randers, Đan Mạch
Nghề nghiệp Nữ ca sĩ
Hãng đĩa Universal Music

Emmelie Charlotte-Victoria de Forest (sinh ngày 28 tháng 2 năm 1993 tại Randers, Đan Mạch) và lớn lên tại Mariager (bán đảo Jutland[1][2]), thường được gọi là Emmelie de Forest, là một nữ ca sĩ người Đan Mạch. Cô đã đoạt giải nhất trong cuộc thi Eurovision Song Contest 2013 tại Malmö Thụy Điển với ca khúc "Only Teardrops" do Lise Cabble cùng Julia Fabrin Jakobsen viết, được Thomas Stengaard xuất bản.

Tháng 3 năm 2013 Emmelie de Forest đã ký một hợp đồng sản xuất đĩa nhạc với hãng Universal Music và thâu âm album nhạc đầu tiên của mình trong mùa xuân 2013.

Cuộc đời và Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Emmelie de Forest có mẹ là người Đan Mạch và cha là Ingvar Engström (1938–2010) người Thụy Điển, khi tới tuổi trưởng thành cô lấy tên là de Forest.[3] Forest đã bắt đầu sự nghiệp ca hát từ khi lên 9 tuổi, trong đó cô đã hát trong ca đoàn của nhà thờ và gospelkor (ban hợp ca thánh nhạc Phúc âm). Khi tròn 14 tuổi, cô đã hát và biểu diễn chung với nhạc sĩ Fraser Neill người Scotland trong 4 năm tại nhiều cuộc liên hoan ca nhạc khác nhau.[4]

Năm 2011 khi tròn 18 tuổi, Forest rời Mariager ở miền trung bán đảo Jutland sang cư ngụ ở Copenhagen, và theo học ở viện thanh nhạc Katrine Sadolin chuyên đào tạc các ca sĩ. Năm 2012 cô đã chơi guitar, viết nhiều ca khúc, thâu âm ở các phòng thâu âm và đi biểu diễn ở nhiều nơi.[4]

Khi tham dự Melodi Grand Prix năm 2013 cô quả quyết rằng mình là chít của nữ hoàng Victoria của Anh và là chút (great-grandchild) của vua Edward VII của Anh cùng một công chúa người Áo không nêu tên."[5][6][7][8] Ban đầu luận cứ nêu trên được sử dụng như một phần chiến thuật quảng cáo cho cô, nhưng đài phát thanh truyền hình DR của Đan Mạch đã không sử dụng,[5][9][10] vì nhiều nhà nghiên cứu phả hệ bác bỏ do không có tài liệu để chứng minh.[11][12][13][14]

Tham gia Melodi Grand Prix và album nhạc đầu tay[sửa | sửa mã nguồn]

Emmelie de Forest tại cuộc họp báo sau chiến thắng ở Eurovision 2013

Emmelie de Forest đoạt giải Dansk Melodi Grand Prix 2013Jyske Bank Boxen tại Herning (Jutland) ngày 26 tháng 1 năm 2013.[15]

Tháng 3 năm 2013 Emmelie de Forest ký một hợp đồng sản xuất đĩa hát với hãng Universal Music và nói với đài truyền hình Thụy Điển là mình sẽ xuất bản album nhạc đầu tiên trong mùa xuân 2013 [16].

Ngày 14 tháng 5 năm 2013 cô thi cuộc bán kết thứ nhất ở Eurovision Song Contest tại Malmö và được nhiều chuyên gia đánh giá là người rất có khả năng thắng cuộc thi này.[17] Cô lọt vào vòng chung kết diễn ra ngày 18 tháng 5 năm 2013Malmö Arena tại thành phố Malmö,nơi cô biểu diễn ca khúc thứ 18[18] Cô đã đoạt giải nhất với 281 điểm, số điểm cao nhất cho một ca khúc của Đan Mạch từ xưa tới nay.

Đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Title Album details Peak chart positions
DEN
[19]
Only Teardrops 13

Singles[sửa | sửa mã nguồn]

Year Title Vị trí cao nhất Album
DEN
[19]
BEL
[20]
NL
[21]
2013 "Only Teardrops" 1 11 4 Only Teardrops

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Fjordavisen Emmelie vandt Melodi grand prix
  2. ^ Emmelie de Forest vinder melodi grand prix
  3. ^ Bygbjerg, Søren (16 tháng 4 năm 2013). “DR: Blåt blod skal ikke markedsføre Emmelie”. DR. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  4. ^ a ă DR.dk Hentet den 27. januar 2013
  5. ^ a ă “DR i grandprix-panik: Tvivl om Emmelie de Forests baggrund”. BT.dk. Ngày 16 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2013. 
  6. ^ Emmilie afslører: Min tipoldemor var dronning Victoria, BT
  7. ^ Royal sangerinde i Dansk Melodi Grand Prix | EB.dk Retrieved 27 Jan 2013
  8. ^ - Kong Edward var min oldefar, Se og Hør
  9. ^ “DR: Blåt blod skal ikke markedsføre Emmelie”. DR. Ngày 16 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2013. 
  10. ^ DR dropper royal markedsføring af Emmelie de Forest, dagens.dk
  11. ^ “Slægtsforskere sår tvivl om Emmelies royale forbindelse: Grand Prix-vinderens historie om, at hun er tipoldebarn af dronning Victoria af England kan ikke bekræftes”. Ekstrabladet. Ngày 16 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2013. 
  12. ^ “Grand prix-vinders royale baggrund er tvivlsom”. TV2. Ngày 16 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2013. 
  13. ^ GRAND PRIX-EMMELIE: TVIVL OM ROYAL FORBINDELSE, seoghoer.dk
  14. ^ Endnu en MGP-brøler: Tvivl om Emmelie de Forests royale aner, timefor.tv
  15. ^ Emmelie de Forest vandt Dansk Melodi Grand Prix | Politiken.dk Hentet den 27. januar 2013
  16. ^ [1] Hentet den 12. april 2013.
  17. ^ Emmelie de Forest får svær plads i semifinalen Hentet den 7. april 2013.
  18. ^ Eurovision: Emmelie synger som nummer 18 Hentet d. 17. maj 2013
  19. ^ a ă Hung, Steffen. “Discography Emmelie de Forest”. Danish Charts Portal. Hung Medien (Steffen Hung). 
  20. ^ Hung, Steffen. “Discografie Emmelie de Forest”. Belgian Charts Portal. Hung Medien (Steffen Hung). 
  21. ^ Hung, Steffen. “Discografie Emmelie de Forest”. Dutch Charts Portal. Hung Medien (Steffen Hung). 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và thành tích
Tiền nhiệm:
Soluna Samay
với bài "Should've Known Better"
Đan Mạch trong Eurovision Song Contest
2013
Kế nhiệm:
Basim
với "Cliche Love Song"
Tiền nhiệm:
Thụy Điển Loreen
với bài "Euphoria"
Chiến thắng Eurovision Song Contest
2013
Kế nhiệm:
Áo Conchita Wurst
với bài "Rise Like a Phoenix"