Epsilon Pegasi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm


ε Pegasi
Pegasus constellation map.svg
Red circle.svg

Location of ε Pegasi (circled)
Dữ liệu quan sát
Kỷ nguyên J2000      Xuân phân J2000
Chòm sao Pegasus
Xích kinh 21h 44m 11.15614s[1]
Xích vĩ +09° 52′ 30.0311″[1]
Cấp sao biểu kiến (V)2.399[1] (0.7 - 3.5)
Các đặc trưng
Kiểu quang phổK2 Ib[2]
Chỉ mục màu U-B+1.722[3]
Chỉ mục màu B-V+1.527[3]
Kiểu biến quangLC[4]
Trắc lượng học thiên thể
Vận tốc xuyên tâm (Rv)3.39 ± 0.06[5] km/s
Chuyển động riêng (μ) RA: +26.92[1] mas/năm
Dec.: +0.4[1] mas/năm
Thị sai (π)4.73 ± 0.17[1] mas
Khoảng cách690 ± 20 ly
(211 ± 8 pc)
Cấp sao tuyệt đối (MV)–4.142[6]
Chi tiết
Khối lượng11.7 ± 0.8[7] M
Bán kính185[8] R
Hấp dẫn bề mặt (log g)1.01[6]
Độ sáng3895[9] L
Độ sáng (nhiệt xạ)12,250[9] L
Nhiệt độ4,379[6] K
Tốc độ tự quay (v sin i)8[10] km/s
Tên gọi khác
Enif, 8 Pegasi, BD+09°4891, FK5 815, HD 206778, HIP 107315, HR 8308, SAO 127029[11]
CSDL tham chiếu
SIMBADdữ liệu

Epsilon Pegasi (tiếng latinhε Pegasi, viết tắt Epsilon Peg, ε Peg), chính thức mang tên Enif /ˈnɪf/,[12]saosáng nhất ở phía bắc chòm sao của Pegasus. Độ sáng biểu kiến trung bình là 2,4,[3] đây là một ngôi sao có độ sáng có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Khoảng cách đến ngôi sao này có thể được ước tính bằng các phép đo thị sai,[13][14] mang lại kết quả khoảng 690 năm ánh sáng (210 parsec).[1]

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Pegasi (được Latin hóa thành Epsilon Pegasi) là tên gọi của ngôi sao.

Nó mang tên truyền thống Enif bắt nguồn từ tiếng Ả Rập có nghĩa là 'mũi', do vị trí của nó là phía trước Pegasus. Vào năm 2016, Liên minh Thiên văn Quốc tế đã tổ chức một Nhóm đặt Tên Sao (WGSN) [15] để lập danh mục và chuẩn hóa tên riêng cho các ngôi sao. Tập tên đầu tiên của WGSN vào tháng 7 năm 2016 [16] bao gồm một bảng gồm hai tên đầu tiên được WGSN phê duyệt; trong đó bao gồm Enif cho ngôi sao này.

Tính chất vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một ngôi sao tiến hóa đã bước vào giai đoạn sao siêu khổng lồ.[2] Ước tính gấp 12 [7] lần khối lượng Mặt trời. Đường kính góc đo được của ngôi sao này, sau khi điều chỉnh là 8.17 ± 0.09 mas.[17] Ở khoảng cách ước tính của ngôi sao này, nó mang lại kích thước vật lý gấp khoảng 185 lần bán kính của Mặt trời.[8] Với sự mở rộng kích thước này, nó đang tỏa ra khoảng 12.250 [9] lần độ sáng của Mặt trờinhiệt độ 4.337 K.[6] Nhiệt độ này mát hơn Mặt trời, mang lại cho nó mộy ánh sáng rực rỡ của màu cam của một ngôi sao loại K.[18]

Enif có thể chỉ còn tồn tại được vài triệu năm nữa, mặc dù không biết liệu nó sẽ phát nổ trong siêu tân tinh hay chết đi như một sao lùn trắng oxy hiếm, do khối lượng của nó nằm giữa đường phân chia giữa các ngôi sao dự định nổ tung hoặc không nổ.[9] Nó có vận tốc tương đối cao là 21.6 km s−1.[7]

Epsilon Pegasi và hiệu ứng Pulfrich[sửa | sửa mã nguồn]

Epsilon Pegasi là một ví dụ điển hình để quan sát hiệu ứng Pulfrich. Hiện tượng quang học này được mô tả trên trang 1372 của Cẩm nang thiên thể của Burnham. Theo Herschel: Dao động khá rõ ràng của một ngôi sao nhỏ có cùng chiều thẳng đứng với ngôi sao lớn, khi kính viễn vọng bị xoay từ bên này sang bên kia.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ van Leeuwen, F. (tháng 11 năm 2007), “Validation of the new Hipparcos reduction”, Astronomy and Astrophysics 474 (2): 653–664, Bibcode:2007A&A...474..653V, arXiv:0708.1752, doi:10.1051/0004-6361:20078357 
  2. ^ a ă Morgan, W. W.; Keenan, P. C. (1973), “Spectral Classification”, Annual Review of Astronomy and Astrophysics 11 (1): 29, Bibcode:1973ARA&A..11...29M, doi:10.1146/annurev.aa.11.090173.000333 
  3. ^ a ă â Cousins, A. W. J. (1984), “Standardization of Broadband Photometry of Equatorial Standards”, South African Astronomical Observatory Circulars 8: 59, Bibcode:1984SAAOC...8...59C 
  4. ^ “eps Peg”, General Catalogue of Variable Stars (Centre de Données astronomiques de Strasbourg), truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2010 
  5. ^ Famaey, B. và đồng nghiệp (tháng 1 năm 2005), “Local kinematics of K and M giants from CORAVEL/Hipparcos/Tycho-2 data. Revisiting the concept of superclusters”, Astronomy and Astrophysics 430 (1): 165–186, Bibcode:2005A&A...430..165F, arXiv:astro-ph/0409579, doi:10.1051/0004-6361:20041272 
  6. ^ a ă â b Soubiran, C. và đồng nghiệp (2008), “Vertical distribution of Galactic disk stars. IV. AMR and AVR from clump giants”, Astronomy and Astrophysics 480 (1): 91–101, Bibcode:2008A&A...480...91S, arXiv:0712.1370, doi:10.1051/0004-6361:20078788 
  7. ^ a ă â Tetzlaff, N.; Neuhäuser, R.; Hohle, M. M. (tháng 1 năm 2011), “A catalogue of young runaway Hipparcos stars within 3 kpc from the Sun”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 410 (1): 190–200, Bibcode:2011MNRAS.410..190T, arXiv:1007.4883, doi:10.1111/j.1365-2966.2010.17434.x 
  8. ^ a ă Lang, Kenneth R. (2006), Astrophysical formulae, Astronomy and astrophysics library 1 (ấn bản 3), Birkhäuser, ISBN 3-540-29692-1 . The radius (R*) is given by:
  9. ^ a ă â b Smith, Verne V.; Lambert, David L. (tháng 6 năm 1987), “Are the red supergiants Epsilon Peg and 12 PUP victims of mild s-processing?”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 226 (3): 563–579, Bibcode:1987MNRAS.226..563S, doi:10.1093/mnras/226.3.563 
  10. ^ Bernacca, P. L.; Perinotto, M. (1970). “A catalogue of stellar rotational velocities”. Contributi Osservatorio Astronomico di Padova in Asiago 239 (1). Bibcode:1970CoAsi.239....1B. 
  11. ^ “V* eps Peg -- Pulsating variable Star”, SIMBAD (Centre de Données astronomiques de Strasbourg), truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2010 
  12. ^ “IAU Catalog of Star Names”. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2016. 
  13. ^ Perryman, M. A. C.; Lindegren, L.; Kovalevsky, J. và đồng nghiệp (tháng 7 năm 1997), “The Hipparcos Catalogue”, Astronomy and Astrophysics 323: L49–L52, Bibcode:1997A&A...323L..49P 
  14. ^ Perryman, Michael (2010), “The Making of History's Greatest Star Map”, The Making of History's Greatest Star Map:, Astronomers’ Universe (Heidelberg: Springer-Verlag), Bibcode:2010mhgs.book.....P, ISBN 978-3-642-11601-8, doi:10.1007/978-3-642-11602-5 
  15. ^ “IAU Working Group on Star Names (WGSN)”. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2016. 
  16. ^ “Bulletin of the IAU Working Group on Star Names, No. 1” (PDF). Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2016. 
  17. ^ Richichi, A.; Percheron, I.; Khristoforova, M. (tháng 2 năm 2005), “CHARM2: An updated Catalog of High Angular Resolution Measurements”, Astronomy and Astrophysics 431 (2): 773–777, Bibcode:2005A&A...431..773R, doi:10.1051/0004-6361:20042039 
  18. ^ “The Colour of Stars”, Australia Telescope, Outreach and Education (Commonwealth Scientific and Industrial Research Organisation), Ngày 21 tháng 12 năm 2004, Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2012, truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2012 

Tọa độ: Sky map 21h 44m 11.158s, +09° 52′ 30.04″