Eptatretus stoutii

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Eptatretus stoutii
Pacific hagfish Myxine.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Myxini
Bộ (ordo) Myxiniformes
Họ (familia) Myxinidae
Chi (genus) Eptatretus
Loài (species) E. stoutii
Danh pháp hai phần
Eptatretus stoutii
(Lockington, 1878)

Cá mút đá myxin Thái Bình Dương (tên khoa học: Eptatretus stoutii)[1] là một loài cá không hàm sinh sống ở Thái Bình Dương. Loài này sinh sống ở gần đáy biển. Chúng trông giống lươn. Eptatretus stoutii được William Neale Lockington mô tả lần đầu tiên vào năm 1878. Chúng thuộc chi Eptatretus, và họ Myxinidae.[2][3]

Cá mút đá myxin có một tiếng xấu vì da nhầy nhụa của nó. Khi bị quấy rầy, nó chảy protein từ các tuyến chất nhờn trong da của nó, phản ứng với nước bằng cách trở thành một lớp phủ bên ngoài nhầy nhụa, mở rộng nó thành một khối lượng lớn chất nhờn. Điều này làm cho chúng thành một thức ăn rất không lành mạnh cho kẻ thù. Chúng tạo ra một lượng lớn chất nhờn trong vài phút. Một nhà khoa học nghiên cứu bài tiết protein này kết luận rằng một cá mút đá myxin duy nhất có thể lấp đầy thùng chứa đầy chất nhờn trong ít hơn 100 phút.[4]

Ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Mỹ, quần áo da, thắt lưng, hoặc các phụ kiện khác cá mút đá myxin được quảng cáo và bán như là "da yuppie" hay "da cá chình"[5] (cá mút đá myxin không phải cá chình thực sự).

Thói quen ăn uống[sửa | sửa mã nguồn]

Cá mút đá myxin Thái Bình Dương đặc tính là có thể hấp thụ các chất dinh dưỡng thông qua da của nó, duy nhất trong số tất cả 50.000 động vật có xương sống, và người ta tin rằng là con vật gần gũi nhất chúng ta có thể biết đến với các vật có xương sống đầu tiên. Cá đào vào xác chết, phơi da của nó để làm thối rữu vật giàu chất dinh dưỡng. Chris Glovet, tại Đại học Canterbury ở Christchurch, New Zealand, kiểm tra lý thuyết của ông bằng cách đặt mẫu da của cá mút đá myxin ở giữa nước biển giàu chất dinh dưỡng và một dung dịch tương tự như chất dịch cơ thể của cá mút đá myxin. Họ phát hiện ra rằng trên thực tế các axit amin chảy xuyên qua.[6][7]

Pacific hagfish at 150 metres' depth, Cordell Bank National Marine Sanctuary, California.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Fernholm, B. (1998) Hagfish systematics., p. 33-44. In J.M. Jørgensen, J.P. Lomholt, R.E. Weber and H. Malte (eds.) The biology of hagfishes. Chapman & Hall, London. 578 p.
  2. ^ Bisby F.A., Roskov Y.R., Orrell T.M., Nicolson D., Paglinawan L.E., Bailly N., Kirk P.M., Bourgoin T., Baillargeon G., Ouvrard D. (red.) (2011). “Species 2000 & ITIS Catalogue of Life: 2011 Annual Checklist.”. Species 2000: Reading, UK. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  3. ^ FishBase. Froese R. & Pauly D. (eds), 2011-06-14
  4. ^ Muse magazine, 2006
  5. ^ Barss, William (1993), “Pacific hagfish, Eptatretus stouti, and black hagfish, E. deani: the Oregon Fishery and Port sampling observations, 1988-92”, Marine Fisheries Review (Fall, 1993), truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2010 
  6. ^ Bucking, Carol. “Digestion under Duress: Nutrient Acquisition and Metabolism during Hypoxia in the Pacific Hagfish.”. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2011. 
  7. ^ Barras, Colin. “The hag with impeccable table manners”. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2011. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]