Erotica (album)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Erotica
Album phòng thu của Madonna
Phát hành 20 tháng 10 năm 1992
Thu âm Tháng 11, 1991 – Tháng 8, 1992
Thể loại
Thời lượng 75:24
Hãng đĩa
Sản xuất
Thứ tự album của Madonna
The Immaculate Collection
(1990)
Erotica
(1992)
Bedtime Stories
(1994)
Đĩa đơn từ Erotica
  1. "Erotica"
    Phát hành: 13 tháng 10 năm 1992
  2. "Deeper and Deeper"
    Phát hành: 8 tháng 12 năm 1992
  3. "Bad Girl"
    Phát hành: 22 tháng 2 năm 1993
  4. "Fever"
    Phát hành: 22 tháng 3 năm 1993
  5. "Rain"
    Phát hành: 17 tháng 7 năm 1993
  6. "Bye Bye Baby"
    Phát hành: 5 tháng 11 năm 1993

Erotica là album phòng thu thứ năm của nghệ sĩ thu âm người Mỹ Madonna, phát hành ngày 20 tháng 10 năm 1992, bởi MaverickWarner Bros. Records. Nó được phát hành đồng thời với cuốn sách đầu tiên của Madonna, Sex, một cuốn sách bao gồm những hình ảnh bị kiểm duyệt, với sự xuất hiện của nữ ca sĩ. Việc phát hành album cũng đánh dấu sản phẩm đầu tiên của Madonna phát hành dưới thương hiệu tập đoàn truyền thông đa phương tiện do cô sở hữu, Maverick. Erotica được coi là một album chủ đề về tình dục và quan hệ tình dục, trong đó cô nói về quan hệ tình dục và những mối quan hệ lãng mạn xuyên suốt album.[1] Tuy nhiên, những bài hát khác mang những giai điệu thú nhận, chịu ảnh hưởng bởi sự ra đi của hai người bạn thân của Madonna do AIDS.

Madonna ghi âm album ở thành phố New York với Shep Pettibone và André Betts trong khi cô đang làm việc với các dự án khác. Pettibone gửi cho cô ấy một cuộn băng với ba bài hát khi cô ở Chicago và không lâu sau đó, họ bắt đầu sản xuất album trong căn hộ của ông. Trong lúc thực hiện, họ nảy sinh nhiều vấn đề trong quá trình hợp tác, khiến Pettibone phải cố gắng thúc đẩy dự án càng nhanh càng tốt vì ông không muốn Madonna đánh mất sự quan tâm trong âm nhạc. Theo ông, những sáng tác của Madonna trong giai đoạn này là nghiêm trọng, và dữ dội, mang tính cá nhân sâu sắc. Việc sản xuất album đã được ghi chép lại bởi Pettibone trong một bài viết mang tên "Nhật ký Erotica", xuất hiện trong tạp chí Icon của Madonna.

Erotica đa phần nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó họ xem nó như là một trong những album mạo hiểm nhất của Madonna và ca ngợi những ý kiến của cô về những điều cấm kỵ và AIDS. Về mặt thương mại, album không gặt hái được nhiều thành công như những bản thu trước đó của Madonna. Nó đạt vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Billboard 200, trở thành album phòng thu đầu tiên của cô không đứng đầu bảng xếp hạng này kể từ năm 1984. Trên thị trường quốc tế, nó đứng đầu các bảng xếp hạng ở Úc và Pháp, trong khi lọt vào top 5 ở nhiều quốc gia khác, bao gồm Canada, Đức, Nhật Bản, New Zealand và Vương quốc Anh. Erotica đạt được chứng nhận 2 đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA) và đã bán được hơn 6 triệu bản trên toàn thế giới.

Sáu đĩa đơn đã được phát hành từ album, với bài hát chủ đề và "Deeper and Deeper" lọt vào top 10 bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Album cũng được quảng bá bằng chuyến lưu diễn thứ tư trong sự nghiệp của cô, The Girlie Show World Tour, đi qua nhiều thành phố ở khu vực Bắc Mỹ, Mỹ Latin, châu Á và Úc vào năm 1993. Bỏ qua những tranh cãi xung quanh cuốn sách Sex, Erotica được coi là một trong những album bị đánh giá thấp nhất trong sự nghiệp của Madonna. Album sau này được liệt kê vào danh sách "100 Album hay nhất của thập niên 1990" bởi Tạp chí Slant.[2]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Erotica"   Madonna Ciccone, Shep Pettibone, Anthony Shimkin Madonna, Pettibone 5:20
2. "Fever"   John Davenport, Eddie Cooley Madonna, Pettibone 5:00
3. "Bye Bye Baby"   Ciccone, Pettibone, Shimkin Madonna, Pettibone 3:56
4. "Deeper and Deeper"   Ciccone, Pettibone, Shimkin Madonna, Pettibone 5:33
5. "Where Life Begins"   Ciccone, Andre Betts Madonna, Betts 5:57
6. "Bad Girl"   Ciccone, Pettibone, Shimkin Madonna, Pettibone 5:23
7. "Waiting"   Ciccone, Betts Madonna, Betts 5:46
8. "Thief of Hearts"   Ciccone, Pettibone, Shimkin Madonna, Pettibone 4:51
9. "Words"   Ciccone, Pettibone, Shimkin Madonna, Pettibone 5:55
10. "Rain"   Ciccone, Pettibone Madonna, Pettibone 5:25
11. "Why's It So Hard"   Ciccone, Pettibone, Shimkin Madonna, Pettibone 5:23
12. "In This Life"   Ciccone, Pettibone Madonna, Pettibone 6:23
13. "Did You Do It?" (featuring Mark Goodman and Dave Murphy) Ciccone, Betts Madonna, Betts 4:54
14. "Secret Garden"   Ciccone, Betts Madonna, Betts 5:32
Chú ý[3]
  • "Erotica" bao gồm đoạn mẫu "Jungle Boogie" của Kool and the Gang.[3] Một đoạn mẫu khác "El Yom 'Ulliqa 'Ala Khashaba" của Fairuz đã được sử dụng mà sau đó dẫn đến một vụ kiện; nhưng nó đã được giải quyết ngoài tòa án.[4]
  • Anthony Shimkin được thêm vào một cách hợp pháp bởi ASCAP như là người đồng sáng tác "Erotica", "Bye Bye Baby", "Bad Girl", "Thief of Hearts", "Words" và "Why's It So Hard". Các dòng lưu ý đằng sau album không nhắc đến điều này. Shimkin chỉ được chọn vào thành phần tham gia của một bài hát; và ông chọn "Deeper and Deeper".[5]
  • "Fever" có lời bài hát được viết và sắp xếp lại bởi ca sĩ Peggy Lee, người được đề cập cho những đóng góp của mình.[6]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[30] 3× Bạch kim 210.000^
Áo (IFPI Austria)[31] Vàng 25.000x
Brazil (ABPD)[32] Vàng 100.000*
Canada (Music Canada)[33] 2× Bạch kim 200.000^
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[19] Bạch kim 100.000^
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[34] Vàng 25.000x
Anh (BPI)[35] 2× Bạch kim 600.000^
Hoa Kỳ (RIAA)[36] 2× Bạch kim 1,890,000[37]

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Anderson, Kyle (ngày 20 tháng 10 năm 2010). “Madonna Gets Kinky With Erotica: Wake-Up Video”. MTV. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2014. 
  2. ^ “Best Albums of the '90s”. Slant Magazine. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2011. 
  3. ^ a ă Erotica (Liner notes). Madonna. Maverick Records. 1992. 9362-45154-2. 
  4. ^ “Fairuz's voice; opium for Arabs or symbol of peace?”. Sahafi.com. Ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ Madonna ASCAP IPI# 211854787, Anthony Marc Shimkin ASCAP IPI# 334004118
  6. ^ Richmond, Peter (2007). Fever: The Life and Music of Miss Peggy Lee. Macmillan. tr. 318. ISBN 978-1-466-81880-4. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2013. 
  7. ^ "Madonna – Erotica". Australiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 31 tháng 1 năm 2016.
  8. ^ "Madonna - Erotica" (bằng tiếng Đức). Austriancharts.at. Hung Medien. Truy cập 31 tháng 1 năm 2016.
  9. ^ “RPM 100 Albums”. RPM. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 
  10. ^ a ă “Hits of the World” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  11. ^ "Madonna – Erotica". Dutchcharts.nl. Hung Medien. Truy cập 31 tháng 1 năm 2016.
  12. ^ a ă Pennanen 2006, tr. 118
  13. ^ a ă “Hits of the World” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  14. ^ “Madonna - Erotica” (bằng tiếng German). GfK Entertainment. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  15. ^ "Archívum – Slágerlisták – MAHASZ – Magyar Hangfelvétel-kiadók Szövetsége". Mahasz.hu. LightMedia. Truy cập 31 tháng 1 năm 2016.
  16. ^ “Hits of the World” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2017. 
  17. ^ "Madonna – Erotica". Charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập 31 tháng 1 năm 2016.
  18. ^ "Madonna – Erotica". Norwegiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 31 tháng 1 năm 2016.
  19. ^ a ă Salaverri 2005, tr. 92
  20. ^ "Madonna – Erotica". Swedishcharts.com. Hung Medien. Truy cập 31 tháng 1 năm 2016.
  21. ^ "Madonna – Erotica". Swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập 31 tháng 1 năm 2016.
  22. ^ "Madonna | Artist | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 31 tháng 1 năm 2016.
  23. ^ "Madonna Album & Song Chart History" Billboard 200 cho Madonna. Prometheus Global Media. Truy cập 31 tháng 1 năm 2016.
  24. ^ “ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 50 Albums 1992”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2012. 
  25. ^ “RPM Top 100 Albums of 1993” (PDF). RPM. 12 tháng 12 năm 1994. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2012. 
  26. ^ “Hit Parade Italia Gli album più venduti del 1992” (bằng tiếng Italian). Hit Parade Italia. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2014. 
  27. ^ “1992年 アルバム年間TOP100” (bằng tiếng Japanese). Oricon. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 
  28. ^ “Najlepiej sprzedające się albumy w W.Brytanii w 1992r” (bằng tiếng Polish). Z archiwum...rocka. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2014. 
  29. ^ “Billboard 200 Year end 1993”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2016. 
  30. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2001 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2014. 
  31. ^ “Austrian album certifications – Madonna – Erotica” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2014.  Nhập Madonna vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập Erotica vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  32. ^ “Brasil album certifications – Madonna – Erotica” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2014. 
  33. ^ “Canada album certifications – Madonna – Erotica”. Music Canada. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2014. 
  34. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Madonna; 'Erotica')”. IFPI Switzerland. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2014. 
  35. ^ “Britain album certifications – Madonna – Erotica” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2014.  Nhập Erotica vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Album trong khung By Format. Nhấn Search
  36. ^ “American album certifications – Madonna – Erotica” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2014.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  37. ^ Trust, Gary (ngày 14 tháng 8 năm 2009). “Ask Billboard: Madonna vs. Whitney: Who's Sold More?”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2014. 

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Love Symbol
của PrinceNew Power Generation
Album quán quân tại Úc
1 tháng 11 - 14 tháng 11 năm 1992
Kế nhiệm:
Keep the Faith của Bon Jovi