Eugène xứ Savoie

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
François-Eugène, Vương công xứ Savoie-Carignan
Prinz-Eugen-von-Savoyen1.jpg
Eugène qua nét vẽ của Jacob van Schuppen (1718).
Tiểu sử
Sinh

18 tháng 10, 1663

Hôtel Soissons, Paris
Mất

24 tháng 4, 1736

Viên
Binh nghiệp
Phục vụ Vương triều Habsburg
Cấp bậc Thống chế
Tham chiến Đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ
Trận Zenta
Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha
Trận Blenheim
Trận Torino
Trận Oudenarde
Trận Malplaquet
Trận Denain
Chiến tranh Áo-Thổ Nhĩ Kỳ (1716-1718)
Trận Petrovaradin

Eugène, Vương công xứ Savoie (tiếng Đức: Prinz Eugen von Savoyen, tên thật là François Eugène; 18 tháng 10 năm 166321 tháng 4 năm 1736), là một lãnh đạo quân sự, chính trị của Đế quốc La Mã Thần thánhĐại Công quốc Áo. Eugène được xem là một trong những chỉ huy quân sự thành công trong lịch sử châu Âu, từng đảm nhiệm những chức vụ cao nhất trong triều đình Habsburg ở Viên. Ông sinh ra tại Paris, xuất thân trong một gia đình quý tộc gốc Savoie, và sinh trưởng trong cung đình Pháp thời Louis XIV. Do thể lực yếu đuối, Eugène ban đầu được định hướng làm giáo sĩ, nhưng năm 19 tuổi ông quyết định theo lên con đường binh nghiệp. Do vua Louis XIV không cho ông tòng quân phục vụ nước Pháp, Eugène sang Áo và tuyên bố trung thành với Vương triều Habsburg.

Trong suốt sáu thập kỷ, Eugène làm võ tướng trọng thần cho ba hoàng đế La Mã Thần thánh kiêm đại công tước Áo: Leopold I, Joseph IKarl VI. Eugène lần đầu tham chiến trong trận phòng thủ Viên trước quân Thổ Nhĩ Kỳ năm 1683, kế đến tham gia Chiến tranh Liên minh Thần thánhChiến tranh Chín năm cùng với người anh họ là Quận công xứ Savoie. Sau khi trở thành Thống chế Đế quốc La Mã Thần thánh năm 1693, Eugène sớm đạt được tiếng tăm trên khắp châu Âu nhờ việc đại phá quân Thổ do vua Mustafa II chỉ huy trong trận Zenta vào năm 1697. Thắng lợi của quân đội Áo ở Zenta đã đưa đến việc ký kết Hòa ước Karlowitz (1699), đánh dấu sự bá quyền của hoàng triều Habsburg ở Nam Trung Âu. Sau khi đánh thắng người Thổ, Eugène tiếp tục tham gia Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha; trong đó, ông đã liên kết với quân Anh của Quận công Marlborough đánh tan quân Pháp trong các trận đánh Blenheim (1704), Oudenarde (1708), và Malplaquet (1709) tại Tây Âu. Tự thân ông cũng lập nhiều chiến công lớn trên cương vị Tổng tư lệnh quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh trên mạn bắc bán đảo Ý, tiêu biểu là trận Torino (1706). Sau này, khi Áo tái chiến với Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc chiến năm 1716-1718, danh tiếng của Eugène đã được củng cố với những chiến thắng giòn giã tại Petrovaradin (1716) và Beograd (1717).

Cuối thập niên 1720, thanh thế và kỹ năng ngoại giao của Eugène đã đem lại cho nước Áo những đồng minh hùng mạnh trong các cuộc tranh chiến của họ với Pháp và chư hầu; tuy nhiên, do sức khỏe suy nhược trong những năm cuối thời, Eugène không thu được nhiều thắng lợi trên cương vị Tổng tư lệnh quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh trong Chiến tranh Kế vị Ba Lan. Dù vậy, Eugène vẫn được vua quan Habsburg trọng vọng như một danh tướng không ai bì kịp. Tuy có nhiều nhận định trái chiều về nhân cách của Eugène, giới sử học tựu chung đều thừa nhận những công lao của ông với vương triều Habsburg: Eugène đã góp phần cứu đế quốc Habsburg khỏi sự bành trướng của Pháp; đồng thời bẻ gãy cuộc xâm lăng phương Tây của người Thổ, giải phóng Trung Âu khỏi một thế kỷ rưỡi dưới sự đô hộ của nhà Ottoman bên Thổ Nhĩ Kỳ. Không những là một võ tướng được mến mô, Eugène còn là một nhà bảo trợ lớn của nghệ thuật, đã cho xây cất nhiều công trình nguy nga ở kinh thành Viên. Khi đang ngủ tại nhà, ông qua đời vào ngày 21 tháng 4 năm 1736, hưởng thọ 72 tuổi.

Đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Trận giải vây Viên ngày 12 tháng 9 năm 1683.

Tháng 5 năm 1683, mối đe dọa từ người Thổ với Viên – đế đô Đế quốc La Mã Thần thánh – đã trở thành hiện thực. Được sự khích lệ của lực lượng khởi nghĩa Hungary do Imre Thököly cầm đầu, Thái tể Thổ Kara Mustafa Pasha đem 100.000–200.000 quân xâm lược Hungary thuộc Áo.[1] Đến tháng 7 năm 1683, 90.000 quân chủ lực của Kara Mustafa đã áp sát chân thành Viên. Tình huống cấp bách này buộc Hoàng đế La Mã Thần thánh Leopold I phải chạy sang lánh nạn ở Passau trên thượng lưu sông Donau.[2] Eugène đã đến doanh trại của Leopold I vào giữa tháng 8 năm 1683.

Dù Eugène không phải người gốc Áo, Leopold I đã cho ông vào quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh vì những lý do sau: Eugène có dòng máu họ Habsburg trong lai lịch của mình Ông nội Eugène là Tommaso Francesco, tiên tổ nhánh Carignano họ Savoia/Savoie, là con của Catherine Michelle – con gái vua Felipe II nhà Habsburg bên Tây Ban Nha – và là chắt của Hoàng đế La Mã Thần thánh Karl V. Nhưng hơn thế nữa Eugène là em con chú của Quận công Vittorio Amadeo xứ Savoie – một kẻ thù lớn của vua Pháp, nên Leopold I tin rằng mối quan hệ này sẽ giúp ích của ông ta trong các cuộc tranh hùng với Pháp sau này.[3] Thêm vào đó, dáng vẻ và phong thái khắc khổ của Eugène đã làm đẹp lòng Leopold I và các đại thần đạm bạc của ông ta.[3][4] Dù Eugène ưa chuộng tiếng Pháp, ông thưa thỉnh với Leopold I bằng tiếng Ý vì biết vị hoàng đế này rất ghét tiếng Pháp (dù giỏi ngôn ngữ nào). Eugène cũng có kỹ năng tiếng Đức khá vững, giúp ông dễ dàng làm việc trong quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh.[5] Eugène đã thề với Leopold rằng "Tôi xin cống hiến mọi sinh lực, lòng dũng cảm và nếu cần thiết, cả giọt máu cuối cùng của tôi, để phò tá Hoàng đế Bệ hạ".[6]

Lời thế này ngay lập tức được đưa vào thử nghiệm. Tháng 9 năm 1683, quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh do quận công Karl V xứ Lothringen chỉ huy, cùng một đội quân hùng hậu của Ba Lan do vua Jan III Sobieski chỉ huy, đã hoàn tất việc chuẩn bị tập kích quân đội Thổ. Buổi sáng ngày 12 tháng 9, liên quân Cơ Đốc giáo dàn trận tuyến trên các sườn dốc phía đông-nam quần thể rừng Wienerwald, từ trên đó họ ào xuống tấn công doanh trại khổng lồ của địch. Sau một ngày giao chiến, liên quân Ba Lan - quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh đã đánh tan đạo quân của Mustafa Kasha và đặt dấu chấm hết cho 60 ngày quân Thổ vây khốn Viên. Sử liệu cho biết Eugène đã chiến đấu dũng cảm trong trận đánh, được cả quận công Lothringen và hoàng đế La Mã Thần thánh ngợi khen. Sau này ông được phong hàm Đại tá danh dự Trung đoàn Long kỵ binh Kufstein.[7]

Trận Zenta[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Zenta qua tranh vẽ của Jacques Parrocel.

Thừa lúc Áo đang bận đánh Pháp, quân Thổ Nhĩ Kỳ tấn công chiếm lại Beograd năm 1690. Sang tháng 8 năm sau, triều đình Áo sai hầu tước Ludwig xứ Baden mở cuộc phản công đánh tan quân Thổ trong trận Slankamen trên sông Donau, giành lại các vùng đất bị mất ở Hungary và Transylvania.[8] Tuy nhiên, Baden được điều sang đánh Pháp ở Tây Âu năm 1692 và các tổng chỉ huy kế tiếp của quân đội Áo là Caprara (tại nhiệm 1692-1696) và tuyển hầu tước Friedrich August xứ Sachsen (tại nhiệm 1696-1697) không giành được một thắng lợi đủ sức thuyết phục Thổ đầu hàng. Nghe lời khuyên của Tổng lý quân vụ Rüdiger Starhemberg, vua Áo cử Eugène làm tổng tư lệnh quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh vào tháng 4 năm 1697.[9] Trên vai trò thống lĩnh toàn quân, Eugène có toàn quyền quyết định, không còn bị bị làm khó dễ bởi những ông tướng thận trọng quá mức như Caprara và Caraffa, và cũng không còn lệ thuộc vào bởi một người dùng binh kém như Victor Amadeus. Nhưng ông nhận ra rằng tổ chức và năng lực chiến đấu của quân đội Áo "tồi tệ đến mức không thể tả nổi".[10] Lòng tự tin và quyết tâm của Eugène, cùng với sự hỗ trợ đắc lực của Commercy và Guido Starhemberg) đã giúp tân tổng tư lệnh dần dần khôi phục trật tự và kỷ luật quân đội Áo.[11]

Chân dung Vương công Eugène xứ Savoie (1663–1736), thực hiện bởi Trường phái Vlaandereng khoảng năm 1700.

Leopold I đã khuyên Eugène nên ứng xử thận trọng, nhưng sau khi nghe tin hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ Mustafa II tiến đánh Transylvania, Eugène dứt bỏ tất cả mọi ý tưởng về một chiến dịch phòng ngự và điều quân đi đón đầu quân Thổ khi họ vượt sông Tisza tại Zenta ngày 11 tháng 9 năm 1697. Sau đó, Eugène xếp quân theo hình bán nguyệt và bất ngờ tấn công lực lượng Thổ đang vượt sông.[12] Các đòn tiến công ào ạt của người Áo đã xé tan đội hình quân Thổ và làm họ tháo chạy hỗn loạn về điểm xuất phát. Trận đánh kết thúc khi đêm xuống với thắng lợi triệt để của quân đội Áo. Quân Eugène chết và bị thương khoảng 2.000 người, nhưng đã xóa sổ được 25.000 quân Thổ – trong đó có thái tể Elmas Mehmed Pasha – và làm tan rã số quân còn sót của Mustafa II.[13] Mặc dù quân đội Thổ Ottoman khá lạc hậu so với các quân đội phương Tây về huấn luyện và tổ chức, chiến thắng Zenta đã chứng tỏ tài nghệ thao lược, tư duy quân sự táo bạo và và khả năng truyền động lực cho tướng sĩ chiến đấu, chinh phục một kẻ thù đáng gờm.[14]

Sau trận Zenta, Eugène xua quân truy kích vào vùng Bosnia thuộc Thổ Nhĩ Kỳ và đốt phá thành phố Sarajevo. Đến tháng 11 năm 1697, Eugène ca khúc khải hoàn về thành Viên.[15] Chiến thắng của quân đội Áo do Eugène lãnh đạo ở Zenta đã biến ông thành một anh hùng châu Âu, và khiến ông được vua Leopold I ban thưởng một điền trang tại Hungary. Điền trang này đã mang lại cho ông một nguồn thu nhập đáng kể, tạo điều kiện cho ông trau dồi sở thích của mình với nghệ thuật và kiến trúc. Nhưng bên cạnh sự vinh hoa phú quý mà ông mới có được, Eugène giờ đây là một người cô độc, hầu như không có bạn bè và không còn một bà con họ hàng nào: trong 4 anh trai của ông, chỉ có một người duy nhất còn sống vào thời điểm đó. Người anh thứ tư của ông là Emmanuel đã chết năm 1676 khi mới 14 tuổi; người thứ 3 là Louis Julius đã chết trong quân ngũ năm 1683, và người thứ 2 là Philippe chết do đậu mùa năm 1693. Người anh còn sót của Eugène là Louis Thomas do bất hòa với Louis XIV nên bị ông ta trục xuất khỏi Pháp. Louis Thomas phải đi khắp châu Âu để tìm kiếm sự nghiệp. Năm 1699, Louis Thomas đến Viên, và nhờ Eugène nâng đỡ nên được tuyển mộ vào quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh. Louis Thomas bỏ mạng khi chiến đấu với quân Pháp năm 1702. Trong các chị gái của Eugène, người nhỏ nhất đã chết từ khi còn thơ ấu. Hai người còn lại là Marie Jeanne-Baptiste và Louise Philiberte phải lưu lạc ở Bỉ, Thụy Sĩ và Savoie sau khi bị đuổi khỏi Pháp, và đều có đời sống phóng đãng; Marie chết yểu năm 1705 và Philibert chết năm 1726.[16]

Trận Zenta đã trở thành thắng lợi quyết định cua người Áo trong cuộc đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ. Thấy vua Tây Ban Nha Carlos II đang sắp băng mà không có con nối dõi, Leopold I ký hòa ước Karlowitz chấm dứt chiến tranh với vua Thổ ngày 26 tháng 1 năm 1699, hòng rảnh tay tập trung vào việc tranh đoạt quyền thừa kế ngai vàng Tây Ban Nha.[17]

Trận Blenheim[sửa | sửa mã nguồn]

Quận công Marlborough chúc tụng Vương công Eugène xứ Savoy (người cưỡi ngựa) sau chiến thắng Blenheim, tranh của Robert Alexander Hillingford.

Các mâu thuẫn giữa Villars và tuyển hầu tước Bayern đã làm mất cơ hội cho họ tấn công Viên trong năm 1703, nhưng các triều đình VersaillesMadrid vẫn tin chắc rằng kinh đô Áo sẽ sớm thất thủ.[18] Từ tháng 2 năm 1703, đại sứ Đế quốc La Mã Thần thánh tại Luân Đôn Wratislaw đã hối thúc Anh và Hà Lan đưa quân đến sông Donau, nhưng chính phủ Anh tỏ ra quan tâm tới các vấn đề thuộc địa và thương mại hơn là cuộc chiến tại Nam Âu.[19] Chỉ có một số nhỏ quan lại Anh và Hà Lan nhận thức được những hậu quả tiềm tàng nếu nước Áo bại trận, và tiêu biểu nhất trong số này là đại tướng Anh - Quận công Marlborough.[20]

Đầu năm 1704, Marlborourgh quyết định tiến quân vào Nam Đức đặng đánh đuổi quân Pháp khỏi lưu vực sông Donau. Biết Eugène là một ông tướng có nhiệt huyết và kinh nghiệm dày dặn, Marlborough đã đích thân thỉnh cầu Eugène tham gia chiến dịch của mình.[21] Hai tướng gặp nhau lần đầu tiên tại ngôi làng nhỏ Mundelsheim vào ngày 10 tháng 6 và sớm hình thành một mối quan hệ hợp tác rất ăn ý.[22] Sự kết hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa hai ông đã đem lại cho phe Liên minh nhiều thắng lợi trong cuộc chiến. Trận thắng đầu tiên, và cũng là trận thắng oanh liệt nhất của bộ đôi Marlborough-Eugène diễn ra tại Blenheim vào ngày 13 tháng 8 năm 1704. Eugène chỉ huy quân cánh phải Liên minh kìm chân lực lượng đông vượt trội của tuyển hầu tước Bayern và thống chế Pháp Ferdinand de Marsin, trong khi Marlborough phá vỡ trung quân của thống chế Pháp Tallard. Kết thúc trận đánh, quân đội Liên minh đã tiêu diệt 30.000 quân Pháp và làm tàn binh Pháp phải rút chạy về Strasbourg. Mặc dù chiến tranh còn kéo dài thêm nhiều năm nữa, chiến thắng của Marlborough - Eugène ở Blenheim đã loại Bayern khỏi vòng chiến và cứu Viên khỏi nguy cơ thất thủ. Hai tướng Liên minh đều không tiếc lời khen ngợi thành quả của nhau, và dân châu Âu ca tụng cả hai người như những anh hùng trận Blenheim. Về phần Eugène, việc ông chặn đứng quân cánh trái Pháp-Bayern tại Blenheim cùng với những yêu cầu hành động dứt khoát của ông trước trận đánh đã góp phần quyết định thắng lợi của phe Liên minh năm 1704 ở Nam Đức.[23][24]

Sau khi thua trận Blenheim, nước Pháp phải đối mặt với nguy cơ bị xâm lược,chuyển sang thế bị động, nhưng triều đình Leopold I chưa thể làm thế do phải đối mặt với nhiều áp lực khác: thứ nhất là do cuộc khởi nghĩa của Rákóczi đang trên đà thắng lợi; thứ hai là do Guido Starhemberg và Vittorio Amedeo (trở lại phe Liên minh chống Pháp từ năm 1703) đã không cản nổi quân Pháp của Vendôme trên mạn bắc Ý. Chỉ có thành Torino - kinh đô của Vittorio Amedeo là còn trụ vững.

Chiến tranh Áo-Thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Vương công Eugène trong cuộc chiến Áo-Thổ, họa phẩm của Jacob van Schuppen.

Việc Eugène giảng hòa với Pháp có nguyên nhân chính là do mối hiểm họa ngày càng gia tăng từ người Thổ ở phương Đông. Các tham vọng bành trướng của đế quốc Thổ Ottoman đã hồi sinh sau khi họ đè bẹp quân đội Nga của vua Pyotr I trên sông Pruth, và vào tháng 12 năm 1714 vua Thổ Ahmed III xua quân đánh chiếm bán đảo Pelopennese của Cộng hòa Venezia.[25] Từ động thái này, triều đình Viên phán đoán rằng người Thổ đang ấp ủ dự định tái chiếm Hungary và phá vỡ hòa ước Karlowitzof 1699. Sau khi các đề xuất làm trung gian của Áo bị triều đình Ottoman phủ nhận vào tháng 4 năm 1716, Karl VI truyền lệnh cho Eugène đem một đạo quân nhỏ (nhưng tinh nhuệ) đến giữ yên mạn Hungary. Trong các cuộc chiến tranh của Eugène, đây là cuộc chiến mà ông có nhiều quyền hạn chỉ huy nhất, và đây cũng là một trong số ít những cuộc chiến mà nước Áo hầu như tự lực chiến đấu và chiến thắng trong thế kỷ 18 - 20.[26]

Eugène rời kinh đô Viên cùng 80.000–90.000 quân vào đầu tháng 6 năm 1716. Đầu tháng 8 năm 1716, vua Thổ sai con rể là thái tể Damat Ali Pasha cầm 200.000 quân từ Beograd tiến đánh quân Eugène trên hướng tây thành Petrovaradin ở bờ bắc sông Donau.[27] Thái tể Thổ dự định công chiếm thành trì này, nhưng Eugène quyết định ra tay trước.[28] Sau khi bác bỏ các đề xuất mang tính thận trọng của thuộc cấp, Eugène điều 70.000 quân tấn công quân Thổ gần Petrovaradin ngay trong buổi sáng ngày 5 tháng 8. Các đợt tiến công đầu tiên của quân La Mã Thần thánh bị lính túc vệ Thổ đẩy lùi. Nhưng sau đó, Eugène tung kỵ binh đánh thốc vào hai bên sườn đối phương, tạo thế bao vây, tiêu diệt quân đội Thổ Ottoman. Trận đánh kết thúc với thắng lợi lớn của quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh; phía Eugène mất 5.000 quân chết và bị thương, nhưng số quân Thổ bị loại khỏi vòng chiến có lẽ còn lớn hơn gấp đôi. Bản thân thái tể Ali Pasha cũng bị giết tại trận và tàn quân Thổ chạy thục mạng về Beograd.[27]

Eugène trong trận Beograd 1717 (tranh vẽ của Johann Gottfried Auerbach). Đây là chiến thắng lớn cuối cùng trong sự nghiệp của ông.

Phát huy chiến thắng, Eugène đánh hạ thành Timișoara (tiếng Đức: Temeswar) vào giữa tháng 10 năm 1716, đặt dấu chấm hết cho 164 năm đô hộ của người Thổ tại xứ này. Sau đó, ông dồn sức chuẩn bị xâm chiếm thành phố Beograd trong năm sau. Ông coi Beograd là mục tiêu chính mà Áo cần đạt được trong cuộc chiến. Tọa lạc tại hợp lưu các sông Donau và Sava, Beograd được chốt giữ bởi 30.000 đồn binh Thổ do Mustapha Pasha chỉ huy.[29] Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh triển khai vây hãm Beograd vào giữa tháng 6 năm 1717, và đến cuối tháng 7 đại bác của họ đã phá hủy phần lớn thành phố. Thế trận xem chừng sẽ xoay chuyển vào đầu tháng 8, khi thái tể mới Halil Pasha đem 150.000–200.000 quân tiếp viện Thổ đến cao nguyên phía đông Beograd.[30] Trong lúc chờ thời cơ giải vây cho Beograd, Halil Pasha cho đại bác từ trên cao nguyên bắn dồn dập vào đội hình địch. Cùng lúc đó, bệnh kiết lỵ lan tràn trong hàng ngũ quân Áo gây nhiều hao tổn cho họ. Người ta đồn đại trên khắp châu Âu rằng Eugène đang sắp sửa "tới số".[31] Nhưng ông không bỏ cuộc: phán đoán rằng chỉ một thắng lợi quyết định mới cứu được quân đội ông khỏi thế nguy, Eugène quyết định tấn công đạo quân cứu viện của người Thổ. Sáng ngày 16 tháng 8, 40.000 quân Áo - La Mã Thần thánh vượt qua sương mù, bất ngờ xốc tới đánh tan quân Halil Pasha, làm ông này phải thu quân chạy khỏi Beograd. 1 tuần sau đó, đồn binh Beograd đầu hàng quân La Mã Thần thánh. Chiến thắng của Eugène tại Beograd đã xác định kết quả chung cuộc của cuộc chiến với phần thắng thuộc về đế quốc La Mã Thần thánh: theo Hòa ước Passarowitz ngày 21 tháng 7 năm 1718, người Thổ giành được Pelopennese từ tay người Venezia, nhưng phải "dâng" Timișoara, Beograd và phần lớn Serbia cho nhà Habsburg.[32] Cuộc chiến 1716-1718 đã khẳng định tên tuổi của Eugène như một viên tướng giỏi chiến trận nhất châu Âu. Khả năng chuyển bại thành thắng tại những thời điểm nguy kịch của Eugène đã được thể hiện rõ nét nhất trong cuộc chiến này.[33]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Đài tưởng niệm Eugène tại Quảng trường Anh hùng (Viên) do Anton Dominik Fernkorn thực hiện.

Napoléon đánh giá Eugène là một trong 7 nhà cầm quân lớn nhất trong lịch sử.[34] Dù nhiều bình luận viên quân sự bất đồng với sự định giá của Napoléon, các sử gia đồng thuận rằng Eugène là tướng giỏi dùng binh nhất trong lịch sử Áo.[35] Eugène không có những thay đổi sáng tạo về sách lược quân sự và cơ cấu quân đội Áo, nhưng ông biết điều khiển hiệu quả một cơ chế khó điều khiển. Ông có tài tổ chức, tinh thông về cả chiến thuật lẫn chiến lược, luôn tin tưởng vào tầm quan trọng của việc tiến hành một trận đánh quy ước, cũng như vào khả năng biết chọn đúng thời cơ tấn công quân địch của bản thân.[35] Maurice de Saxe, một danh tướng Pháp đương thời đã viết: "Điều cần thiết là phải thấy được thời cơ và biết tận dụng nó. Vương tử Eugène có được cái phẩm chất cần có nhất trong nghệ thuật chiến này và đây là bằng chứng về một trí tuệ siêu việt nhất"[36]. Phong cách cầm quân linh hoạt của Eugène là chìa khóa đưa tới những thắng lợi quân sự của ông ở Ý và Đông Âu. Tuy nhiên, trong các chiến dịch ở Vùng đất thấp mà đặc biệt là sau trận Oudenarde năm 1708, Eugène và em họ ông là Ludwig xứ Baden lại đánh kiểu chắc ăn, nên bị dậm chân tại chỗ vào các hình thức chiến tranh công thành và bảo vệ tiếp tế kém linh động. Sau khi tấn công Toulon bất thành năm 1707, Eugène cũng do dự trong việc tổ chức các chiến dịch phối hợp lục-hải quân.[37] Tuy nhiên, sử gia Derek McKay cho rằng khiếm khuyết lớn nhất của Eugène nằm ở di sản của ông: ông đã không đào tạo, vun đắp một thế hệ nhân tài nào đủ sức thay ông quản việc binh sau khi ông chết.[35]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Childs: Warfare in the Seventeenth Century, 133. Childs puts the number at 100,000; John Wolf, as high as 200,000.
  2. ^ Stoye: The Siege of Vienna, 114
  3. ^ a ă Henderson: Prince Eugen of Savoy, 12
  4. ^ Churchill: Marlborough: His Life and Times, Bk. 1, 467
  5. ^ The life of Prince Eugene of Savoy, Charles de Ligne
  6. ^ Henderson: Prince Eugen of Savoy, 13
  7. ^ MacMunn: Prince Eugene: Twin Marshal with Marlborough, 32
  8. ^ Setton: Venice, Austria, and the Turks in the Seventeenth Century, p. 390
  9. ^ Spielman: Leopold I of Austria, 165. Friedrich August sang Ba Lan để tranh đoạt ngôi vua xứ này vốn đang bị bỏ trống sau khi Jan III Sobieski chết năm 1696.
  10. ^ McKay: Prince Eugene of Savoy, p. 43
  11. ^ Spielman: Leopold I of Austria, p. 166
  12. ^ Coxe: History of the House of Austria, II, pp. 455–456
  13. ^ Setton: Venice, Austria, and the Turks in the Seventeenth Century, 401–02. Tổn thất của quân Áo gồm 401 binh sĩ và 28 sĩ quan thiệt mạng, 133 sĩ quan và 1.433 binh sĩ bị thương.
  14. ^ Henderson: Prince Eugen of Savoy, p. 43
  15. ^ McKay: Prince Eugene of Savoy, p. 46
  16. ^ Henderson: Prince Eugen of Savoy, 50–51
  17. ^ Coxe. History of Austria, II, p. 457
  18. ^ Chandler: Marlborough as Military Commander p. 124
  19. ^ Chandler: Marlborough as Military Commander p. 125
  20. ^ Chandler: Marlborough as Military Commander p. 126
  21. ^ Churchill: Marlborough: His Life and Times, Bk. 1 vol II, p. 731
  22. ^ Lediard: The Life of John, Duke of Marlborough, I, p. 199
  23. ^ McKay: Prince Eugene of Savoy p. 87
  24. ^ Churchill: Marlborough: His Life and Times, Bk. 1 vol II, p. 865
  25. ^ Coxe: History of the House of Austria, III, p. 100
  26. ^ McKay: Prince Eugene of Savoy, pp. 159–160
  27. ^ a ă Setton: Venice, Austria, and the Turks in the Seventeenth Century, p. 435
  28. ^ Setton: Venice, Austria, and the Turks in the Seventeenth Century, p. 435; McKay: Prince Eugene of Savoy, p. 161
  29. ^ Setton: Venice, Austria, and the Turks in the Seventeenth Century, pp. 438–439
  30. ^ Coxe: History of the House of Austria, III, p. 102
  31. ^ McKay: Prince Eugene of Savoy, p. 165
  32. ^ Henderson: Prince Eugen of Savoy, p. 221. By 1720 the Kingdom of Serbia was (re)established, under the governorship of Charles Alexander of Wurttemberg.
  33. ^ McKay: Prince Eugene of Savoy, p. 166
  34. ^ Henderson, Prince Eugen of Savoy, xi. Những người còn lại là Alexandros Đại đế, Hannibal, Julius Caesar, Gustav II Adolf, Turenne, và Friedrich Đại đế.
  35. ^ a ă â McKay, Prince Eugene of Savoy, p. 246–247
  36. ^ De Saxe, Maurice. Reveries on the Art of War, p. 119
  37. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên chandler224

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu sơ cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu thứ cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Sách đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]