Eurovision Asia Song Contest 2018

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Eurovision Asia Song Contest 2018

Thời gian
Chung kết  2018
Tổ chức
Địa điểm TBA
Đài tổ chức TBA
Tham dự
Số quốc gia 9 (tới nay)
Nước tham dự lần đầu
Bầu chọn
Phương thức Mỗi nước cho 2 đợt 12, 10, 8-1 điểm cho 10 bài hát yêu thích của họ: 1 từ ban giám khảo chuyên môn và 1 từ lượng bình chọn trực tuyến.
Eurovision Asia Song Contest
2018

Cuộc thi Ca khúc Châu Á Truyền hình châu Âu 2018, hay Eurovision Asia Song Contest 2018 (EASC 2018) sẽ là mùa đầu tiên của Eurovision Asia Song Contest, phiên bản Châu Á-Thái Bình Dương của chương trình Eurovision Song Contest đã được sản xuất trong hơn 60 năm. Cuộc thi năm nay sẽ chỉ bao gồm một buổi diễn, và chưa được lên kế hoạch.

Tính đến ngày 13 tháng 10 năm 2017, có 9 quốc gia đã xác nhận ý định tham gia cuộc thi.

Quá trình[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 2016, Liên hiệp Phát sóng châu Âu (EBU) và đài truyền hình SBS của Úc[1] cùng đối tác sản xuất Blink TV đã thỏa thuận cho phép kênh này tổ chức một phiên bản Eurovision Song Contest của riêng các quốc gia Châu Á với quy tắc và định dạng cạnh tranh tương tự phiên bản châu Âu.[2]

Tháng 7 năm 2016, có bốn quốc gia đã xác nhận hoặc thể hiện sự quan tâm đối với cuộc thi mở đầu, bao gồm cả nước chủ nhà Úc, Trung Quốc, Nhật BảnHàn Quốc.[3] Cuộc thi được chính thức xác nhận vào ngày 18 tháng 8 năm 2017 bởi Liên hiệp Phát sóng châu Âu (EBU).[4]

Đơn vị sản xuất Blink TV đã xác nhận đối tượng tham gia cuộc thi bao gồm tất cả các quốc gia khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chứ không chỉ giới hạn cho thành viên của Hiệp hội Phát thanh Truyền hình châu Á -Thái Bình Dương (ABU). Có tới 68 quốc gia/khu vực tiềm năng có thể tham dự, trong đó nhiều khu vực như Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan cũng có thể tham gia Cuộc thi với tư cách độc lập như tại Thế vận hội.[5][6]

Địa điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 2017, ba thành phố Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc) và Sydney (Úc) đã thể hiện sự quan tâm đến việc tổ chức cuộc thi đầu tiên vào năm 2018. Sydney được đánh giá cao nhờ sự chủ trì của đài SBS Úc, trong khi chính quyền thành phố Singapore đã đưa ra mức kinh phí dự trù 4 triệu đô để tổ chức cuộc thi.[7] Các thành phố Sydney, New South WalesHồng Kông cũng thể hiện rằng họ sẵn sàng chi một khoản quỹ lớn để tổ chức cuộc thi này.[8]

Đại diện của các đài truyền hình chủ trì sẽ gặp gỡ với Nhóm Thẩm quyền Eurovision Asia Song Contest tại trụ sở ABUKuala Lumpur. Trong buổi họp, các quan chức của các đài truyền hình sẽ tham dự buổi hội thảo bao gồm một số chủ đề liên quan đến việc tổ chức cuộc thi và học hỏi từ những kinh nghiệm của các nhà tổ chức chương trình Eurovision Song Contest. Họ cũng sẽ có cơ hội để trình bày kế hoạch đầu tiên cho cuộc thi năm 2018, bao gồm nhiều đề xuất cho các thành phố và địa điểm tổ chức.

Định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi ý tưởng cuộc thi được thông qua vào tháng 3 năm 2016,[9] nó đã được chính thức xác nhận vào ngày 18 tháng 8 năm 2017.[10] Định dạng này sẽ gần giống với Eurovision Song Contest. Sự khác biệt duy nhất là chỉ có một trận chung kết trực tiếp, thay vì bao gồm cả hai trận bán kết với 20 quốc gia cùng tranh tài.

Danh sách của các nước tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Các nước/khu vực sau đây đã bày tỏ sự quan tâm tạm thời đến việc tham gia cuộc thi:

STT Quốc gia/Khu vực Nghệ sĩ Bài hát Ngôn ngữ
1 Úc Úc
2 Trung Quốc Trung Quốc
3 Hồng Kông Hồng Kông
4 Nhật Bản Nhật Bản
5 Kazakhstan Kazakhstan[11]
6 Maldives Maldives[12]
7 New Zealand New Zealand[13]
8 Papua New Guinea Papua New Guinea[14]
9 Singapore Singapore
10 Quần đảo Solomon Quần đảo Solomon[15]
11 Hàn Quốc Hàn Quốc
12 Vanuatu Vanuatu[16]

Các nước khác[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù ý định ban đầu là các quốc gia tham dự phải có 1 đài phát thanh - truyền hình là thành viên của Hiệp hội Phát thanh Truyền hình châu Á -Thái Bình Dương ABU, nhưng sau đó cuộc thi đã được xác nhận rằng sẽ mở rộng cho tất cả các nước châu Á, bất kể họ có đài phát thanh - truyền hình công cộng hay không.[6] Nhà tổ chức chương trình, Blink TV, sẽ đưa ra lời mời tham gia cuộc thi tới tất cả các thành viên. Một số quốc gia đã tạm thời xác nhận sự tham dự của họ với EASC 2018, trong khi các thành viên còn lại hiện vẫn chưa có phản hồi.

Các thành viên ABU tích cực[sửa | sửa mã nguồn]

  • Maldives Maldives - Trong khi không có tin tức nào được nghe từ các đài phát sóng chính thức, rất nhiều nghệ sĩ Maldives đã bày tỏ sự quan tâm đến việc tham gia cuộc thi.[17]
  • Việt Nam Việt Nam - Hiện tại Việt Nam cũng chưa xác nhận sẽ tham gia cuộc thi. Tuy nhiên, sau khi trang web chính thức của cuộc thi đăng bài viết liệt kê các ứng viên tiềm năng của các quốc gia có thể tham dự, trong đó Sơn Tùng M-TP là ca sĩ Việt Nam duy nhất được nhắc đến, anh đã nhận được sự hưởng ứng lớn từ người hâm mộ. Báo WIWIBLOGGS nói rằng trong 1 bài khảo sát độc giả và khán giả trên YouTube gần đây hỏi họ muốn những ai biểu diễn tại cuộc thi Eurovision Asia Song Contest sắp tới, tên của một nghệ sĩ Việt Nam Sơn Tùng M-TP đã liên tục được nhắc đến giữa hàng dài những cái tên gợi ý từ các ngôi sao nhạc pop Hàn Quốc và Nhật Bản.[18]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ tránh nhầm lẫn với đài SBS Hàn Quốc
  2. ^ Granger, Anthony (ngày 21 tháng 3 năm 2016). “Asia: SBS to create Eurovision Song Contest in Asia”. eurovoix.com. Eurovoix. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2016. 
  3. ^ Granger, Anthony (ngày 11 tháng 7 năm 2016). “Eurovision Asia up to 20 countries can compete”. eurovoix-world.com. Eurovoix. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2016. 
  4. ^ Trustram, Matthew. “Choir of the Year 2017”. ebu.ch. European Broadcasting Union. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2016. 
  5. ^ Granger, Anthony (ngày 7 tháng 5 năm 2016). “Asiavision 12 countries the aim for the first contest”. eurovoix-world.com. Eurovoix. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2016. 
  6. ^ a ă “Eurovision Asia: Full membership in the ABU is NOT required to participate in the song contest”. wiwibloggs. Ngày 28 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2017. 
  7. ^ “Three cities interested in hosting Eurovision Asia”. eurovoix-world.com. Eurovoix. Ngày 19 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2017. 
  8. ^ “Eurovision Insight Podcast: Insight Asks Australian Head Of Delegation Paul Clarke”. ESC Insight. Ngày 6 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2017. 
  9. ^ Jordan, Paul (ngày 21 tháng 3 năm 2016). “Eurovision Song Contest concept to be developed in Asia!”. eurovision.tv. European Broadcasting Union. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017. 
  10. ^ Jordan, Paul (ngày 18 tháng 8 năm 2017). “The Greatest Song Contest in the World is coming to Asia!”. eurovision.tv. European Broadcasting Union. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017. 
  11. ^ “Kazakhstan: Khabar Agency Negotiating Eurovision Asia Song Contest Participation - Eurovoix World”. Eurovoix World (bằng tiếng en-GB). 12 tháng 1 năm 2018. Truy cập 13 tháng 1 năm 2018. 
  12. ^ “Maldives: PSM Interested in Participating in Eurovision Asia - Eurovoix World”. Eurovoix World (bằng tiếng en-GB). 4 tháng 1 năm 2018. Truy cập 5 tháng 1 năm 2018. 
  13. ^ Granger, Anthony (ngày 22 tháng 8 năm 2017). “New Zealand: TVNZ looking at Eurovision Asia participation”. eurovoix-world.com. Eurovoix. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2017. 
  14. ^ “Papua New Guinea: National Broadcasting Corporation Show Interest in Eurovision Asia - Eurovoix World”. Eurovoix World (bằng tiếng en-GB). 28 tháng 12 năm 2017. Truy cập 29 tháng 12 năm 2017. 
  15. ^ Granger, Anthony (ngày 23 tháng 8 năm 2017). “Solomon Islands: SIBC Interested in Eurovision Asia”. eurovoix-world.com. Eurovoix. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017. 
  16. ^ van Lith, Nick (ngày 26 tháng 8 năm 2017). “Television Blong want Vanuatu to compete at Eurovision Asia”. escxtra.com. ESCXTRA.com. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017. 
  17. ^ Granger, Anthony. “Recording Artists Show Interest in Eurovision Asia”. Eurovoix World. Eurovoix. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2017. 
  18. ^ “EUROVISION ASIA: SHOULD SON TUNG M-TP SING FOR VIETNAM?”. WIWIBLOGGS. 

Liên kết bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]