Ewan McGregor

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ewan McGregor
Ewan McGregor Cannes 2012.jpg
Sinh Ewan Gordon McGregor[1]
31 tháng 3, 1971 (46 tuổi)[1]
Perth, Perthshire, Scotland[2][3][4]
Quốc gia Scotland
Quốc tịch Anh Quốc
Nghề nghiệp Diễn viên
Năm hoạt động 1993–nay
Phối ngẫu Eve Mavrakis (kết hôn 1995–nay) «start: (1995)»"Hôn nhân: Eve Mavrakis đến Ewan McGregor" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Ewan_McGregor)[1]
Con cái 4[1]
Người thân Denis Lawson (chú)
Giải thưởng OBE (2013)[1]

Ewan Gordon McGregor, OBE ( /ˌjuːən məˈɡrɛɡər/; sinh ngày 31 tháng 3 năm 1971)[1] là một diễn viên người Scotland. Anh đã thành công ở nhiều loại phim khác nhau, đặc biệt là phim thương mại, phim độc lập và phim nghệ thuật. Vai diễn chuyên nghiệp đầu tiên của anh là vào năm 1993, khi anh đảm nhận vai chính trong loạt series Lipstick on Your Collar trên Channel 4.[5] Anh được biết tới nhiều nhất với vai diễn Mark Renton, một tên nghiện heroin trong phim Trainspotting (1996), Jedi Obi-Wan Kenobi thời trẻ trong bộ ba loạt phim Chiến tranh giữa các vì sao (1999-2005), nhà thơ Christian trong bộ phim nhạc kịch Moulin Rouge! (2001), và Giáo sư Alfred Jones trong bộ phim tình cảm hài kịch Salmon Fishing in the Yemen (2011). Anh nhận được các đề cử giải Quả Cầu vàng ở hạng mục nam diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất cho Moulin Rouge!Salmon Fishing in the Yemen.

McGregor cũng đóng vai chính trong các vở kịch như Guys and Dolls (2005-07) và Othello (2007-08). McGregor xếp thứ #36 trong bảng xếp hạng "Top 100 Ngôi sao Điện ảnh Thời đại" do tạp chí Empire xuất bản vào năm 1997.[6] Năm 2010, anh thắng giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong bộ phim The Ghost Writer của Roman Polanski tại lễ trao giải Phim châu Âu lần thứ 23.[7] McGregor có giọng nam cao.[8]

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

McGregor sinh ra ở Perth, Scotland và được đưa về sống ở Crieff.[2][3][4] Mẹ anh, Carol Diane (họ thời con gái Lawson), là một giáo viên đã nghỉ hưu tại Crieff High School và sau đó được uỷ quyền làm giáo viên chính tại trường Kingspark ở Dundee.[9][10] Cha anh, James Charles Stewart "Jim" McGregor, cũng là một giáo viên dạy vật lý đã nghỉ hưu ở Học viện Morrison, Crieff.[11][12][13] Anh có một người anh trai, Colin, là cựu phi công Tornado GR4 của Không quân Hoàng gia Anh.[14] McGregor là cháu của diễn viên Denis Lawson (cũng xuất hiện ở loạt phim Chiến tranh giữa các vì sao) và diễn viên Sheila Gish, và là anh em họ của Lou Gish.[5] McGregor học ở Học viện Morrison ở Crieff. Sau khi ra trường, ở tuổi 16, anh làm việc như một người trợ lý sân khấu tại Perth Repertory Theatre và học một khoá học về kịch nghệ ở trường Kirkcaldy College,[15][16] trước khi chuyển tới London để học về kịch tại trường nghệ thuật Guildhall khi anh 18 tuổi.[5]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Phim và truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

McGregor tại buổi ra mắt phim The Men Who Stare at Goats trong Liên hoan phim quốc tế Toronto tháng 9 năm 2009

Năm 1993, 6 tháng trước khi tốt nghiệp Guildhall, McGregor có được vai diễn chính ở series phim truyền hình Lipstick on Your Collar.[5] Cùng năm đó, anh cũng thủ vai chính trên series chuyển thể Scarlet and Black với Rachel Weisz, và xuất hiện lần đầu tiên dưới vai trò phim điện ảnh với bộ phim Being Human của Bill Forsyth.[17] Năm 1994, McGregor xuất hiện trong bộ phim giật gân Shallow Grave, mà nhờ đó anh thắng một giải Empire,[18] và đánh dấu lần đầu tiên hợp tác với đạo diễn Danny Boyle.[5] Vai diễn đột phá toàn cầu của anh đến vào năm 1996 với vai Mark Renton - một kẻ nghiện ngập - trong phim Trainspotting của Boyle, một bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Irvin Welsh.[5][17]

McGregor đóng vai nam chính lãng mạn trong bộ phim Anh quốc Little Voice năm 1998. Năm 1999, McGregor tham gia vào bom tấn Chiến tranh giữa các vì sao (Phần I): Bóng ma đe dọa trong vai Obi-Wan Kenobi thời trẻ, vai diễn đã làm nên tên tuổi của Alec Guinness trong loạt phim Star Wars gốc,[5] trong đó chú của anh (Denis Lawson) cũng góp mặt vào vai Wedge Antilles.[19] Năm 2001, anh đóng cùng Nicole Kidman trong bộ phim Moulin Rouge! với vai chàng nhà thơ Christian yêu nàng vũ công Satine. Vai diễn mang lại cho anh một đề cử Quả cầu vàng. McGregor trở lại với vai Obi-Wan Kenobi trong phần trước tiếp theo của loạt phim, Chiến tranh giữa các vì sao (phần II): Sự xâm lăng của người Vô tính năm 2002. Năm 2003, anh cùng Renée Zellweger đóng chung trong phim Down With Love.[5][20] Cũng trong năm đó, anh nhận được nhiều lời có cánh với bộ phim Young Adam, cùng với Tilda Swinton.[21][22]

Năm 2005, anh xuất hiện lần chót trong vai Obi-Wan Kenobi trong Chiến tranh giữa các vì sao (phần III): Sự báo thù của người Sith. Cùng năm đó, anh tham gia lồng tiếng vào hai bộ phim hoạt hình ăn khách, như vai robot Rodney Copperbottom trong Robots, trong đó có cả sự tham gia của Halle BerryRobin Williams,[23] và phim Valiant cùng với Jim Broadbent, John CleeseRicky Gervais.[24] Ngoài ra anh còn đóng phim Stay của đạo diễn Marc Foster, một bộ phim tâm lý giật gân cùng Naomi WattsRyan Gosling.[25][26]

Năm 2012, anh được bầu chọn làm Ban Giám khảo chính trong Liên hoan phim Cannes 2012.[27] Các dự án sắp tới của anh có thể kể đến phần phim chuyển thể live-action của DisneyCông chúa ngủ trong rừng của đạo diễn Bill Condon, trong đó anh đóng vai Lumiere. Dàn diễn viên còn bao gồm Emma Watson (Belle), Dan Stevens (Beast/Prince), Luke Evans (Gaston), Ian McKellen (Cogsworth), Emma Thompson (Bà Potts), Kevin Kline (Maurice) và Audra McDonald (Garderobe). Phim dự kiến sẽ ra mắt tháng 3 năm 2017.[28]

Kịch nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 11 năm 1998 đến tháng 3 năm 1999, McGregor sắm vai Malcolm Scrawdyke trong vở 'Little Malcolm and His Struggles Against Eunuchs, đạo diễn bởi Denis Lawson, chú của anh. Lần đầu vở diễn được thực hiện ở rạp Hampstead trước khi tới rạp Comedy ở Tây London.[29]

Từ tháng 6 năm 2005 đến tháng 4 năm 2007, McGregor cùng Jane Krakowski, Douglas HodgeJenna Russell trong phiên bản gốc của vở Guys and Dolls tại rạp Piccadilly ở London.[30] Trong vở này anh đóng vai Sky Masterson, trước đó Marlon Brando đã làm nên huyền thoại trong bộ phim cùng tên. McGregor nhận được một đề cử giải Laurence Olivier cho Nam diễn viên xuất sắc nhất trong vở hài kịch năm 2007.[31]

Những chuyến đi bằng mô tô[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc xe mà McGregor đã sử dụng trong những cuộc hành trình của anh

Là một người đam mê mô tô từ thuở trẻ, McGregor muốn làm một chuyến đi xuyên lục địa trên chiếc xe của mình với người bạn thân Charley Boorman và Claudio von Planta vào năm 2004. Từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 7, họ phượt từ London đến New York xuyên qua Trung Âu, Ukraine, Kazakhstan, Mông Cổ, Siberia, CanadaHoa Kỳ trên chiếc BMW R1150GS, với tổng chiều dài mà anh đi được lên tới 35,960km.[32] Anh còn tham gia các chương trình của UNICEF dọc chuyến đi của mình, và làm một cuốn sách bán chạy và một chương trình truyền hình dựa trên hành trình của mình, đều có tựa đề là Long Way Round.[33]

McGregor xuất hiện trong hai phần của cuốn phim tài liệu Ewan McGregor: Cold Chain Mission của đài BBC tháng 4 năm 2004, bao gồm việc anh đi bằng mô tô, thuyền, máy bay và thậm chí cả đi bộ để đưa vắc-xin cho trẻ em ở những vùng sâu vùng xa của các quốc gia Ấn Độ, NepalCộng hoà Congo. Chuyến đi là một phần công tác của anh là Đại sứ UNICEF.

Đời sống riêng tư[sửa | sửa mã nguồn]

McGregor cưới vợ là Eve Mavrakis,[1] một nhà thiết kế thời trang người Pháp từ năm 1995.[5] Họ có với nhau 4 người con gái:[1] Clara, Esther, Jamyan[34] và Anouk.[35][36] McGregor có hình xăm hình trái tim và chữ thập có tên vợ và các con anh trên tay phải.[20][37] Hiện giờ gia đình họ sống tại Los Angeles, California sau khi chuyển từ London.[38]

Các phim đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Phim
Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú
1994 Being Human Alvarez
1994 Shallow Grave Alex Law
1995 Blue Juice Dean Raymond
1996 Trainspotting Mark Renton
1996 Pillow Book, TheThe Pillow Book Jerome
1996 Emma Frank Churchill
1996 Brassed Off Andy Barrow
1997 Nightwatch Martin Bells
1997 Serpent's Kiss, TheThe Serpent's Kiss Meneer Chrome
1997 Life Less Ordinary, AA Life Less Ordinary Robert Lewis
1998 Velvet Goldmine Curt Wild
1998 Little Voice Billy
1999 Desserts Stroller Short film
1999 Star Wars Episode I: The Phantom Menace Obi-Wan Kenobi
1999 Rogue Trader Nick Leeson
1999 Eye of the Beholder The Eye
2000 Nora James Joyce
2001 Moulin Rouge! Christian Đề cử -
Giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất
2001 Black Hawk Down SPC John Grimes
2002 Star Wars Episode II: Attack of the Clones Obi-Wan Kenobi
2002 Solid Geometry Phil
2003 Down with Love Catcher Block
2003 Young Adam Joe Taylor
2003 Faster Narrator Voice
2003 Big Fish Edward Bloom (young)
2005 Robots Rodney Copperbottom Voice
2005 Star Wars Episode III: Revenge of the Sith Obi-Wan Kenobi
2005 Valiant Valiant Voice
2005 Island, TheThe Island Lincoln Six Echo/Tom Lincoln
2005 Stay Dr. Sam Foster
2006 Stormbreaker Ian Rider
2006 Scenes of a Sexual Nature Billy
2006 Miss Potter Norman Warne
2007 Cassandra's Dream Ian Blane
2008 Incendiary Jasper Black
2008 Deception Jonathan McQuarry
2009 Angels & Demons Camerlengo Patrick McKenna
2009 I Love You Phillip Morris Phillip Morris
2009 Men Who Stare at Goats, TheThe Men Who Stare at Goats Bob Wilton
2009 Amelia Gene Vidal
2010 Ghost Writer, TheThe Ghost Writer The Ghost Writer
2010 Nanny McPhee and the Big Bang Rory Green Cameo
2010 Jackboots on Whitehall Chris Voice
2010 Beginners Oliver
2011 Perfect Sense Michael
2011 Fastest Narrator Voice
2011 Haywire Kenneth
2012 Salmon Fishing in the Yemen Dr. Alfred Jones Đề cử -
Giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất
2012 Impossible, TheThe Impossible Henry Bennett
2013 Jack the Giant Slayer Elmont
2013 August: Osage County Bill Fordham
2014 A Million Ways to Die in the West Cowboy at Fair Cameo
2014 Son of a Gun Brendan Lynch
2015 Mortdecai Inspector Martland
2015 Last Days in the Desert Jesus / Satan
2015 Jane Got a Gun John Bishop
2015 Our Kind of Traitor Peregrine "Perry" Makepeace Post-production
2015 Miles Ahead Dave Brill Post-production
2017 Beauty and the Beast Lumière Filming
Truyền hình
Năm Tên truyền hình Vai diễn Ghi chú
1993 Lipstick on Your Collar PTE Mick Hopper 6 episodes
1993 Scarlet and Black Julien Sorel Mini-series
1995 Kavanagh QC David Robert Armstrong Episode: "Nothing But the Truth"
1996 Karaoke Young Man Episode: "Tuesday"
1996 Tales from the Crypt Ford Episode: "Cold War"
1997 ER Duncan Stewart Episode: "The Long Way Around"
2002 Polar Bears of Churchill with Ewan McGregor, TheThe Polar Bears of Churchill with Ewan McGregor Himself Documentary series
2004 Long Way Round Himself Documentary series
2007 Long Way Down Himself Documentary series
2010 Battle of Britain, TheThe Battle of Britain Himself Documentary
2012 Ewan McGregor: Cold Chain Mission Himself Documentary
2012 Bomber Boys Himself Documentary
2013 Corrections, TheThe Corrections Chip Lambert Unaired pilot
2013 Hebrides: Islands on the Edge Himself (voice) Documentary series
Kịch nghệ
Năm Tên vở diễn Vai diễn Ghi chú Ref.
2014 The Real Thing Henry American Airlines Theatre [39]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e McGREGOR, Ewan Gordon. ukwhoswho.com. Who's Who 2015 (A & C Black, một chi nhánh của Bloomsbury Publishing plc).  (cần đăng ký mua)
  2. ^ a ă “Ewan McGregor on His Career and 'The Impossible'. youtube.com. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015. 
  3. ^ a ă “Ewan McGregor 1971”. pkc.gov.uk. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015. 
  4. ^ a ă “Starring role for actor's mother Maternity unit closure puts Mrs McGregor in front of the spotlight”. heraldscotland.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015. 
  5. ^ a ă â b c d đ e ê “Profile – Ewan McGregor”. Hello!. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  6. ^ “Empire Magazine's Top 100 Movie Stars 1997”. amiannoying.com. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  7. ^ Brooks, Xan (ngày 5 tháng 12 năm 2010). “Roman Polanski film The Ghost Writer dominates European awards”. The Guardian (Guardian Media Group). Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2014. 
  8. ^ “Moulin Rouge Soundtrack (2001)”. Truy cập 15 tháng 8 năm 2015. 
  9. ^ “Obi-Wan Kenobi's mum”. theguardian.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015. 
  10. ^ “Carol McGregor: Malawi Diaries”. scotsman.com. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015. 
  11. ^ “Morrisonian Club”. morrisonsacademy.org. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015. 
  12. ^ “Ewan McGregor biography”. tiscali.co.uk. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2008. 
  13. ^ “Ewan McGregor Biography (1971–)”. filmreference.com. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2008. 
  14. ^ Barratt, Nick (ngày 11 tháng 11 năm 2006). “Family Detective”. The Daily Telegraph (London). 
  15. ^ “The Guardian profile: Ewan McGregor”. theguardian.com. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015. 
  16. ^ “Perth Theatre, past and present...”. horsecross.co.uk. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015. 
  17. ^ a ă “Hello Magazine Filmography – Ewan McGregor”. Hello Magazine. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  18. ^ “Empire Awards, UK: 1996”. IMDB.com. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  19. ^ Star Wars Trilogy (DVD). 20th Century Fox. 2004. 
  20. ^ a ă “Ewan McGregor Biography”. Yahoo!. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  21. ^ Slater, Matthew (ngày 9 tháng 10 năm 2003). “Young Adam's dark tale”. BBC. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  22. ^ Dawtrey, Adam (ngày 21 tháng 9 năm 2003). “Thomas' distrib misstep”. Variety. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  23. ^ Hartlaub, Peter (ngày 11 tháng 3 năm 2005). “It's a bucket of bolts that rattles agreeably. Robots mingles brass, laughs and, yes, Robin Williams”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  24. ^ Holden, Stephen (ngày 19 tháng 8 năm 2005). “Thse Brave Pigeons Are Doing Their Part for the War”. New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  25. ^ Clinton, Paul (ngày 22 tháng 7 năm 2005). 'Island' just interesting enough”. CNN. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  26. ^ Dargis, Manohla (ngày 21 tháng 10 năm 2005). “Something Is Happening, but Who Knows What It Is?”. New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  27. ^ “The Jury of the 65th Festival de Cannes”. festival-cannes.com. Cannes Film Festival. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2012. 
  28. ^ “Ewan McGregor to Play Lumiere in 'Beauty and the Beast' (Exclusive)”. The Hollywood Reporter. Ngày 21 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2015. 
  29. ^ “McGregor play opens in West End”. BBC News. Ngày 22 tháng 1 năm 1999. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2011. 
  30. ^ Guys and Dolls musical”. Guys and Dolls the Musical. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  31. ^ “The nominees and winners of the 2006 Laurence Olivier Awards”. The Society of London Theatre. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2008. [liên kết hỏng]
  32. ^ “Long Ride to Self Discovery” (PDF). The Daily Telegraph. Long Way Around. Ngày 14 tháng 10 năm 2004. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  33. ^ “Ewan McGregor gets back on his bike – this time for BBC Two”. BBC. Ngày 15 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2008. 
  34. ^ Stephen M. Silverman and Pete Norman (ngày 12 tháng 4 năm 2006). “Ewan McGregor Adopts a Daughter”. People. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  35. ^ Adams, Cindy (ngày 25 tháng 5 năm 2011). “Beginning of a new friendship”. New York Post (News Corporation). ISSN 1090-3321. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2011. 
  36. ^ White, Gemma (ngày 31 tháng 7 năm 2012). “Celebrity adoptions: Love sees no colour”. Scene magazine. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2013. 
  37. ^ “Ewan McGregor Tattoo Pictures”. Ready2Beat. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  38. ^ Khokhar, Ahmer (ngày 1 tháng 8 năm 2010). 'London eats liberty', says Ewan McGregor”. The Scotsman (Edinburgh). Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2011. 
  39. ^ Stasio, Marilyn (ngày 30 tháng 10 năm 2014). “Broadway Review: ‘The Real Thing’ with Ewan McGregor”. Variety. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]