F.C. Barcelona

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
FC Barcelona
Logo FC Barcelona
Tên đầy đủ Futbol Club Barcelona
Biệt danh Blaugrana, Azulgrana, Barçe
Thành lập 29 tháng 11, 1899; 116 năm trước
với tên Foot-Ball Club Barcelona
Sân vận động Camp Nou,
Barcelona, Tây Ban Nha
Sức chứa 98.787
Chủ tịch Tây Ban Nha Josep Maria Bartomeu
Huấn luyện viên Tây Ban Nha Luis Enrique
Giải đấu La Liga
La Liga 2015-16 La Liga, Vô địch
Sân nhà
Sân khách
Khác
Soccerball current event.svg Mùa giải hiện nay

FC Barcelona (viết tắt của Futbol Club Barcelona trong tiếng Catalan), cũng thường được biết đến với tên gọi tắt Barcelona, hay thân mật là Barçacâu lạc bộ thể thao giàu thành tích ở Barcelona, Catalonia, Tây Ban Nha. Câu lạc bộ này tập hợp nhiều bộ môn thể thao nhưng trong đó nổi tiếng nhất là đội tuyển bóng đá Barcelona. FC Barcelona được thành lập vào năm 1899 bởi một nhóm cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ, AnhCatalan, dẫn dắt bởi Joan Gamper. Khẩu hiệu là Més que un club (Không chỉ là một câu lạc bộ). Sân nhà của Barça là sân Nou Estadi del Futbol Club Barcelona (Sân mới của Câu lạc bộ bóng đá Barcelona), thường được gọi là Camp Nou.

FC Barcelona đã có 24 danh hiệu vô địch quốc gia (La Liga), 28 Cúp quốc gia, 12 Siêu cúp quốc gia và 2 Cúp Liên đoàn Tây Ban Nha. Ở đấu trường quốc tế, FC Barcelona cũng sở hữu 20 danh hiệu với 5 chức vô địch Cúp C1 châu Âu/UEFA Champions League, 4 Cúp C2, 3 Cúp C3, 5 Siêu cúp châu Âu cùng 3 Cúp thế giới các câu lạc bộ.

FC Barcelona là một trong những câu lạc bộ giàu thành tích nhất Tây Ban Nha cùng với Real Madrid C.F., Athletic BilbaoAtlético Madrid.[1] Ở mùa giải 2008-2009, dưới sự dẫn dắt của Huấn luyện viện Pep Guardiola, Barça trở thành đội bóng đầu tiên trên thế giới giành được cú ăn 6 (đoạt cả sáu danh hiệu chính ở cả sáu giải đấu tham gia) trong cùng một mùa giải (Cúp C1 châu Âu/UEFA Champions League, La Liga, Cúp Nhà vua Tây Ban Nha, Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha, Siêu cúp bóng đá châu ÂuCúp thế giới các câu lạc bộ).

Đối thủ chính của Barcelona là Real Madrid. Trận đối đầu giữa hai đội được gọi là El Clásico (El Clàssic trong tiếng Catalan). Từ khi Giải vô địch bóng đá Tây Ban Nha được thành lập vào năm 1929, Barcelona cùng Real Madrid và Athletic Bilbao là ba câu lạc bộ chưa bao giờ bị xuống chơi ở giải hạng nhì. Theo cuộc thăm dò thực hiện vào năm 2010 của trung tâm nghiên cứu xã hội học Tây Ban Nha Centro de Investigaciones Sociológicas[2] thì FC Barcelona là câu lạc bộ có nhiều cổ động viên thứ 2 ở Tây Ban Nha với 25%, xếp sau Real Madrid (32%) và bỏ xa đội thứ ba là Valencia (5%).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sự thành lập và những thập niên đầu dưới sự dẫn dắt của chủ tịch Joan Gamper (1899–1930)[sửa | sửa mã nguồn]

Thông báo thể thao: Người bạn và đồng đội của chúng ta Hans Gamper... cựu vô địch bóng đá Thụy Sĩ, muốn tổ chức một vài trận bóng tại thành phố, và nhắn tất cả những ai hứng thú với môn thể thao này, hãy đến văn phòng tòa soạn của tờ báo này vào mỗi tối thứ ba thứ sáu hàng tuần, từ 9 đến 11 giờ tối.

Nội dung tin quảng cáo của Gamper trên tờ Los Deportes[3]
Tin quảng cáo của Gamper trên tờ Los Deportes

Bộ môn bóng đá chậm chinh phục được người Tây Ban Nha nói chung, và người Catalunya nói riêng[4]. Vào cuối thế kỷ XIX, Barcelona đang chuyển mình nhanh chóng trong công cuộc công nghiệp hóa và thu hút nhiều người nước ngoài đến sống và làm việc, trong đó Hans Gamper, một kế toán mang quốc tịch Thụy Sĩ và chơi bóng đá nghiệp dư[5]. Gamper đầu tiên muốn gia nhập đội Gimnasio Tolosa, nhưng bị từ chối do câu lạc bộ nói trên không chấp nhận người nước ngoài, ông quyết định tự thành lập một câu lạc bộ bóng đá[5]. Vào ngày 22 tháng 10 năm 1899, Joan Gamper đăng một mẩu tin quảng cáo trên tờ Los Deportes chiêu gọi mọi người thành lập một câu lạc bộ bóng đá. Và ngày 29 tháng 11 năm 1899, sau khi nhận được nhiều lời phản hồi đồng ý nhận lời tham gia, mọi người quyết định gặp mặt nhau tại trụ sở của Gimnasio Solé. Mười một cầu thủ có mặt gồm: Walter Wild, Lluís d'Ossó, Bartomeu Terradas, Otto Kunzle, Otto Maier, Enric Ducal, Pere Cabot, Josep Llobet, John Parsons, và William Parsons mang các quốc tịch Anh, Thụy Sĩ và Đức. Mọi người đi đến quyết định thành lập CLB Foot-Ball Club Barcelona[3]. Walter Wild, người lớn tuổi nhất đội, được chọn làm chủ tịch đầu tiên[6].

Joan Gamper

Trận đấu đầu tiên của đội diễn ra trên sân Bonanova, và Barça thua một đội tập hợp các cầu thủ quốc tịch Anh đang sống tại Barcelona[7] với tỉ số 1-0[6]. Đội đầu tiên thường đá trong khuôn viên khách sạn Casanovas trong năm 1900, sau đó rời đến sân tại ngõ Horta vào năm 1901, rồi chuyển đến phố Muntaner từ năm 1905[6][7].

Walter Wild là vị chủ tịch đầu tiên nhưng người có công lớn nhất trong việc thành lập CLB là Hans Maximilan Gamper (hay còn được biết đến với cái tên Joan Gamper) – một chàng trai trẻ người Thụy Sĩ sinh sống ở xứ Catalan (sau này Joan Gamper đã năm lần làm Chủ tịch CLB). Với Gamper làm đội trưởng và thủ quỹ, Walter Wild làm chủ tịch đầu tiên, Barcelona mở đầu lịch sử của mình bằng trận thua 0-1 trước đội bóng của những người Anh đang sống tại Barcelona vào ngày 8 tháng 12 năm 1899. Và trận đấu đầu tiên ngoài địa giới Catalan là với FC Madrid (Real Madrid sau này), lúc đó cũng mới thành lập vào tháng 5 năm 1902 và trận đấu đó Barca thắng 3-1 mở đầu cho những cuộc đối đầu giữa 2 CLB kình địch trong suốt chiều dài lịch sử. Joan Gamper cũng chính là vị chủ tịch vĩ đại nhất trong lịch sử CLB.

1923-1939, thời kỳ nội chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Vào dịp kỷ niệm 25 năm thành lập CLB, Barça khánh thành Sân vận động Les Corts và CLB cũng là một tập hợp của nhiều anh tài như là Samitier, Sargi-Barba, Piere, Sancho,... tất cả những điều đó giúp CLB giành được nhiều chức vô địch trong thời kỳ này.

Tại đấu trường nội địa, Barça trở thành nhà vô địch đầu tiên khi giải La Liga được thành lập vào năm 1929 và kể từ đó cho đến nay chưa bao giờ xuống hạng (cùng với Real MadridAthletic Bilbao). Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và sau đó là cuộc nội chiến bắt đầu đã buộc Barça phải bán đi những cầu thủ hay nhất của mình. Chế độ Franco căm thù đội bóng giương cao ngọn cờ của xứ Catalan. Không chỉ gạt bỏ tất cả những gì liên quan đến địa phương, chẳng hạn như ngôn ngữ, Franco còn đưa một người thân cận lên chức chủ tịch CLB và đổi tên Barça thành "Club de Fútbol Barcelona" theo đúng tiếng Tây Ban Nha.

1939-1988[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1950 đánh dấu một thời đại mới trong lịch sử CLB với những cầu thủ Hungary như Ladislao Kubala, Zoltán Czibor, Sándor Kocsis và những cầu thủ Tây Ban Nha như Luis Suarez, Barcelona giành được những danh hiệu đầu tiên ở châu Âu. Một cú đánh đầu bằng vàng của Evaristo đã gạt Real ra rìa ở cúp C1 năm 1961. Nhưng sai lầm ngớ ngẩn của thủ thành Ramallets đã dâng chiếc cúp cho Benfica, lúc đó còn vô danh. Đó là trận chung kết C1 đầu tiên của Barça, chiếc cúp mà mãi 31 năm sau mới trở về với họ. Đấy là thời kì huy hoàng của CLB, trong vòng 13 năm Barça đạt được 6 chức vô địch Liga, 5 cúp Nhà vua và 2 cúp Hội chợ liên thành phố (tiền thân của cúp C3 hay là UEFA sau này). Trong suốt lịch sử các cúp châu Âu, Barça là đội bóng duy nhất chưa bao giờ vắng mặt ở đấu trường này. Và Barça cũng cùng với Juventus, Ajax AmsterdamBayern München là những đội bóng hiếm hoi đã dành đủ cả ba chiếc cúp C1, C2 và C3. Trong thập niên 1950, với sự phát triển mạnh mẽ của CLB, sân Les Corts trở nên chật chội. Vào ngày 24 tháng 9 năm 1957 sân vận động hiện thời – sân Camp Nou, được khánh thành với sức chứa hơn 90.000 chỗ ngồi. Và sân Camp Nou trong suốt chiều dài lịch sử của mình và qua các lần sửa chữa nâng cấp đã có lúc lên đến 120.000 chỗ ngồi. Cho đến bây giờ sân Camp Nou vẫn là sân vận động lớn nhất châu Âu.

Nhưng những thành công của Barça không làm người ta thoả mãn, họ vẫn chưa có chiếc cúp C1 danh giá, tiền đổ ra như nước nhằm phục vụ tham vọng này. Và rất nhiều những ngôi sao sáng, những huấn luyện viên tài ba nhất của bóng đá thế giới đã đến đây với mục tiêu chinh phục nó: Rinus Michels, Terry Venables, Diego Maradona và những chàng trai người Anh như Gary Lineker, Hughes... Nhưng họ vẫn trắng tay khi thất bại trước Benfica vào năm 1961 tại Thụy Sĩ và trước Steaua Bucharest năm 1986 tại chính Tây Ban Nha.

1988-2006[sửa | sửa mã nguồn]

Và cuối cùng Johan Cruyff – cầu thủ huyền thoại người Hà Lan, người đã từng thi đấu trong màu áo Barcelona, đổ bộ xuống đây vào một ngày mùa thu năm 1988 trên chiếc ghế huấn luyện viên trưởng để mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử CLB, ông đã biến Barça thành cái gọi là "Dream Team". Và cú sút khủng khiếp của Ronand Koeman trong một đêm Wembley kỳ ảo tháng 5 năm 1992 đã đem đến chiếc cúp châu Âu duy nhất còn thiếu trong lịch sử mà Barca đã đeo đuổi suốt 40 năm. Ngôi đền thiêng của Barca đã mở ra với huyền thoại người Hà Lan, với những chiến công mà không ai có thể lặp lại được cho đến tận bây giờ. Có thể tổng kết lại Barca dưới thời đấy qua phát biểu của Fernando, một cựu cầu thủ của Valencia: "Bạn không thể thắng được Barca đâu. Thứ nhất, họ lúc nào cũng có nhiều bóng. Thứ hai, họ khoẻ hơn chúng ta và thứ ba, họ chạy như những thằng điên". Mùa giải 2005-2006, họ bảo vệ thành công chức vô địch La Liga, và đặc biệt là Champions League (tiền thân là cúp C1) với 1 đội hình được xem là "Dream Team 2" gồm những cái tên Ronaldinho, Eto'o, Messi...

Triều đại của Guardiola[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 2006-2008 đánh dấu sự đi xuống của Barca dưới thời Frank Rijkaard khi đội liên tiếp trắng tay 2 năm liền, xếp sau đại kình địch Real Madrid tại La Liga, và thất bại tại UEFA Champions League. Cũng bởi lẽ đó Rijkaard đã phải ra đi và thế chỗ cho ông là Pep Guardiola.

Từ năm 2008-2011 mở ra một chu kỳ thành công mới cho đội bóng xứ Catalan dưới sự chỉ huy của Pep Guardiola. Ngay từ mùa giải đầu tiên dẫn dắt 2008-09, Barca đã đạt cú ăn ba khi vượt qua Real Madrid tại giải quốc nội, đáng chú ý là trận thắng 6-2 ngay trên sân của đại kình địch, đánh bại Athletic Bilbao đến 4-1 trong trận chung kết Cup Nhà Vua, và thắng ĐKVĐ châu Âu khi đó là Manchester United với tỷ số 2-0 và trở thành câu lạc bộ Tây Ban Nha đầu tiên đoạt được cú ăn ba.

Ở mùa giải tiếp theo, CLB đã kí hợp đồng với Zlatan Ibrahimovic với mức phí chuyển nhượng kỷ lục ở lúc đó là 69 triệu euro (46 triệu euro tiền mặt và các thêm Samuel Eto'o). Barca còn xuất sắc giành tiếp 3 danh hiệu Siêu Cup châu Âu, Siêu Cúp Tây Ban Nha, và Cup liên lục địa, kết thúc một năm 2009 vinh quang với cú ăn 6 vĩ đại. Tuy nhiên đó lại được xem là một mùa giải không mấy thành công khi Barca chỉ giành được 1 danh hiệu quốc nội, bị Sevilla loại ở Cúp Nhà Vua do luật bàn thắng trên sân khách, và bị Inter Milan đánh bại tại bán kết UEFA Champions League 2009-10.

Tại mùa giải 2010-11, Barca đã chính thức sở hữu David Villa, chân sút ghi bàn nhiều nhất cho tuyển Tây Ban Nha tại World Cup 2010 với giá 40 triệu euro, khi đó Barca đang có một hàng công mạnh với sự xuất hiện của bộ ba MVP (Messi-Villa-Pedro). CLB đã giành được 2 danh hiệu ở mùa giải đó là chức VĐQG và Champions League. Đáng nói nhất là chiến thắng 5-0 trước kình địch Real tại La Liga, loại họ ra khỏi bán kết cúp C1 và chiến thắng 3-1 trước đối thủ cũ Man United tại trận chung kết C1 năm đó.

Mùa giải 2011-12 với sự trở lại của đứa con xứ Catalan - tiền vệ Cesc FabregasAlexis Sánchez từ Udinese Calcio, họ có khởi đầu mùa khá tốt khi đánh bại Real Madrid tại Siêu cúp TBN với tổng tỷ số 5-4 (2-2 lượt đi & 3-2 lượt về), đánh bại F.C. Porto 2-0 để giành UEFA Super Cup và vô địch FIFA Club World Cup khi thắng Santos F.C. 4-0 với cú đúp của Messi và 2 bàn của Xavi & Fabregas, nhưng ở mùa giải này, Barca chỉ giành được 1 danh hiệu Cup Nhà Vua (thắng Bilbao 3-0), xếp sau Real Madrid tại La Liga sau khi thua 2-1 lượt về ở Nou Camp và thất bại trước Chelsea F.C. tại bán kết Cup C1 khi thua 0-1 lươt đi tại Anh (Drogba ghi bàn phút 45) và dù cho có 2 bàn dẫn trước của Sergio BusquetsAndrés Iniesta, nhưng bàn thắng của RamiresFernando Torres ở phút 89 đã nhấn chìm Barca, ngoài ra Messi còn sút hỏng quả 11m khi đổi mặt với thủ môn Petr Čech, kết quả Barca hòa 2-2 và thua 2-3 chung cuộc, trở thành cựu vương cúp C1 mùa đó. Cùng lúc đó, HLV Pep Guardiola xác nhận rời CLB "vì không thể đổi mới được đội hình sau bốn năm thành công và đang có dấu hiệu chững lại vì sự “nghèo nàn” bị các đối thủ bắt bài", trợ lí HLV Tito Vilanova lên nắm quyền sau đó.

Từ năm 2012-nay[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự ra đi của Pep Guardiola, người trợ lí Tito Vilanova chính thức lên làm HLV trưởng của CLB. Mùa giải 2012-13, Barcelona đã xuất sắc cân bằng kỉ lục 100 điểm mà kình địch Real lập được ở mùa giải trước, đoạt chức vô địch La Liga lần thứ 22, nhưng Barca lại thất bại tại Siêu cúp TBN khi để Real báo thù thành công dù đã thắng 3-2 lượt đi và để Real thắng 2-1 lượt về, chung cuộc 2 đội hòa 4-4 và Real giành cup nhờ luật bàn thắng sân khách, tại đấu trường châu Âu Barca thua Bayern Munich 7 bàn không gỡ ở bán kết (0-4 lượt đi, 0-3 lượt về), đó vẫn là thất bại nặng nề nhất trong kỉ nguyên của CLB xứ Catalan. Khi mùa giải 2012-13 kết thúc, Tito Vilanova xin từ chức HLV trưởng Barca để điều trị ung thư. Thay thế cho Vilanova là Gerardo Martino ở mùa giải 2013-14. Trong mùa giải đó, Barca không thể giành được một danh hiệu nào, họ bị Atletico Madrid qua mặt tại La Liga và bị loại khỏi tứ kết Champions League, bị đại kình địch Real Madrid đánh bại trong trận chung kết Cup Nhà Vua trên sân Mestalla, đánh dấu mùa giải trắng tay sau 6 năm vinh quang thăng trầm. Chính vì vậy, tháng 6 năm 2014, Gerardo Martino rời khỏi cương vị HLV trưởng Barca.

Năm 2014, Luis Enrique được bổ nhiệm làm HLV trưởng Barca, bắt đầu sự tái thiết đội bóng. Mùa hè năm đó, Barca đã chi hơn 150 triệu euro vào thị trường chuyển nhượng, liên tiếp đón nhận những bản hợp đồng chất lượng như Ivan Rakitić, Jeremy Mathieu, Claudio Bravo, Marc-André ter Stegen và đáng nói nhất là bản hợp đồng bom tấn Luis Suarez với giá hơn 80 triệu euro. Ở mùa giải này, Barca đã tái hiện lại cú ăn 3 như dưới thời Guardiola, mặc dù họ đã thất bại 1-3 trên sân Bernabeu của kình địch Real, nhưng vẫn đánh bại CLB thành Madrid 2-1 trên sân Nou Camp bằng 2 bàn thắng của các tân binh Mathieu và Suarez, qua đó vượt mặt kình địch trên bảng xếp hạng La Liga.

Tháng 5 năm 2015, sau khi vượt qua Atletico Madrid trên sân đối phương bằng bàn thắng duy nhất của tiền đạo Lionel Messi, Barcelona đã chính thức đăng quang La Liga lần thứ 23 sớm 1 vòng đấu. Tại Cup Nhà Vua, Barca lần lượt vượt qua Atletico, Villarreal, và đánh bại Bilbao 3-1 để đoạt cup, đây là danh hiệu thứ hai của mùa giải. Còn ở Champions League 2014-15, Barca đã lập một chiến tích có một không hai khi lần lượt đả bại các nhà ĐKVĐ ở các giải đấu khác như APOEL, Ajax, PSG, Man City, Bayern Munich, Juventus để vô địch châu Âu lần thứ 5 trong lịch sử, hoàn thành mùa giải với cú ăn 3, trở thành CLB duy nhất trên thế giới 2 lần làm được điều này, và có cơ hội đạt cú ăn 6 như thời HLV Pep Guardiola.

Mùa giải 2015-16, Barca đã có sự phục vụ của hậu vệ Aleix Vidal từ Sevilla và tiền vệ Arda Turan của Atlético Madrid, tuy nhiên Barca chỉ được đăng ký 2 cầu thủ này vào tháng 1/2016 do phải thực hiện án cấm chuyển nhượng của FIFA. Mở đầu mùa giải Barca có chiến thắng nghẹt thở 5-4 trước Sevilla tại trận tranh Siêu Cup châu Âu bằng bàn thắng của Pedro, người sau này chuyển sang Chelsea F.C.. Vài ngày sau, họ bất ngờ để thua 0-4 trước Bilbao ở lượt đi trận tranh Siêu Cup Tây Ban Nha và bị cầm hòa 1-1 ở lượt về, qua đó đánh mất danh hiệu duy nhất mà họ không đạt được trong năm 2015. Tại đầu trường quốc nội, đáng nói nhất là trận thắng 4-0 trước đại kình địch Real Madrid ngay tại sân Bernanbeu vào ngày 21/11, đó là trận thắng đậm nhất trên sân của Real kể từ năm 2009 đến nay, qua đó bỏ xa đại kình địch 6 điểm trên bảng xếp hạng. Tại giải Cup thế giới các CLB, Barca lần lượt vượt qua Quảng Châu Evergrande và River Plate với cùng tỉ số 3-0, qua đó kết thúc năm 2015 cùng cú ăn 5 vĩ đại.

Năm 2016 Barca đã xuất sắc dành 3 danh hiệu La liga 2015 - 2016, cúp nhà vua 2015 - 2016, siêu cúp Tây Ban Nha.

Biểu tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu trưng của câu lạc bộ luôn có màu cờ của thành phố Barcelona, vốn là sự kết hợp giữa lá cờ của xứ Catalonia và chữ thập của thánh Georges.[8]. Biểu trưng đầu tiên của đội chỉ đơn giản là một hình thoi, ở trên có vương miện xứ Aragon và một con dơi, một bên có một cành nguyệt quế và bên kia có một cành cọ.[9]

Năm 1910, câu lạc bộ tổ chức một cuộc thi sáng tác biểu trưng cho mình. Người đoạt giải là Carles Comamala, khi đó cũng là cầu thủ của đội. Tác phẩm của Comamala vẫn là biểu trưng của câu lạc bộ ngày nay với một số sửa đổi nhỏ so với nguyên mẫu. Biểu trưng giống một cái nồi khổng lồ, phần phía trên bên trái có chữ thập của thánh Georges, phía trên bên phải là cờ xứ Catalonia, phía dưới là màu áo của đội.[9] Trong thập niên 1940, dưới chế độ độc tài Franco, các chữ viết tắt " F. C. B. " (tên câu lạc bộ viết tắt bằng tiếng Catalan) được thay bằng các chữ viết tắt " C. F. B. " (tên câu lạc bộ viết tắt bằng tiếng Tây Ban Nha), bốn gạch đỏ của cờ xứ Catalan cũng được rút xuống thành hai gạch đỏ giống với cờ Tây Ban Nha.[9]

Năm 1949, vào dịp kỉ niểm 50 năm ngày thành lập câu lạc bộ, phiên bản với cờ Catalan ở góc phải được sử dụng lại.[9] Đến năm 1974, khi chế độ Franco đã bắt đầu suy yếu, đội lại sử dụng lại biểu trưng với các chữ viết tắt " F. C. B. ".[9] Lần gần đây nhất logo được hiện đại hóa là vào năm 2002 khi nhà thiết kế Claret Serrahima xóa bớt các dấu chấm giữa các chữ viết tắt.[9]

Màu áo[sửa | sửa mã nguồn]

FCB.svg
Nhà tài trợ của F.C. Barcelona

Tài trợ chính thức

Tài trợ trang phục

Barcelona lần đầu tiên thi đấu với màu áo truyến thống xanh và đỏ hồng lựu trong trận gặp Hispania vào năm 1900[8]. Có rất nhiều lời giải thích khác nhau về sự lựa chọn hai màu này làm màu áo truyền thống của Barcelona: theo con trai của vị chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ, Arthur Witty, ông giải thích rằng cha ông đã lấy ý tưởng từ màu áo của trường Merchant Taylors' School mà ông đã từng theo học. Nhưng giải thích được nhiều người chấp nhận nhất là Joan Camper đã chọn lại màu áo giống như của câu lạc bộ cũ của mình, đội FC Basel[8].

Trang phục thi đấu chính thức của blaugrana trong nhiều năm được sản xuất bởi công ty địa phương Meyba. Năm 1992 hãng Kappa (Italia) thay thế Meyba. Còn từ năm 1998, Barça mặc trang phục được sản xuất bởi Nike. Trong một thời gian dài, áo đấu của đội có một điểm đặc biệt là không in tên bất kì nhà tài trợ nào[10], điều này chấm dứt vào năm 2006, khi chủ tịch Laporta tuyên bố kí một hợp đồng 5 năm với tổ chức UNICEF[10]. Bốn năm sau, chủ tịch Sandro Rosell kí hợp đồng tài trợ thương mại quảng cáo trên áo đấu đầu tiên của Barça với quỹ Qatar Foundation, tên của tổ chức này sẽ xuất hiện trên áo đấu của đội từ mùa giải 2011-2012[11]. Từ mùa giải 2013-2014, trên áo đấu của đội sẽ xuất hiện tên của nhà tài trợ mới là Qatar Airways

Bài hát truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Cổ động viên Barca hát bài hát truyền thống trên khán đài

Trong suốt lịch sử của mình, câu lạc bộ đã có nhiều bài hát chính thức khác nhau[12]. Bài hát truyền thống được sử dụng hiện nay là bài El Cant del Barça (Bài ca của Barça), được sáng tác vào năm 1974 nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày thành lập câu lạc bộ. Hai tác giả Josep Maria Espinás và Jaume Picas sáng tác phần lời bằng tiếng Catalan, trong khi phần nhạc được soạn bởi Manuel Valls.

Bản sắc xã hội-chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Khẩu hiệu của câu lạc bộ được viết trên khán đài sân Nou Camp: mès que un club (tiếng Việt: "Còn hơn cả một câu lạc bộ")

Về mặt chính thức, câu lạc bộ tập hợp cổ đổng viên của mọi thành phần xã hội, không phân biệt gốc gác, lập trường chính trị hay tôn giáo. Tuy nhiên, các sử gia cũng như những nhà xã hội học đều đồng ý rằng đa phần những người ủng hộ câu lạc bộ FC Barcelona không thuần túy vì những thành tích trong thể thao của nói, mà còn vì những lý do chính trị - xã hội khác[4][13].

Câu lạc bộ gắn liến với văn hóa vùng Catalunya và rộng lớn hơn là với tất cả những giá trị riêng của vùng Catalunya[14], nó đối lập với sự quản lý trung ương từ Madrid[13]. Bản sắc của xứ Catalunya là một trong những nét văn hóa địa phương nổi tiếng nhất trên thế giới, FC Barcelona được coi như một biểu tưởng mạnh, một biểu tượng anh hùng trong việc bảo vệ văn hóa và ngôn ngữ Catala, vốn được sử dụng trong tất cả các tài liệu chính thức của câu lạc bộ. Như một biểu tượng, lá cờ của xứ Catalunya xuất hiện trên biểu trưng, trên áo đấu và trên băng đội trưởng của câu lạc bộ... Ngoài ra, Barça cũng nhiều lần lên tiếng chính thức ủng hộ quyền tự trị của vùng Catalunya vào các năm 1932, 1979 và 2006. Vì những lý do trên, vào ngày 21 tháng 12 năm 1992, Hội đồng vùng Catalunya đã trao tặng câu lạc bộ Huân chương Creu de Sant Jordi (tiếng Việt: "Chữ thập của Thánh Georges"), phần thưởng qua quý nhất của vùng[15].

Một số sử gia, như Manuel Vázquez Montalbán, đưa ra quan điểm rằng FC Barcelona đối với nhiều người Catalan thì nó như đại diện cho đội tuyển Catalunya trên đấu trường quốc tế[16]. Trên tinh thần này, câu lạc bộ đã ủng hộ việc thành lập nhiều đội tuyển Catalunya trong nhiều môn thể thao khác nhau, trong đó có đội tuyển bóng đá Catalunya được khởi động lại từ những năm cuối của thâm 1990. Đội tuyển này, dưới sự dẫn dắt của Johan Cruijff từ tháng 11 năm 2009, có sự tham gia của nhiều cầu thủ của đội như Víctor Valdés, Carles Puyol, Gerard Piqué, Xavi Hernández, Sergio Busquets, Cesc Fàbregas hay Bojan Krkić. Chủ tịch Laporta, một người luôn đấu tranh cho chủ nghĩa độc lập của xứ Catalunya, đã phát biển trong nhiệm kì của mình:

Thêm nữa, Barça luôn là nơi tập những người ủng hộ nền Cộng hòa Tây Ban Nha, nhất là trong nửa đầu của thế kỷ XX[18]. Cũng vì điều này mà câu lạc bộ chưa bao giờ xin sự bảo trợ của Hoàng gia Tây Ban Nha, khác với nhiều câu lạc bộ Tây Ban Nha (và đặc biệt là hai đối thủ truyền kiếp của FC Barcelona là Real Madrid CFReial Club Deportiu Espanyol de Barcelona). Sự đỉnh điểm chống lại chính quyền trung ương Tây Ban Nha là trong một trận đấu vào năm 1925, các cổ động viên của đội đã huýt sáo khi cử hành bài Marcha Real, bài quốc ca Tây Ban Nha, vì điều này mà chính quyền đã treo sân của câu lạc bộ trong vòng sáu tháng. Bản sắc chính trị này dần biến mất với sự thiết lập lại nền dân chủ, chế độ Franco sụp đổ vào 1977, và câu lạc bộ cũng dần bình thường hóa mối quan hệ của mình với Hoàng gia Tây Ban Nha. Những biểu tượng của sự bình thường hóa mối quan hệ này có thể kể đến đám cưới diễn ra năm 1997 giữa cầu thủ bộ môn bóng ném của câu lạc bộ là Iñaki Urdangarin với công chúa Cristina de Borbón, con gái vua Juan Carlos, hay khi đức vua đã tới Paris để cổ vũ cho Barça trong trận chung kết Champions League 2005-06, bên cạnh thủ tưởng Tây Ban Nha José Luis Zapatero, vốn là một cổ động viên nhiệt thành của đội. Tuy nhiên, vẫn còn rào cản giữa cổ động viên với chính quyền trung ương, như trong trận chung kết Cúp nhà vua Tây Ban Nha năm 2009 giữa BarçaAthletic Bilbao, các cổ động viên đã huýt sáo khi nhà vua bước vào sân vận động và quốc ca được cử[19].

Lối chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Lối chơi của FC Barcelona mang ảnh hưởng của yêu cầu của các socis luôn đòi hỏi đội phải thắng với lối chơi hấp dẫn[13][20]. Yêu cầu này thường được cho là bắt đầu từ khi László Kubala gia nhập câu lạc bộ, người trong một thập niên (1951-1961) dẫn dắt lối chơi blaugrana[14][21]. Ngay cả khi Helenio Herrera dẫn dắt đội, người nổi tiếng trong thập niên 1960 với chiến thuật catenaccio, phòng ngự bê-tông, khi cầm Barça từ năm 1958 cho đến năm 1960 cũng đã áp dụng chiến thuật 4-2-4 thiên về tấn công và lối đá đẹp, xoay quanh bộ ba có tốc độ và kỹ thuật điêu luyện là: Kubala, Sándor KocsisLuis Suárez[22], cầu thủ Tây Ban Nha đầu tiên đoạt Quả bóng vàng châu Âu năm 1960.

Năm 1971, sau một thập kỷ không thành công, chủ tịch Agustí Montal Costa đã mời huấn luyện viên người Hà Lan Rinus Michels, người vừa dẫn dắt Ajax Amsterdam tới chức vô địch Cúp C1 châu Âu. Michels mang đến Barcelona triết lý " bóng đá tổng lực ", dựa trên những đặc điểm chiến thuật và kỹ thuật cơ bản sau: kiểm soát và giữ bóng, liên tục di chuyển và lối chơi một chạm[23]. Nó giống với một tư duy, một cách chơi bóng hơn là một chiến thuật, bóng đá tổng lực có một đòi hỏi: tất cả các cầu thủ cùng thủ và cùng công. Michels đòi hỏi các cầu thủ của mình di chuyển sao cho phù hợp với các khoảng trống mà đối phương lộ ra, dựa vào tư duy chiến thuật di chuyển, sự hiểu nhau qua rèn luyện cùng với sức bền thể lực. Đội thường đá với sơ đồ 4-3-3, tất cả các cầu thủ đều phải có khả năng cùng tất công hay lùi về phòng ngự mọi lúc. Những cầu thủ chạy cánh, được hỗ trợ bởi những hậu vệ cánh lên tham gia tấn công, dùng hai biên để tận dụng tối đa chiều ngang của sân bóng, làm lộ khoảng trống trong hàng phòng ngự của đối phương[24].

Sau khi chiêu mộ được Quả bóng vàng châu Âu người Hà Lan Johan Cruijff vào năm 1973, Barça đã tìm được một cầu thủ đủ tầm để dẫn dắt lối chơi này. Dù với thành tích khá khiêm tốn để lại khi họ ra đi năm 1978, đội dẫn dắt bởi bộ đôi Michels và Cruijff vẫn là một huyền thoại trong mắt cổ động viên Barcelona vì nó khiến họ tự hào, điều này diễn ra đồng thời với sự hồi sinh của chủ nghĩa độc lập xứ Catalunya và sự sụp đổ của chế độ Franco[21].

Sau một thời gian đội thi đấu không thành công, chủ tịch Núñez đã mời huấn luyện viên người Đức Udo Lattek, một trong những huấn luyện viên giàu thành tích nhất thời điểm đó. Chiến thuật gia nổi tiếng với triết lý khai thác tối đa các sai lầm và lỗ hổng của đối phương, ông xây dựng một lối chơi trực diện và quyết liệt cho Barcelona, và đòi hỏi một nền tảng thể lực xung mãn[25], triết lý nào không hợp với ngôi sao của blaugrana lúc đó là Maradona. Mặc dù đoạt được 3 chiếc cúp, trong đó có Cúp C2 châu Âu ngay trong mùa giải đầu tiên nắm đội, nhưng Lattek cũng vẫn bị thay thế bởi huấn luyện viên người Argentina César Luis Menotti, nhà cầm quân vô địch World Cup 1978. Menotti xây dựng một lối chơi phối hợp nhỏ và kỹ thuật, tiến tới kiểm soát bóng tốt, và đòi hỏi toàn đội phải đá rát để thu hồi bóng nhanh. Lối chơi không ngại va chạm này lên đến đỉnh điểm trong trận đánh nhau trên sân giữa cầu thủ đội Barcelona, do Maradona dẫn đầu, với cầu thủ đội Athletic Bilbao trong trận chung kết Cúp nhà vua năm 1984.

Năm 1984, đến lượt huấn luyện viên người Anh Terry Venables tới thử vận. Ông mang đến một thứ bóng đá toàn khối kín kẽ theo sơ đồ 4-4-2[26], một đội hình rất chắc chắn và hiệu quả[21]. Điều này giúp Barça vô địch quốc gia lại lần đầu từ năm 1974, cũng như lọt vào chung kết Cúp C1 châu Âu vào mùa giải sau đó. Nhưng sau thất bại của FC Barcelona trong trận đấu đó trước Steaua Bucarest (đội không ghi được bàn nào, hòa 0-0, rồi thua 0-2 sau loạt sút luân lưu), tiếp liền với việc để Real Madrid vô địch quốc gia ở mùa giải ngay sao đó, dù được tăng viện LinekerHughes, Venables bị sa thải vào năm 1987[21].

Vài tháng sau đó, Johan Cruijff quay trở lại câu lạc bộ, lần này là với tư cách huấn luyện viên. Ông muốn áp dụng đúng công thức của thầy mình là Michels[27]: bóng phải được chuyền ban nhanh, các cầu thủ liên tục di chuyển[26], các cầu thủ phải bọc lót cho nhau và tận dụng hai cánh để bao tối đa diện tích của sân[21]. Ông thay đổi nhiều nhân sự đội, kết hợp những cầu thủ trưởng thành từ lò đào tạo của câu lạc bộ với một số ngôi sao ngoại quốc hợp với lối chơi này. Các cầu thủ được di chuyển khá tự do, họ phải tận dụng để tối ưu hóa lối chơi của tập thể[26]. Chiến thuật 4-3-3 như thời Michels, có thể biến chuyển thành 3-4-3 khi cầu thủ libero Ronald Koeman dâng cao lên tiếp viện cho tuyến tiền vệ. Josep Guardiola phân phối bóng cho tuyết trên bao gồm LaudrupStoitchkov ở hai cánh và trong phong Salinas, người sau đó được thay thế bởi Romário. Đội có nhiều năm thống trị bóng đá Tây Ban Nha, kèm với một chức vô địch cúp C1 châu Âu năm 1992, á quân Champions League năm 1994 (thua AC Milan). Cruijff rời đội vào năm 1996[21].

Sau một thời gian ngắn tương đối thành công dưới triều đại của Bobby Robson, huấn luyện viên người Hà Lan Louis van Gaal, đang trên đỉnh cao của sự nghiệp sau chức vô địch Champions League năm 1995 với Ajax Amsterdam được mời về đội. van Gaal áp dụng chiến thuật sở trường của mình, đội hình thi đấu với sơ đồ 3-4-3, đá pressing cao và triển khai nhiều tấn công từ hai cánh[21], khá giống với sơ đồ dưới thời Dream team của Cruijff. Hàng công có nhiều tài năm như Figo, RivaldoLuis Enrique, cùng với các ngôi sao người Hà Lan như Kluivert, đội dành hai chức vô địch Liga liên tiếp vào các năm 1998 và 1999, nhưng không có thành tích nào khả quan trên đấu trường châu Âu, vì một hàng thủ khá mỏng. van Gaal bị sa thải năm 2000.

Năm 2003, chủ tịch Laporta giao đội cho Frank Rijkaard. Ông mang ảnh hưởng của Cruijff, người từng dẫn dắt ông khi còn là cầu thủ ở Ajax, và chiến lược gia người Ý Arrigo Sacchi. Lối chơi dưới thời Rijkaard dựa vào việc pressing rất cao, các tuyến xích lại gần nhau, đòi hỏi thu hồi bóng nhanh nhất có thể[21]. Lối chơi của Barcelona khá giống với lối chơi toque của các đội bóng Nam Mỹ, đá nhanh và ngắn[21]. Đội đá với sơ đồ 4-3-3 đặc trưng của mình giống với thờiMichels, xoay quanh một tuyến giữa ba người có kỹ thuật cá nhân tốt, bền sức và có tư duy chiến thuật cao (Deco, Xavi, Edmilson...). Bộ ba này cầm nhịp cho toàn đội, sau đó mở bóng cho cầu thủ phía cánh là MessiRonaldinho, được yểm trợ bởi hai hậu vệ cánh, hoặc trực tiếp cho trung phong Eto'o[20]. MessiRonaldinho được quyền di chuyển tự do, toàn đội có chức năng bọc lót cho họ[20]. Đội đạt được kết quả rất tốt từ năm 2004 cho đến năm 2006, với đỉnh điểm là chức vô địch cúp C1 năm đó, sau đó thành tích tạm thời đi xuống với giảm sút phong độ của một số trụ cột.

Người thay thế Frank Rijkaard là huấn luyện viên đội trẻ FC Barcelona B khi đó, Pep Guardiola.[28] Guardiola, người trưởng thành từ lò đào tạo trẻ của Barça xây dựng lới chơi tiki-taka cho đội, lối đá đặc trưng mà mỗi cầu thủ trẻ ở La Masia được rèn giũa. Guardiola cũng bán đi Ronaldinho và Deco, và xây dựng Barcelona xung quanh bộ ba Xavi, Iniesta và Messi.

Đội bóng dưới triều đại Guardiola được coi như đạt đến đỉnh cao của bóng đá thế giới, như nhận xét của Carlos Alberto Parreira, huấn luyện viên đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil vô địch World Cup 1994. Vào thời điểm tháng 12 năm 2010, Parreira coi FC Barcelona là đội bóng hay nhất thế giới vì nó phát minh ra một lối chơi và tiếp cận bóng đá mới. Với Parreira, những thành công của Barça dựa vào 6 điểm chính: tính thủ lĩnh của đội trưởng Carles Puyol trên sân, tố chất thủ lĩnh của Pep Guardiola ở ngoài sân, tài năng của hai cầu thủ dẫn dắt lối chơi là Xavi và Iniesta, sự hiệu quả trước khung thành của MessiVilla, cũng như những đóng góp của Pedro Rodríguez khiến đội có thể áp đặt lối chơi của mình trước mọi đối thủ[29].

Bố trí đội hình của chiến thuật "4-2-4".
Bố trí đội hình của chiến thuật "4-3-3".
Bố trí đội hình của chiến thuật "4-4-2".
Bố trí đội hình của chiến thuật "3-4-3".

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Sân Camp Nou và các sân vận động từng sử dụng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động Camp Nou

Câu lạc bộ hiện đang là chủ sở hữu của sân Camp Nou, có sức chứa 99.354 chỗ ngồi.[30] Đây là một trong những sân nổi tiếng nhất thế giới, nằm ở khu Les Corts, phía Tây thành phố Barcelona[31].

Sân nhà đầu tiên của Barcelona là sân Camp de la Indústria. Với sức chứa 6.000 chỗ ngồi, chỉ trong một thời gian ngắn, sân này đã không đáp ứng được lượng thành viên ngày càng đông của câu lạc bộ.[32]

Vào năm 1922, khi lượng cổ động viên đã vượt ngưỡng 20.000, Barça đã vay tiền để xây sân Camp de Les Corts, với sức chứa ban đầu là 20.000 chỗ ngồi. Sau Nội chiến Tây Ban Nha, câu lạc bộ bắt đầu thu hút được nhiều thành viên tham gia và nhiều cổ động viên hơn. Chính vì vậy mà sân nhiều lần được nâng cấp: khán đài chính được hoàn thành năm 1944, khán đài nam hoàn thành năm 1946, và cuối cùng là khán đài bắc năm 1950. Sau lần nâng cấp cuối cùng, sân Les Corts có sức chứa tối đa 60.000 chỗ.[33]

Người ta thường gắn quyết định xây sân Camp Nou với sự kiện siêu sao người Hungary László Kubala chuyển về thi đấu cho đội. Lượng khán giả mới tới sân xem anh thi đấu tăng vọt và sân Les Corts trở nên quá bé.[31][33][34][35]

Cuối năm 1950, câu lạc bộ mua mảnh đất gần sân Camp de Les Corts, nhưng do vướng mắc nhiều vấn đề mà trong suốt gần ba năm công trình không thể khởi công[31]. Mãi đến ngày 28 tháng 3 năm 1954, lễ động thổ xây dựng sân Camp Nou mới được tiến hành, dưới sự chứng kiến của hơn 60.000 cổ động viên, cùng chủ tịch Barça khi đó là ông Francesc Miró-Sans, nhóm kiến trúc sư catalan thiết kế: Fransec Mitjans, Josep Soteras et Lorenzo Garcia Borbon[31]; cùng với chủ tịch vùng Felipe Acedo Colunga và được đức Tổng giám mục của Barcelona Gregorio Modrego ban lễ thánh. Công trình được hoàn thành vào ngày 24 tháng 9 năm 1957 với tổng mức đầu tư 288 triệu peseta.[33]

Sân được nâng cấp nhân dịp Tây Ban Nha đăng cai World Cup 1982, sân Camp Nou khi đó đạt sức chứa tối đa hơn 120.000 chỗ ngồi. Nó được giảm xuống dưới 100.000 chỗ vào mùa bóng 1998-1999 để phù hợp với các tiêu chuẩn mới của UEFA cho phép sân được xếp hạng " élite " " 5 sao ". Một lượng lớn vé được bán cho các thành viên mua vé năm, vào mùa bóng 2008-2009, tổng số người mua vé năm là 86.200 người[36]. Những người có vé năm có thể bán lại chỗ của mình những trận mà họ không muốn đi xem qua hệ thống Seient Lliure, điều này cho phép tăng lượng vé bán lẻ (8.000 chỗ) cho mỗi trận[36].

Các cơ sở vật chất khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm La Masia

Câu lạc bộ cũng sở hữu nhiều cơ sở vật chất khác, bao gồm:[37]

  • Ciutat Esportiva Joan Gamper (Khu huấn luyện của FC Barcelona)
  • Masia-Centre de Formació Oriol Tort (Cư xá của các cầu thủ đội trẻ)
  • Mini Estadi (Sân nhà của đội hai)
  • Palau Blaugrana (Khu liên hợp thể thao trong nhà của FC Barcelona)
  • Palau Blaugrana 2 (Khu liên hợp thể thao trong nhà thứ hai của FC Barcelona)
  • Pista de Gel (đường trượt băng của FC Barcelona)

Cạnh tranh[sửa | sửa mã nguồn]

El Clásico[sửa | sửa mã nguồn]

Một trận El Clásico năm 2009

Từ đầu những năm 1900 cho đến trước năm 1916, mối quan hệ giữa Real Madrid và Barca luôn tốt đẹp, các trận đấu giữa họ luôn đầy tình hữu hảo. Khi đó, đại kình địch của Real Madrid là Athletic Club (nay là Atletico Madrid), còn kẻ thù của Barca là đối thủ cùng thành phố Espanyol. Vậy tại sao Real Madrid và Barca lại trở thành kẻ thù không đội trời chung?

Ở trận bán kết Cúp Nhà Vua 1916, khi đó chưa có luật bàn thắng sân khách. Vì vậy, sau 2 trận lượt đi và về, nếu mỗi đội thắng một lần, họ sẽ phải dẫn nhau đến một trận tie-breaker. Hồi đó cũng chưa xuất hiện loạt đá luân lưu. Thế nên, khi 2 đội hòa nhau ở trận tie-breaker, họ phải tiếp tục thi đấu một trận khác (gọi là play-off).

Năm đó, Barca và Real Madrid đụng nhau ở bán kết. Trong trận đấu đầu tiên, đội bóng xứ Catalan thắng 2-1. Đến trận lượt về, họ để thua Real Madrid 1-4. Trận tie-breaker đã được chọn diễn ra trên sân của Real Madrid. Thật không may, hôm đó 2 đội lại hòa nhau 4-4 trong thời gian thi đấu chính thức.

Đến khi đá play-off, Barca lúc đó dẫn 6-5. Nhưng ở những phút cuối, Real Madrid bất ngờ được trọng tài cho hưởng một quả penalty gây tranh cãi. Đó là quả phạt đền thứ 3 dành cho Real Madrid chỉ trong trận này (1 quả bị sút hỏng). Quyết định của ông Berraondo đã khiến cầu thủ, BHL và cả CĐV của Barca vô cùng bất bình. Họ phản đối và gọi trọng tài Berraondo là quân kẻ cướp. Họ bày tỏ sự phẫn nộ bằng màn phá phách.

Thù hận giữa Real Madrid và Barca được manh mún từ đó, với trọng tài Berraondo (người từng thi đấu cho cả hai đội khi còn là cầu thủ) được xem là kẻ châm ngòi. Hai ngày sau đó, một trận tie-breaker tiếp theo lại diễn ra giữa Real Madrid và Barca. Lần này, bầu không khí thân thiện của những trận đấu trước không còn nữa.

Trong trận chiến thứ 4 và là cuối cùng tại Cúp Nhà Vua giữa hai đội năm 1916, Barca nhanh chóng dẫn 2 bàn. Nhưng sau đó, họ bị đối phương gỡ hòa 2-2 trong 90 phút thi đấu chính thức, với 1 bàn gỡ được thực hiện từ chấm phạt đền. Khi hai đội tiếp tục phải đá play-off, Real Madrid có liền 2 bàn thắng. Nhưng các cầu thủ Barca đều cho rằng, đó là những bàn thắng không hợp lệ, đặc biệt là pha ghi bàn ở thế việt vị trong tình huống thứ 2. Vì thế, họ bỏ trận khi thời gian thi đấu vẫn còn 7 phút. Real Madrid nghiễm nhiên thắng 4-2 và giành quyền vào chung kết gặp Athletic Bilbao.

Điều trùng hợp định mệnh là trận chung kết năm đó lại được tổ chức ở chính Barcelona. Vì thế, sau khi Real Madrid thất thủ 0-4 ra về, dù được lực lượng an ninh bảo vệ, đội bóng thủ đô Madrid vẫn bị các CĐV của Barca tấn công. Họ hùa nhau ném đá vào xe bus chở Real Madrid. Họ nguyền rủa đội bóng Hoàng gia là kẻ bẩn thỉu và đáng phải chịu thất bại nhục nhã trước Bilbao. Kể từ hôm đó, mối hận giữa Real Madrid và Barca càng được khơi sâu.

Mối hận thù giữa 2 đội càng lúc càng nghiêm trọng và nó đã trở thành chồng chất khi cảnh sát của chế độ độc tài Francisco Franco bắt tống giam chủ tịch Josep Sunyol của Barca năm 1936 do những nhạy cảm trong vấn đề chính trị. Kể từ đó, Barca luôn bị xem là cái gai trong mắt của chế độ Franco và thường xuyên bị xử ép. Đặc biệt, sau khi Real Madrid cướp tay trên của đội bóng xứ Catalan tiền đạo lừng danh Alfredo Di Stefano, 2 đội chính thức tuyên bố mối quan hệ thù địch, với Barca là phe của người Catalan, còn Real Madrid thuộc về phe của Franco.

Khái niệm El Clásico cũng bắt đầu xuất hiện ở thời kỳ này.

Derby Barceloní[sửa | sửa mã nguồn]

Đối thủ địa phương của Barca là Espanyol, một câu lạc bộ xứ Catalan được thành lập dưới sự bảo trợ của hoàng gia, khác hẳn với Barcelona. Thông điệp của Espanyol thể hiện một sự chống đối với Barca.

Theo truyền thống, phần lớn các cổ động viên của Espanyol thường là những người làm ở cơ quan trung ương, chính trị, trái ngược với tinh thần cách mạng của Barça trong những năm 1960 và 1970. Khi ấy Barcelona đã hành động như một cách đẹp đẽ đối với người mới đến Catala từ những nơi nghèo hơn ở Tây Ban Nha để tìm một cuộc sống tốt hơn, còn Espanyol đã thu hút sự ủng hộ của họ chủ yếu là từ các thành phần gần gắn chế độ như quân đội, công chức và phát xít.

Trong phần lớn những cuộc đối đầu tại La Liga, Barca thường áp đảo, chiến thắng đậm nhất với tỷ số 5-0 trước câu lạc bộ kình địch ở thành phố Barcelona đã được Barca thiết lập vào các năm 1933, 1947, 1964, 1975, 1992 và 2016. Lần gần nhất Espanyol có thể đánh bại được Barca là vào mùa giải 2008-09, khi ấy câu lạc bộ xứ Catalan đã đoạt cú ăn ba dưới thời Pep Guardiola.

Ở châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Một trận đấu giữa Barca và Milan tại Cúp châu Âu năm 2006

Đối thủ của Barcelona ở đấu trường quốc tế là câu lạc bộ của Ý, AC Milan, hai đội đã gặp nhau tổng cộng 19 lần, là cặp đấu kinh điển xếp thứ hai tại đấu trường châu Âu chỉ sau Bayern Munich - Real Madrid (22 lần). Barca và Milan đều là hai trong số những câu lạc bộ thành công nhất, Milan đã giành được bảy cúp châu Âu trong khi Barca là năm, cả hai câu lạc bộ đang nắm giữ kỷ lục: năm lần đoạt siêu cúp châu Âu.

Thành tích đối đầu Barca nhỉnh hơn với tám trận thắng và năm thất bại. Cuộc đối đầu đầu tiên giữa hai câu lạc bộ là trong mùa giải 1959-1960 tại Cup châu Âu. Họ đối mặt ở vòng 1/16 và Barça giành chiến thắng với tổng tỉ số là 7-1 (2-0 tại Milan và 5-1 tại Barcelona). Trong khi AC Milan chưa bao giờ loại được Barcelona tại các Cúp châu Âu, lần duy nhất họ đánh bại Barca tại một trận đấu không nằm trong khuôn khổ vòng bảng là trận chung kết năm 1994, khi ấy Dream Team của huyền thoại Johan Cruyff đã thất thủ 0-4. Năm 2013, Barcelona đã có một trận lội ngược dòng lịch sử. Khi ấy Barca đã thua ở lượt đi 0-2 nhưng vẫn giành quyền vào vòng đấu tiếp theo khi đả bại Milan lượt về đến 4-0.

Cổ động viên[sửa | sửa mã nguồn]

Cổ động viên tại Camp Nou

Biệt danh culé của các cổ động viên Barcelona có nguồn gốc từ Catalan cul, có nghĩa là những cái mông, xuất phát từ thời câu lạc bộ còn sử dụng sân Les Corts làm sân nhà, sân vận động được thiết kế đặc biệt đến nổi người ở ngoài có thể thấy được mông của khán giả trên khán đài. Tại Tây Ban Nha, hơn 25% dân số nơi đây là người hâm mộ Barca, CLB có một sự gia tăng đáng kể từ 100.000 ở mùa giải 2003-04 đến 170.000 vào tháng 9 năm 2009, sự gia tăng mạnh này bắt nguồn từ ảnh hưởng của Ronaldinho và chủ tịch Joan Laporta bởi chiến lược quảng bá truyền thông.

Ngoài các cổ động viên, Barca còn có 1.267 câu lạc bộ fan hâm mộ đăng ký chính thức trên toàn thế giới. Trong số các đội bóng được cổ vũ tốt nhất trên thế giới, Barcelona có phương tiện truyền thông cao nhất với hơn 90 triệu người hâm mộ Facebook theo dõi vào tháng Hai năm 2016. Câu lạc bộ còn có nhiều người nổi bật trong số các cổ đông viên, như Đức Giáo hoàng John Paul II, từng là thành viên danh dự, và cựu thủ tướng Tây Ban Nha José Luis Rodríguez Zapatero.

Barça qua những con số[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thắng 16 trận liên tiếp ở giải vô địch bóng đá Tây Ban Nha mùa giải 2010/2011.
  • Cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất mọi thời đại của CLB: Paulino Alcántara (Sinh: 7/10/1896. Mất: 13/2/1964), người Philippines. Ông đã ghi được 356 bàn trong 357 trận (1912-1927).

Chú thích: Thành tích của Alcántara là tính luôn các trận giao hữu và những trận không được xem là trận đấu quốc tế. Theo thống kê từ trang chủ của Barcelona thì Lionel Messi (hiện vẫn đang thi đấu) mới là Vua phá lưới mọi thời đại của CLB Barcelona.

  • Cầu thủ thi đấu nhiều nhất cho Barça: Xavi, 767 trận (1998-2015).
  • "Pichichi" ghi nhiều bàn thắng nhất: Lionel Messi 50 bàn mùa bóng 2011-2012.
  • Cầu thủ được mua đắt nhất: Luis Suarez đến từ Liverpool với giá 80 triệu Euro.
  • Cầu thủ được bán đắt nhất: Luis Figo đến Real Madrid với giá lên đến 58,5 triệu Euro.
  • Cầu thủ trẻ nhất vượt qua cột mốc 300 trận cho Barça: Xavi (vào lúc 25 tuổi và 8 tháng).
  • Barça là CLB duy nhất chưa từng vắng mặt ở các cúp châu Âu kể từ khi giải này được khởi tranh (1955).
  • Cùng với Bayern München, Ajax AmsterdamJuventus là bốn CLB đã từng giành được cả ba chiếc cúp châu Âu (C1, C2, C3).
  • Cùng với Real MadridAthletic Bilbao là ba CLB của Liga chưa từng phải xuống hạng nhì.
  • Barça cũng là đội đang giữ kỷ lục có số trận thắng liên tiếp nhiều nhất ở Champions League: 11 trận tại mùa bóng 2002-2003.
  • Giáo hoàng quá cố John Paul II là thành viên mang thẻ số 108.000 của CLB.
  • Barça là CLB Tây Ban Nha sở hữu nhiều "Quả bóng vàng châu Âu" nhất: Suárez (1960), Cruyff (1973,1974), Stoichkov (1994), Ronaldo (1997), Rivaldo (1999), Figo (2000), Ronaldinho (2005), Messi (2009, 2010, 2011, 2012, 2015)
  • Barça là CLB sở hữu nhiều cầu thủ "Xuất sắc nhất thế giới của FIFA": Romário (1994), Ronaldo (1996, 1997), Rivaldo (1999), Ronaldinho (2004, 2005), Messi (2009, 2010, 2011, 2012, 2015).
  • Messi trở thành cầu thủ đầu tiên đoạt giải thưởng "Quả bóng vàng FIFA" - năm 2010 (từ năm 2010, giải thưởng "Quả bóng vàng châu Âu" và giải thưởng "Cầu thủ xuất sắc nhất FIFA" được gộp chung lại thành "Quả bóng vàng FIFA").
  • Barça cũng là CLB có nhiều cầu thủ từng đoạt danh hiệu "Chiếc giày vàng châu Âu" nhất: Krankl (1979), Stoichkov (1990), Pizzi (1996), Ronaldo (1997), Lionel Messi (2010,2012,2013).
  • Barça là CLB Tây Ban Nha đầu tiên đạt "cú ăn ba" trong mùa giải 2008-2009 với 3 chiếc cúp: La Liga, Copa del Rey, Champion League.
  • Barça là CLB đầu tiên trên thế giới đoạt được 6 chiếc cúp (mức tối đa ở Tây Ban Nha) trong năm 2009 bao gồm: La Liga, Copa del Rey, Champion League, Siêu cúp TBN, Siêu cúp châu Âu, Cúp thế giới CLB.
  • Barça là CLB vô địch với số điểm kỉ lục 100 điểm/38 vòng đấu (kỉ lục tại La Liga) trong mùa giải 2012/2013.
  • Barça đoạt kỷ lục buồn trong mùa 2012/2013 giải Champions League vòng bán kết khi thua FC Bayern München 7 bàn trắng (4 quả trận đi, và 3 bàn tại sân nhà).
  • Barça lập kỉ lục sau khi kết thúc mùa 2014/2015 khi là câu lạc bộ duy nhất trên thế giới 2 lần đạt cú ăn ba và cũng tại mùa giải đó, Barça đã đánh bại cả châu Âu khi xuất sắc vượt qua các nhà Đương kim vô địch ở các giải đấu khác như Manchester City, PSG, Bayern Munich, và Juventus.

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 31 tháng 8, 2016

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Đức TM Marc-André ter Stegen
3 Tây Ban Nha HV Gerard Piqué
4 Croatia TV Ivan Rakitić
5 Tây Ban Nha TV Sergio Busquets (Đội phó 3)
6 Tây Ban Nha TV Denis Súarez
7 Thổ Nhĩ Kỳ TV Arda Turan
8 Tây Ban Nha TV Andrés Iniesta (Đội trưởng)
9 Uruguay Luis Suárez
10 Argentina Lionel Messi (Đội phó 2)
11 Brasil Neymar
12 Brasil TV Rafinha
Số áo Vị trí Cầu thủ
13 Hà Lan TM Jasper Cillessen
14 Argentina TV Javier Mascherano (Đội phó 4)
17 Tây Ban Nha Paco Alcácer
18 Tây Ban Nha HV Jordi Alba
19 Pháp HV Lucas Digne
20 Tây Ban Nha TV Sergi Roberto
21 Bồ Đào Nha TV André Gomes
22 Tây Ban Nha HV Aleix Vidal
23 Pháp HV Samuel Umtiti
24 Pháp HV Jérémy Mathieu
25 Tây Ban Nha TM Jordi Masip

Danh sách cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật: 13 tháng 7, 2016

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
-- Tây Ban Nha TM Adrián Ortolá (tới Alavés đến hết 30 tháng 6, 2017)

Thành viên nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Quả bóng vàng FIFA[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng FIFA khi đang chơi cho F.C. Barcelona[38]:

Chú thích: Từ năm 2010, giải thưởng "Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA" đã sáp nhập với giải "Quả bóng vàng châu Âu" thành một giải duy nhất là giải "Quả bóng vàng FIFA". Messi là cầu thủ đầu tiên đạt giải thưởng này.

Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA khi đang chơi cho F.C. Barcelona[39]:

Quả bóng vàng châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng châu Âu khi đang chơi cho F.C. Barcelona[38]:

Chiếc giày vàng châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Chiếc giày vàng châu Âu khi đang chơi cho F.C. Barcelona[40]:

Cầu thủ xuất sắc nhất năm của La Liga[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Trofeo Alfredo di Stéfano khi đang chơi cho F.C. Barcelona:

Pichichi (Vua phá lưới La Liga)[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Pichichi khi đang chơi cho F.C. Barcelona[42]:

Cầu thủ vô địch thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có 9 cầu thủ từng vô địch thế giới trong thời gian khoác áo FC Barcelona, ngoài RomárioRivaldo (vô địch thế giới cùng Brasil), các cầu thủ còn lại đều vô địch thế giới khi khoác áo đội tuyển Tây Ban Nha:

Cầu thủ vô địch châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có 11 cầu thủ từng vô địch châu Âu trong thời gian khoác áo FC Barcelona, tất cả các cầu thủ đều vô địch châu Âu cùng đội tuyển Tây Ban Nha vào các năm 1964, 20082012:

XaviSergio Busquets mừng chức vô địch EURO 2012.

Kỷ lục về bàn thắng và số lần khoác áo[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho Barca:

Lionel Messi là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử Barca
# Quốc tịch Tên Giai đoạn Bàn thắng
1  Argentina Lionel Messi 2004– 500
2  Tây Ban Nha César Rodríguez Álvarez 1942–1955 232
3  Hungary László Kubala 1950–1961 194
4  Tây Ban Nha Josep Samitier 1919–1932 178
5  Tây Ban Nha Josep Escolà 1934–1949 163
6  Philippines Paulino Alcántara 1912–16,1918–27 142
7  Tây Ban Nha Ángel Arocha 1926–1933 134
8  Cameroon Samuel Eto'o 2004–2009 130
9 Flag of Brazil.svg Brasil Rivaldo 1997–2002 130
10  Tây Ban Nha Mariano Martín 1940–1948 123

Danh sách cầu thủ ra sân khoác áo nhiều nhất cho Barca:

Xavi, cầu thủ ra sân khoác áo nhiều nhất cho Barca
# Quốc tịch Tên Giai đoạn Số trận Tính cả giao hữu
1  Tây Ban Nha Hernández, XaviXavi Hernández 1998–2015 767 867
2  Tây Ban Nha Puyol, CarlesCarles Puyol 1999–2014 593 724
3  Tây Ban Nha Iniesta, AndrésAndrés Iniesta 2002– 549 586
4  Tây Ban Nha Migueli 1973–1989 549 664
5  Tây Ban Nha Valdés, VíctorVíctor Valdés 2002–2014 535 639
6  Argentina Messi, LionelLionel Messi 2004– 482 524
7  Tây Ban Nha Rexach, CarlesCarles Rexach 1965–1981 449 656
8  Tây Ban Nha Amor, GuillermoGuillermo Amor 1988–1998 421 550
9  Tây Ban Nha Zubizarreta, AndoniAndoni Zubizarreta 1986–1994 410 519
10  Tây Ban Nha Segarra, JoanJoan Segarra 1949–1964 402 528

Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách các huấn luyện viên[43] và chủ tịch câu lạc bộ [44] của FC Barcelona kể từ ngày thành lập:

FCB.svg
Huấn luyện viên của FC Barcelona
FCB.svg
Chủ tịch của FC Barcelona

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Cú ăn 6 năm 2009
Quốc gia

66 danh hiệu

1928–29; 1944–45; 1947–48; 1948–49; 1951–52; 1952–53; 1958–59; 1959–60; 1973–74; 1984–85;
1990–91; 1991–92; 1992–93; 1993–94; 1997–98; 1998–99; 2004–05; 2005–06; 2008–09; 2009–10;
2010–11; 2012–13; 2014–15; 2015–16
1909–10; 1911–12; 1912–13; 1919–20; 1921–22; 1924–25; 1925–26; 1927–28; 1941–42; 1950–51;
1951–52; 1952–53; 1956–57; 1958–59; 1962–63; 1967–68; 1970–71; 1977–78; 1980–81; 1982–83;
1987–88; 1989–90; 1996–97; 1997–98; 2008–09; 2011–12; 2014–15; 2015-16
1983, 1991, 1992, 1994, 1996, 2005, 2006, 2009, 2010, 2011, 2013, 2016
1982-1983; 1985-1986
Quốc tế 20 danh hiệu (kỉ lục)
1991-1992; 2005-2006; 2008-2009; 2010-2011; 2014-2015
1978-1979; 1981-1982; 1988-1989; 1996-1997
1958; 1960; 1966
2009, 2011, 2015
1992, 1997, 2009, 2011, 2015

Chuyển nhượng[sửa | sửa mã nguồn]

Top 6 vụ chuyển nhượng lớn nhất mà Barca từng thực hiện nếu tính hết mọi chi phí:

TT Quốc gia Tên Từ Phí chuyển nhượng Thời gian Nguồn
1  Uruguay Suárez, LuisLuis Suárez Anh Liverpool £75,000,000 2014 [53][54][55][56]
2 Flag of Sweden.svg Thụy Điển Ibrahimović, ZlatanZlatan Ibrahimović Ý Inter Milan £59,000,000 2009 [57][58]
3 Flag of Brazil.svg Brasil Neymar, Neymar Brasil Santos £57,100,000 2013 [59][60]
4  Tây Ban Nha Fàbregas, CescCesc Fàbregas Anh Arsenal £35,000,000 2011 [61][62]
5  Tây Ban Nha Villa, DavidDavid Villa Tây Ban Nha Valencia £34,200,000 2010 [63][64]
6  Chile Sánchez, AlexisAlexis Sánchez Ý Udinese £23,000,000 2011 [65][66]

Top 6 thương vụ bán cầu thủ đắt nhất của Barca:

TT Quốc gia Tên Đến Phí chuyển nhượng Thời gian Nguồn
1 Flag of Portugal.svg Bồ Đào Nha Figo, LuísLuís Figo Tây Ban Nha Real Madrid £37,000,000 2000 [67][68]
2  Chile Sánchez, AlexisAlexis Sánchez Anh Arsenal £35,000,000 2014 [69][70]
3  Tây Ban Nha Fàbregas, CescCesc Fàbregas Anh Chelsea £30,000,000 2014 [71][72]
4  Tây Ban Nha Pedro, Pedro Anh Chelsea £30,000,000 2015
5  Bờ Biển Ngà Touré, YayaYaya Touré Anh Manchester City £24,000,000 2010 [73][74]
6 Flag of Sweden.svg Thụy Điển Ibrahimović, ZlatanZlatan Ibrahimović Ý Milan £24,000,000 2011 [75][76]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Top 10 Most Successful Spanish Football Clubs of All Time, sportsmuntra, 31 mai 2011
  2. ^ “Ficha Técnica” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Centro de Investigaciones Sociológicas. Tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010. 
  3. ^ a ă Ball, Phill 2003, tr. 89
  4. ^ a ă Dobson, Stephen; John Goddard (2001). The economics of football. Cambridge. tr. 335-338. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2001. 
  5. ^ a ă Javier Prieto Santos (ngày 4 tháng 5 năm 2006). “Barca: statistiques, particularismes, et curiosités”. So Foot. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  6. ^ a ă â (tiếng Anh) “History: Origins (1899-1922)”. FC Barcelona. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2011. 
  7. ^ a ă “Camp Nou: histoire du stade du FC Barcelone”. fcbarcelonaclan.com. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2010. 
  8. ^ a ă â Ball, Phill 2003, tr. 90-91
  9. ^ a ă â b c d “The crest”. FC Barcelona. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2010. 
  10. ^ a ă LESAY Jean-Damien (ngày 29 tháng 6 năm 2006). “Le Barça et l'Unicef, la morale du maillot”. Libération. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  11. ^ “Barcelone: un sponsor maillot pour 165 millions d'euros”. L'Express (avec AFP). Ngày 10 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  12. ^ (tiếng Anh) “The anthems”. FC Barcelona. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011. 
  13. ^ a ă â François Musseau (ngày 25 tháng 5 năm 2009). “Etre un "socio" du Barça, c’est avoir un passeport catalan (entretien avec Enrique Murillo)”. Libération. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  14. ^ a ă Machenaud, Vincent. “Entretien avec Sandro Rosell: « Un Ballon d'or, ça vaut la Ligue des champions. »”. France football (3379 (supplément)): 26–27. 
  15. ^ (tiếng Catalan) Sắc lệnh 162/1992, ngày 20 tháng 12 năm 1992, của concessió de la Creu de Sant Jordi de la Generalitat de Catalunya al Futbol Club Barcelona
  16. ^ (tiếng Tây Ban Nha) “Cien años y un día, Manuel Vázquez Montalbán”. El País. Ngày 6 tháng 12 năm 1999. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011. 
  17. ^ (tiếng Tây Ban Nha) “Laporta du paradis”. So Foot. Ngày 14 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  18. ^ Jaume Sobrequés i Callico 1998
  19. ^ “Hymne sifflé et coupé: la télé publiquelicencie le chef des sports”. La Dernière Heure/Les Sports. Ngày 14 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2011. 
  20. ^ a ă â Coulaud, Vincent; Prieto, Sébastien (tháng 04 2006). “Rijkaard et la manière (entretien)”. So Foot (32): 42–43.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  21. ^ a ă â b c d đ e ê Ghemmour, Ghérif; Gonzalez, Alexandre; Pietro Santos, Javier (tháng 04 2006). “Barça: gustar y gagnar”. So Foot (32): 34–40.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  22. ^ “Entretien avec Luis Suarez”. So Foot. Ngày 25 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  23. ^ Machenaud, Vincent (tháng 01 2011). “La Masía: « Le seul critère c'est le talent ! »”. France football (3379 (supplément)): 24–25.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  24. ^ “Biographie de Rinus Michels”. FIFA. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2011. 
  25. ^ “Entretien avec Jose Ramon "Tatin" Alexanco”. So Foot. Ngày 21 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  26. ^ a ă â “Entretien avec Andoni Zubizarreta”. So Foot. Ngày 19 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  27. ^ “Johan Cruyff ou l'axe Amsterdam-Barcelone”. FIFA. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  28. ^ “Rijkaard until 30 June; Guardiola to take over”. FC Barcelona. Ngày 8 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2009. 
  29. ^ (tiếng Tây Ban Nha) “Parreira: "Hace 30 ó 40 años que el Barça creó un estilo". Marca. Ngày 8 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  30. ^ (tiếng Anh) “FC Barcelona Information”. fcbarcelona.cat. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2011. 
  31. ^ a ă â b (tiếng Anh) “Camp Nou: Brief history”. fcbarcelona.cat. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  32. ^ Santacana, Carles (ngày 14 tháng 3 năm 2009). “Cent anys del camp de la Indústria” (bằng tiếng Catalan). FC Barcelona. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010. 
  33. ^ a ă â “Brief history of Camp Nou”. FC Barcelona. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2010. 
  34. ^ Farred, Grant. tr. 124.
  35. ^ Eaude, Michael. tr. 104.
  36. ^ a ă (tiếng Tây Ban Nha) O. Domènech/S. Solé (ngày 25 tháng 11 năm 2008). “Más de 36.000 abonados ausentes en el Estadi”. El Mundo Deportivo. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  37. ^ (tiếng Tây Ban Nha) “El proyecto Barça Parc, adelante” (bằng tiếng Tây Ban Nha). FC Barcelona. 2009. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  38. ^ a ă (tiếng Anh) Moore, Rob; Stokkermans, Karel. “European Footballer of the Year ("Ballon d'Or")”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation (RSSSF). Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011. 
  39. ^ (tiếng Anh) “World Player of the Year - Winners”. RSSSF. Truy cập 14 janvier 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  40. ^ (tiếng Anh) “Golden Boot ("Soulier d'Or") Awards”. RSSSF. Truy cập 14 janvier 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  41. ^ Messi consigue su tercer Trofeo Di Stéfano Marca.com 01/06/11 (tiếng Tây Ban Nha)
  42. ^ (tiếng Anh) “Spain - List of Topscorers ("Pichichi")”. RSSSF. Truy cập 14 janvier 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  43. ^ “List of Managers”. FC Barcelona. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2010. 
  44. ^ “Presidents” (PDF) (bằng tiếng Catalan). FC Barcelona. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2010. 
  45. ^ “Managing Commission (1936-1939)”. FC Barcelona. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2009. 
  46. ^ “Evolution 1929–10”. Liga de Fútbol Profesional. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010. 
  47. ^ Carnicero, José; Torre, Raúl; Ferrer, Carles Lozano (ngày 28 tháng 8 năm 2009). “Spain – List of Super Cup Finals”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation (RSSSF). Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  48. ^ Torre, Raúl (ngày 29 tháng 1 năm 2009). “Spain – List of League Cup Finals”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation (RSSSF). Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  49. ^ “Champions League history”. Union of European Football Associations (UEFA). Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  50. ^ “UEFA Cup Winners' Cup”. UEFA. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  51. ^ “Tournaments”. FIFA. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  52. ^ “UEFA Super Cup”. UEFA. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  53. ^ “Liverpool confirm Luis Suárez's £75m move to Barcelona pending medical”. The Guardian. Ngày 11 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  54. ^ Orr, James (ngày 11 tháng 7 năm 2014). “Luis Suarez joins Barcelona: Liverpool and Barca confirm the striker has been sold in £75m, five-year transfer”. The Independent. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  55. ^ “Luis Suarez will sign for Barcelona next week after fee agreed with Liverpool”. Sky Sports. Ngày 11 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  56. ^ “Luis Suarez: Liverpool & Barcelona agree £75m deal for striker”. BBC. Ngày 11 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  57. ^ “Ibrahimovic seals Barcelona move”. BBC. Ngày 27 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  58. ^ “Zlatan Ibrahimovic signs five-year deal at Barcelona”. The Guardian. Ngày 27 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  59. ^ “Detailed figures of Neymar transfer”. fcbarcelona.com. Ngày 24 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2015. 
  60. ^ “Neymar excited by Messi alliance”. Ngày 3 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2015. 
  61. ^ Gibbs, Thom (ngày 15 tháng 8 năm 2011). “Cesc Fabregas completes move from Arsenal to Barcelona”. London: The Telegraph. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  62. ^ “Cesc Fabregas completes move from Arsenal to Barcelona”. BBC. Ngày 16 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  63. ^ “Barcelona complete £34.2m deal for Valencia striker David Villa”. The Guardian. Ngày 19 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  64. ^ “Spain striker David Villa completes Barcelona switch”. BBC. Ngày 21 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  65. ^ “Barcelona confirm £23m deal to buy Alexis Sánchez from Udinese”. The Guardian. Ngày 21 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  66. ^ “Barcelona agree £23m deal for Alexis Sanchez”. The Independent. Ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  67. ^ “Figo record transfer BBC”. BBC. Ngày 24 tháng 7 năm 2000. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015. 
  68. ^ “Figo record transfer The Guardian”. The Guardian. Ngày 24 tháng 7 năm 2000. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015. 
  69. ^ “Alexis Sanchez: Barcelona forward signs for Arsenal”. BBC. Ngày 10 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  70. ^ De Menezes, Jack; Sheen, Tom (ngày 10 tháng 7 năm 2014). “Alexis Sanchez joins Arsenal: Gunners complete £35m signing of Barcelona forward”. The Independent. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  71. ^ Taylor, Louise (ngày 12 tháng 6 năm 2014). “Chelsea sign Cesc Fábregas from Barcelona in major transfer coup”. The Guardian. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  72. ^ Law, Matt (ngày 12 tháng 6 năm 2014). “Chelsea complete £27m signing of Cesc Fabregas from Barcelona”. The Telegraph. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  73. ^ “Manchester City complete Yaya Toure transfer”. BBC. Ngày 2 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  74. ^ “Manchester City sign Yaya Toure from Barcelona”. The Telegraph. Ngày 2 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  75. ^ “Ac Milan sign Ibrahimovic from Barcelona”. Acmilan.com. Ngày 18 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  76. ^ “Ac Milan sign Ibrahimovic from Barcelona”. BBC. Ngày 18 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ball, Phill (2003). Morbo: The Story of Spanish Football. WSC Books Limited. ISBN 0-ngày 98 tháng 6 năm 134 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  • Eaude, Michael (2008). Catalonia: a cultural history. Oxford University Press. ISBN 0-19-532797-7. 
  • Ferrand, Alain; McCarthy, Scott (2008). Marketing the Sports Organisation: Building Networks and Relationships. Taylor & Francis. ISBN 0-415-45329-1. 

Lịch sử Barça:

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]