FC Barça Atlètic

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Barça Atlètic
FC Barcelona logo.svg
Tên đầy đủFutbol Club Barcelona Atlètic
Biệt danhBarça B
La Masía
Thành lập12 tháng 6 năm 1970; 52 năm trước (1970-06-12)
với tên FC Barcelona Atlètic
SânEstadi Johan Cruyff, Sant Joan Despí, Catalonia, Spain
Sức chứa6,000
Chủ tịchJoan Laporta
Huấn luyện viênRafael Marquez
Giải đấu1ª RFEF – Group 2
2020–212ª B – Group 3 (A), 2nd of 11
2ª B – Group 3 (C), 2nd of 6

FC Barça Atlètic là câu lạc bộ bóng đá của Tây Ban Nha đặt tại Barcelona, trong cộng đồng cự trị Catalonia.

Được thành lập vào năm 1970 với tên gọi FC Barcelona Atlètic, đây là đội dự bị của FC Barcelona và hiện đang chơi cho Primera División RFEF, có sân nhà là sân Estadi Johan Cruyff.

Các đội dự bị ở Tây Ban Nha chơi trong cùng một hệ thống giải đấu với đội 1, thay vì trong một giải đấu dành cho đội dự bị. Họ phải chơi thấp hơn đội chính ít nhất một bậc, và do đó Barcelona B không đủ điều kiện để thăng hạng lên La Liga. Họ cũng không thể chơi ở Copa del Rey.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Espanya Industrial[sửa | sửa mã nguồn]

Được thành lập vào ngày 1 tháng 8 năm 1934 với tên gọi Societat Esportiva Industrial Espanya, câu lạc bộ ban đầu là đội thể thao của nhà máy có cùng tên, và áo của nó có các sọc dọc màu xanh và trắng. Công ty thuộc sở hữu của gia đình Josep Antoni de Albert, người từng là chủ tịch của FC Barcelona vào năm 1943; trong nhiệm kỳ chủ tịch của Albert, câu lạc bộ được gọi là Club Deportivo Espanya Industrial, trở thành đội dự bị của Barcelona và bắt đầu chơi các trận sân nhà tại Camp de Les Corts.

Ban đầu, Industrial chơi ở các giải đấu khu vực địa phương, nhưng vào năm 1950, nó được thăng hạng lên Tercera División, lên đến Segunda División hai năm sau đó. Vào mùa 1953 câu lạc bộ kết thúc giải đấu ở vị trí á quân và được thi đấu trận trận play-off thăng hạng, nhưng vì là một câu lạc bộ trẻ của Barcelona, ​​họ không thể chuyển lên La Liga.

CD Condal[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi được đá một trận play-off thăng hạng khác vào năm 1956, Espanya Industrial rời khỏi FC Barcelona và được đổi tên thành Club Deportivo Condal. Câu lạc bộ mặc áo sơ mi màu xanh lam với hai sọc chéo màu trắng. Condal đã thi đấu một lần ở La Liga, vào mùa giải 1956–57, và bị xuống hạng ngay mùa đó khi cán đích ở vị trí thứ 16 (bét bảng). Năm 1968, câu lạc bộ tái gia nhập Barcelona với tư cách là đội dự bị và sử dụng trang phục của blaugrana.

Barcelona Atlètic/Barcelona B[sửa | sửa mã nguồn]

Trong 1 trận đấu của The Mini Estadi

Năm 1970, chủ tịch Barcelona, ​​Agustí Montal, quyết định hợp nhất Condal với một câu lạc bộ ở cơ sở khác, Atlètic Catalunya, và thành lập Barcelona Atlètic. Atlètic được thành lập vào năm 1965 do sự hợp nhất của hai đội bóng khác nhau: UE Catalunya de Les Corts (thành lập năm 1918 với tên gọi Catalunya Sporting Club) và CD Fabra Coats (1926).

Dưới hệ thống mới, đội B đã chơi tổng cộng 10 mùa giải ở cấp độ thứ hai. Vào cuối mùa 1988–89, đội trở lại Segunda División B - cấp độ thứ ba mới được tạo ra vào năm 1977 - sau khi xếp thứ 17.

Năm 1990, đội được đổi tên thành Barcelona B, nhưng chủ tịch câu lạc bộ Joan Laporta đã đổi tên trở lại Barcelona Atlètic vào năm 2008. Hai năm sau, người kế nhiệm của ông Sandro Rosell quay trở lại với tên cũ.[1]

Cựu cầu thủ của câu lạc bộ là Luis Enrique (người cũng đã chơi cho Real Madrid) đã kế nhiệm Pep Guardiola với tư cách là huấn luyện viên đội vào mùa hè năm 2008, với tư cách là huấn luyện viên đội 1.[2] Vào mùa giải 2009–10 câu lạc bộ đứng thứ hai trong bảng III và trở lại giải hạng hai sau 11 năm vắng bóng; và vị trí thứ ba trong ngay sau mùa đó, nhưng đội không được thăng hạng.

Đội hình[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 1 tháng 9 năm 2022[3]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Tây Ban Nha Arnau Tenas (đội trưởng)
2 HV Tây Ban Nha Sergi Rosanas
3 HV Maroc Chadi Riad
4 TV Tây Ban Nha Marc Casadó
5 HV Tây Ban Nha Álex Zalaya
6 HV Sénégal Alpha Diounkou (mượn từ Granada)
7 Maroc Zacarias Ghailán
8 TV Tây Ban Nha Álvaro Sanz (đội phó)
9 TV Tây Ban Nha Roberto Fernández (mượn từ Málaga)
10 TV Tây Ban Nha Antonio Aranda
11 Tây Ban Nha Estanis Pedrola
12 HV Argentina Román Vega (mượn từ Argentinos Juniors)
13 TM Tây Ban Nha Nil Ruiz
14 TV Thổ Nhĩ Kỳ Emre Demir
Số VT Quốc gia Cầu thủ
15 HV Tây Ban Nha Álvaro Núñez
16 Tây Ban Nha Fabio Blanco
17 Colombia Juanda Fuentes
18 TV Tây Ban Nha Pablo Torre
19 TV Tây Ban Nha Txus Alba
20 Tây Ban Nha Luismi Cruz (mượn từ Sevilla)
21 TV Tây Ban Nha Álex Carbonell
22 HV Tây Ban Nha Alejandro Balde
23 HV Tây Ban Nha Pelayo Fernández
24 TM Tây Ban Nha Iñaki Peña
25 HV Tây Ban Nha Álex Valle
30 Tây Ban Nha Ilias Akhomach
Nhật Bản Hiroki Abe

Đội trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
26 HV Tây Ban Nha Arnau Casas
28 TV Tây Ban Nha Aleix Garrido
Số VT Quốc gia Cầu thủ
29 Tây Ban Nha Víctor Barberà

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV Tây Ban Nha Fermín López (tại Linares Deportivo đến ngày 30 tháng 6 năm 2023)
Maroc Ez Abde (tại Osasuna đến ngày 30 tháng 6 năm 2023)
Tây Ban Nha Josep Cerdà (tại Olot đến ngày 30 tháng 6 năm 2023)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
Guinée Mamadou Saïdou Bah (tại Olot đến ngày 30 tháng 6 năm 2023)
Brasil Gustavo Maia (tại Internacional đến ngày 31 tháng 12 năm 2022)

Ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên
HLV trưởng México Rafael Márquez
Trợ lý HLV Tây Ban Nha Albert Sánchez
HLV thủ môn Tây Ban Nha Carles Busquets
Bác sĩ Tây Ban Nha Xavier Valle
HLV thể lực Tây Ban Nha Marc Guitart
HLV trị liệu Tây Ban Nha Chechu Pérez
Tây Ban Nha Francesc Guilanyà
Tây Ban Nha Jon Álvarez
HLV Juvenil A Tây Ban Nha Óscar López

Cập nhật lần cuối: 14 tháng 7 năm 2022
Nguồn: FC Barcelona B

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

SVĐ The Mini Estadi năm 2019

Vào ngày 23 tháng 9 năm 1982 Mini Estadi được khánh thành bởi chủ tịch Barcelona Josep Lluís Núñez. Bên cạnh sân có hai sân tập, sân 3 và sân 4, có sân cỏ nhân tạo - có kích thước là 100 x 70 m và có chỗ ngồi cho 1.000 khán giả.

Mini Estadi cũng đã tổ chức các trận đấu của Đội tuyển bóng đá quốc gia AndorraBarcelona Dragons của Bóng đá Mỹ.

Là một phần của dự án Espai Barça, Mini Estadi đã bị phá bỏ và Estadi Johan Cruyff đã được xây dựng để thay thế từ mùa giải 2019–20. Ngoài ra, một phần của dự án này là Camp Nou sẽ được cải tạo.[4]

La Masia[sửa | sửa mã nguồn]

Được khánh thành vào ngày 26 tháng 9 năm 1966, La Masia là tên được đặt cho các cơ sở đào tạo của Barcelona nằm gần Camp Nou ở quận Les Corts của Barcelona. Đây là một dinh thự đồng quê cổ kính được xây dựng vào năm 1702 và sau khi Camp Nou được khánh thành vào năm 1957, tòa nhà đã được tu sửa và mở rộng để sử dụng làm trụ sở xã hội của câu lạc bộ.

Năm 1979, La Masia trở thành nơi cư trú của các cầu thủ trẻ ngoại thành. Trong những thập kỷ tiếp theo, học viện đã rèn luyện một số cầu thủ mà sau này sẽ xuất hiện cho cả Barcelona và Đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha, Guillermo Amor, Albert Ferrer, Iván de la Peña, Josep Guardiola, Carles Puyol, Gerard López, Xavi, Víctor Valdés, và Andrés Iniesta nằm trong số nổi bật nhất. Lionel Messi cũng là một cựu học viên nổi tiếng của La Masia và là một trong những cầu thủ huyền thoại nhất chơi cho Barcelona cũng như Đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina.[5][6][7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ El Barça Atlètic volverá a llamarse Barça B (Barça Atlètic to be called Barça B again) Lưu trữ 2010-08-18 tại Wayback Machine; El Mundo Deportivo, 3 July 2010 (tiếng Tây Ban Nha)
  2. ^ Luis Enrique, nuevo entrenador del Barcelona B (Luis Enrique, new Barcelona B coach); El País, 26 May 2008 (tiếng Tây Ban Nha)
  3. ^ “FC Barcelona B”. FC Barcelona. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2021. Barça B 2021/2022
  4. ^ https://www.fcbarcelona.es/club/instalaciones/ficha/que-es-l-espai-barca[liên kết hỏng]
  5. ^ La Masia history; Barcelona's official website
  6. ^ La Masia – A footballing factory par excellence Lưu trữ 2012-11-29 tại Wayback Machine; Total Barça, 22 April 2010
  7. ^ La Masia graduates have scored more goals this season than in any other season in the Club's history; Barcelona's official website, 18 March 2012

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]