Bước tới nội dung

Falkirk F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Falkirk
Tập tin:Falkirk FC logo.svg
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Falkirk
Biệt danhThe Bairns
Thành lập1876; 150 năm trước
SânSân vận động Falkirk
Sức chứa7.937[1]
Chủ sở hữuFalkirk Supporters Society
CEOJamie Swinney
Người quản lýJohn McGlynn
Giải đấuScottish Premiership
2024–25Scottish Championship, thứ 1 trên 10 (thăng hạng)
Websitewww.falkirkfc.co.uk
Mùa giải hiện nay

Falkirk Football Club là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Scotland có trụ sở tại thị trấn Falkirk. Câu lạc bộ được thành lập năm 1876[2] và thi đấu tại Scottish Premiership, hạng đấu cao nhất của bóng đá Scotland, với tư cách thành viên của Scottish Professional Football League. Câu lạc bộ được bầu vào Second Division của Scottish Football League trong mùa giải 1902–03, thăng lên First Division sau hai mùa giải và đạt vị trí cao nhất tại giải quốc gia vào đầu thập niên 1900, khi về nhì sau Celtic trong mùa giải 1907–081909–10. Câu lạc bộ bóng đá này được đăng ký dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn vào tháng 4 năm 1905 – Falkirk Football & Athletic Club Ltd.

Falkirk giành Cúp bóng đá Scotland lần đầu tiên vào năm 1913. Sau năm 1945, Falkirk lên và xuống hạng giữa Premier Division và First Division bảy lần cho đến mùa giải 1995–96, và trong thập niên 1970 từng trải qua ba mùa giải tại Second Division. Năm 2005, Falkirk giành quyền thăng hạng lên Scottish Premier League (SPL). Falkirk một lần nữa giành Cúp Scotland vào năm 1957 và là á quân giải đấu này trong các năm 1997, 20092015. Nhờ thành tích tại Cúp Scotland 2009, câu lạc bộ giành quyền tham dự mùa giải đầu tiên của UEFA Europa League vào mùa giải 2009–10. Falkirk đã giành chức vô địch hạng hai của bóng đá Scotland với kỷ lục tám lần. Đội cũng đồng giữ kỷ lục vô địch Scottish Challenge Cup, giành danh hiệu này lần thứ tư vào năm 2012.

Trong những năm đầu, Falkirk thi đấu tại ba địa điểm: Hope Street, Randyford Park và Blinkbonny Park. Từ năm 1885 đến năm 2003, câu lạc bộ đặt trụ sở tại Brockville Park, được xây trên nền sân Hope Street cũ. Sau khi SPL ra đời năm 1998, các tiêu chí nghiêm ngặt về sân vận động – mà Brockville Park không đáp ứng – được áp dụng, khiến câu lạc bộ bị từ chối thăng hạng ba lần. Sân nhà hiện tại của câu lạc bộ kể từ năm 2004 là Sân vận động Falkirk, một sân vận động toàn chỗ ngồi có sức chứa 7.937 chỗ tại khu Westfield của Falkirk.[1] Biệt danh của câu lạc bộ là the Bairns,[3] một từ trong tiếng Scots có nghĩa là con trai hoặc con gái, được dùng để chỉ những người bản địa của thị trấn Falkirk.[4]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập câu lạc bộ và những năm đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày thành lập câu lạc bộ không chắc chắn.[5] Dù một số nguồn cho rằng đội được thành lập vào năm 1876, những nguồn khác lại khẳng định đội ra đời năm 1877.[6] Tuy nhiên, năm 1876 là mốc được câu lạc bộ và cổ động viên sử dụng.[7] Năm 1878, câu lạc bộ gia nhập Hiệp hội bóng đá Scotland và đủ điều kiện tham dự Cúp Scotland, một giải đấu loại trực tiếp trở thành giải cúp bóng đá chính của quốc gia. Câu lạc bộ vào đến vòng Hai trong năm đầu tiên tham dự.[8] Trong vài năm đầu sau khi thành lập, Falkirk chủ yếu chơi các trận giao hữu. Đội thi đấu các trận sân nhà tại ba sân khác nhau trong giai đoạn này: Hope Street, Randyford Park và Blinkbonny Park. Đội rời sân cuối cùng vào năm 1884 và chuyển đến Brockville Park, nơi vẫn là sân nhà của câu lạc bộ trong 118 năm. Stirlingshire Football Association được thành lập năm 1883, mời các câu lạc bộ từ vùng Stirlingshire tham gia. Điều này dẫn đến việc thành lập một giải đấu mới, Stirlingshire Cup, dành riêng cho các đội trong vùng; Falkirk giành chức vô địch ở mùa giải đầu tiên.[9][10] Điều này được phản ánh trong khẩu hiệu của thị trấn Falkirk: "Better meddle wi' the de'il than the Bairns o' Fa'kirk".[11]

Được bầu vào Football League

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chủ yếu thi đấu các trận khu vực, giao hữu và giải Cúp Scotland toàn quốc trong phần lớn thời gian tồn tại, câu lạc bộ được bầu vào hạng thấp nhất của Scottish Football League trong mùa giải 1902–03, một giải thể thao quốc gia gồm các câu lạc bộ bóng đá hàng đầu Scotland. Khi đó, giải gồm hai hạng là First Division và Second Division. Falkirk thăng lên hạng đấu cao nhất sau khi về nhì sau Clyde sau hai mùa giải. Bất chấp thành công của câu lạc bộ, vài tháng trước đó từng có đề xuất hợp nhất với đối thủ địa phương East Stirlingshire, nhưng đề xuất này bị bác bỏ sít sao trong một cuộc bỏ phiếu.[12] Trong mùa giải 1907–08, mùa giải thứ ba của Falkirk ở hạng đấu cao nhất, câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ hai, thứ hạng cao nhất của đội cho đến nay, và lặp lại thành tích này trong mùa giải 1909–10.[12] Trong cả hai lần, đội đều xếp sau nhà vô địch Celtic dù là đội ghi nhiều bàn nhất giải, trở thành câu lạc bộ Scotland đầu tiên vượt mốc 100 bàn trong một mùa giải quốc gia.[12] Năm 1913, câu lạc bộ giành Cúp bóng đá Scotland lần đầu tiên, đánh bại Raith Rovers 2–0 trong trận chung kết.

Năm 1922, câu lạc bộ phá kỷ lục phí chuyển nhượng bóng đá thế giới, trả 5.000 bảng Anh để chiêu mộ tiền đạo Syd Puddefoot từ câu lạc bộ Anh West Ham United.[13][14] Năm sau, câu lạc bộ thi đấu với Scottish Football League XI để gây quỹ cho những người bị ảnh hưởng bởi thảm họa mỏ Redding.[15][16]

Falkirk trải qua 30 mùa giải liên tiếp trong giai đoạn đầu tiên ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Scotland, trước khi xuống hạng trong mùa giải 1934–35 sau khi kết thúc ở vị trí thứ 20, cuối bảng.[17] Dù vậy, câu lạc bộ thăng trở lại hạng đấu cao nhất chỉ sau một mùa giải, với tư cách nhà vô địch Second Division 1935–36, đồng thời ghi kỷ lục câu lạc bộ 132 bàn tại giải quốc gia. Falkirk ở lại hạng đấu cao nhất cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939, khiến giải quốc gia bị đình chỉ.

Lên hạng và xuống hạng sau chiến tranh

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1945, Scottish Football League được nối lại và Falkirk trở lại First Division trong mùa giải 1946–47. Năm 1947, một giải đấu mới, Cúp Liên đoàn bóng đá Scotland, được thành lập. Trong mùa giải 1947–48, Falkirk vào trận chung kết và thua East Fife 1–4 trong trận đá lại sau trận hòa 0–0 ban đầu.

Câu lạc bộ góp mặt trong trận chung kết Cúp Scotland vào năm 1957. Đội đánh bại Kilmarnock trong trận đá lại. Đây là thành công đầu tiên của họ tại giải đấu kể từ khi vô địch 44 năm trước đó. Tháng 6 năm 1958, Alex ParkerEddie O'Hara từ đội hình vô địch cúp được Everton mua với tổng phí 18.000 bảng Anh.[18] John White được ký hợp đồng hai tháng sau đó từ Alloa Athletic bằng 3.300 bảng Anh trong số tiền này.[19]

Trong những năm sau đó, việc xuống hạng và thăng hạng giữa hạng nhất và hạng hai xảy ra bảy lần cho đến mùa giải 1995–96. Câu lạc bộ từng trải qua tối đa tám mùa giải liên tiếp ở mỗi hạng. Do đó, Falkirk đã vô địch hoặc về nhì ở hạng hai của bóng đá Scotland với kỷ lục 14 lần, phần lớn diễn ra trong giai đoạn này. Câu lạc bộ cũng có ba mùa giải vào cuối thập niên 1970 tại hạng ba mới được thành lập, hạng đấu thấp nhất mà đội từng thi đấu. Trong mùa giải 1977–78, câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thấp nhất cho đến nay, khép lại mùa giải ở vị trí tương đương thứ 29 tại Scotland sau khi đứng thứ 5 tại Second Division mới.[20] Trong mùa giải 1996–97, câu lạc bộ vào chung kết Cúp Scotland lần thứ ba, và Falkirk trở thành câu lạc bộ thứ bảy trong 106 năm vào chung kết khi đang thi đấu ngoài hạng đấu cao nhất của bóng đá Scotland. Đối thủ của Falkirk là Kilmarnock, tái hiện trận chung kết năm 1957,[21] nhưng câu lạc bộ không thể lặp lại thành công năm 1957 và thua 0–1.[22]

Scottish Premier League

[sửa | sửa mã nguồn]

Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland (SPL) được thành lập năm 1998 với tư cách hạng đấu cao nhất mới của bóng đá Scotland. Giải đấu mới và các quy định của nó khiến Falkirk bị tước cơ hội thăng hạng ba lần do hệ quả từ việc thành lập giải. Khi SPL được tạo ra từ Premier Division cũ, trận play-off giữa đội xếp thứ chín tại Premier Division và đội xếp thứ hai tại First Division bị bãi bỏ trong mùa giải 1997–98. Falkirk, đội xếp thứ hai tại First Division, vì vậy không được đá play-off với Motherwell. Tiêu chí của SPL yêu cầu các câu lạc bộ phải có sân vận động toàn chỗ ngồi với sức chứa 10.000 người để thi đấu tại giải mới được đưa ra, trong khi Brockville Park của Falkirk không đáp ứng yêu cầu này. Khi SPL dự kiến mở rộng lên 12 đội vào cuối mùa giải 1999–2000, Aberdeen, đội xếp cuối SPL, lẽ ra phải thi đấu play-off ba đội với các đội xếp thứ hai và thứ ba tại First Division, trong đó hai trong ba câu lạc bộ này sẽ giành suất SPL cho mùa giải tiếp theo. Brockville Park vẫn không đạt tiêu chí của SPL, và Falkirk xin dùng chung Sân vận động Murrayfield tại Edinburgh, nhưng đề xuất bị bác bỏ. Vòng play-off bị hủy, Dunfermline Athletic được tự động thăng hạng và Aberdeen giữ vị trí ở hạng đấu cao nhất.

Biểu đồ lịch sử vị trí của Falkirk tại giải quốc gia.

Sau bốn mùa giải liên tiếp kết thúc trong nhóm ba đội dẫn đầu First Division kể từ 1997–98, vận may của câu lạc bộ thay đổi mạnh khi đội kết thúc mùa giải ở vị trí thứ chín, vị trí lẽ ra khiến câu lạc bộ phải xuống hạng ba. Tuy nhiên, đội được miễn xuống hạng nhờ việc câu lạc bộ cùng hạng First Division Airdrieonians bị thanh lý vào ngày cuối cùng của mùa giải.[23] Mùa giải tiếp theo, Falkirk một lần nữa bị từ chối thăng hạng lên SPL dù đứng đầu First Division. Câu lạc bộ nộp một đơn xin dùng chung sân khác, lần này tại New Broomfield – một sân đạt chuẩn SPL và là sân nhà của Airdrie United – nhưng bị các chủ tịch SPL bác bỏ trong cuộc bỏ phiếu. Nhờ vậy, Motherwell tránh được việc xuống hạng khỏi First Division.[24] Để đáp ứng tiêu chí, Falkirk bắt đầu xây một sân vận động mới và rời Brockville Park.

Trong mùa giải 2004–05, tiêu chí sân vận động của SPL được giảm xuống 6.000 chỗ, mức mà Sân vận động Falkirk mới của câu lạc bộ đáp ứng. Câu lạc bộ vô địch First Division mùa đó, thắng Ross County 1–0, và được thăng hạng lên SPL. Sau ba mùa giải tại SPL, trong đó có hai mùa xếp thứ bảy, câu lạc bộ giành quyền tham dự mùa giải đầu tiên của UEFA Europa League, lần đầu tiên đội đủ điều kiện tham dự một giải đấu châu Âu. Cùng năm đó, Falkirk bị Rangers đánh bại trong trận chung kết Cúp Scotland.[25] Bất chấp thành công tại cúp, Falkirk kết thúc ở vị trí thứ 10 tại giải quốc gia và tránh xuống hạng nhờ chiến thắng 1–0 trước Inverness Caledonian Thistle. Mùa giải tiếp theo, câu lạc bộ thi đấu tại Europa League nhưng xuống hạng từ SPL xuống First Division sau khi bị Kilmarnock cầm hòa 0–0 trong ngày cuối cùng của mùa giải 2009–10.[25]

Scottish First Division/Scottish Championship

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi trở lại First Division, Falkirk kết thúc các mùa giải 2010–112011–12 ở vị trí thứ ba. Với tư cách thành viên của Scottish Football League, câu lạc bộ đủ điều kiện tham dự Scottish Challenge Cup, giải đấu mà đội giành chức vô địch năm 2012 sau chiến thắng 1–0 trước Hamilton Academical, qua đó giành cúp lần thứ tư, một kỷ lục của giải. Cùng năm, Falkirk vào bán kết Cúp Liên đoàn, nhưng thua Celtic. Câu lạc bộ đã đánh bại đương kim vô địch SPL Rangers 3–2 ở vòng Ba,[26] và cũng vượt qua một câu lạc bộ hạng đấu cao nhất khác là Dundee United trên chấm luân lưu ở tứ kết.[27]

Trong mùa giải 2012–13, Falkirk xếp thứ ba tại giải quốc gia, kém nhà vô địch Partick Thistle tới 25 điểm, nhưng có hành trình ấn tượng tại Cúp Scotland, đánh bại đối thủ địa phương Stenhousemuir cũng như Hamilton Academical trên đường vào bán kết gặp Hibernian tại Hampden Park. Falkirk, lần đầu dưới sự dẫn dắt của Gary Holt, dẫn 3–0 sau hiệp một, nhưng Hibernian lội ngược dòng để giành vé vào chung kết với chiến thắng 4–3 sau hiệp phụ. Gary Holt rời vị trí huấn luyện viên vào tháng 6 năm 2014 để gia nhập ban huấn luyện của Norwich. Ông được thay thế bởi Peter Houston.[28] Trong mùa giải 2013–14, Falkirk xếp thứ ba tại Scottish Championship, suýt bỏ lỡ chức vô địch với khoảng cách 3 điểm khi vẫn còn cơ hội ở ngày cuối cùng của mùa giải. Đội giành quyền tham dự vòng play-off Premiership, nơi họ đánh bại Queen of the South với tổng tỷ số 4–3 sau hiệp phụ ở tứ kết, trước khi thua Hamilton Academical 1–2 sau hai lượt ở bán kết.[29]

Trong mùa giải 2014–15, Falkirk bỏ lỡ vị trí play-off khi xếp thứ 5 tại Championship; ở Cúp Scotland, Falkirk tiến xa hơn hai năm trước một bước khi vào chung kết, trả món nợ trước Hibernian ở bán kết trước khi thua Inverness 2–1 trong trận chung kết. Mùa giải 2015–16, Falkirk xếp thứ hai tại Championship và giành quyền dự play-off thăng hạng. Đội đánh bại Hibernian với tổng tỷ số 5–4 ở bán kết[30] trước khi gặp Kilmarnock. Chiến thắng 1–0 trên sân nhà ở lượt đi đưa Falkirk đến rất gần việc trở lại hạng đấu cao nhất. Tuy nhiên, Kilmarnock thắng 4–0 ở lượt về để giữ vị trí tại Scottish Premiership với tổng tỷ số 4–1.[31]

Mùa giải tiếp theo, Falkirk lại xếp thứ hai tại giải quốc gia và giành quyền dự play-off. Đội bị Dundee United loại ở bán kết với tổng tỷ số 3–4.[32] Falkirk khởi đầu mùa giải 2017–18 rất tệ và câu lạc bộ rơi vào nguy cơ xuống League One. Huấn luyện viên Peter Houston bị sa thải vào tháng 9 năm 2017 sau trận thua 0–2 trên sân nhà trước Livingston, kết quả khiến câu lạc bộ đứng áp chót bảng.[33] Paul Hartley thay ông làm huấn luyện viên.[34] Hartley chỉ thắng một trong chín trận giải quốc gia đầu tiên, và đến Giáng sinh câu lạc bộ vẫn đứng áp chót, kém vị trí an toàn 8 điểm.[35] Chuỗi ba chiến thắng trong năm trận giúp Falkirk cân bằng điểm số với đội xếp thứ ba từ dưới lên Dumbarton và cuối cùng bứt ra để kết thúc ở vị trí thứ tám.[36]

Scottish League One

[sửa | sửa mã nguồn]

Falkirk trải qua mùa giải 2018–19 thảm họa, khi câu lạc bộ xuống hạng trong ngày cuối cùng dù giành chiến thắng 3–2 trước nhà vô địch Ross County. Điều này đưa câu lạc bộ bước vào giai đoạn thứ hai thi đấu ở hạng ba Scotland. Mùa giải 2019–20 được tuyên bố kết thúc sớm sau 28 trận, khiến Falkirk đứng thứ hai, kém Raith Rovers 1 điểm.[37]

Mùa giải 2020–21 là một mùa giải đáng quên khác đối với cổ động viên Falkirk. Sau khi khởi đầu mùa giải với phong độ tốt và có thời điểm dẫn đầu bảng với khoảng cách rõ ràng, sự sa sút trong nửa sau mùa giải sau quãng nghỉ giữa mùa do đại dịch COVID-19 khiến Falkirk rơi xuống vị trí thứ 5 tại League One sau thất bại 0–2 trước Airdrieonians ở ngày cuối cùng, qua đó đánh mất suất dự play-off.[38]

Trong mùa giải 2022–23, đội kết thúc ở vị trí thứ hai, trong khi Dunfermline Athletic giành chức vô địch. The Bairns bước vào vòng play-off gặp Airdrieonians, nhưng chịu thất bại chung cuộc 2–7, thua 2–6 ở lượt đi và 0–1 ở lượt về.[39]

Ngày 30 tháng 3 năm 2024, Falkirk được xác nhận là nhà vô địch League One mà không cần thi đấu, sau khi Hamilton không thể thắng Queen of the South trên sân nhà. Ngày 4 tháng 5 năm 2024, Falkirk hoàn tất mùa giải quốc gia bất bại với thành tích 27 thắng, 9 hòa và 0 thua trong mùa League One 36 trận, trở thành đội thứ bảy đạt thành tích bất bại trong một mùa giải quốc gia trong toàn bộ lịch sử bóng đá Scotland.[40]

Vươn lên các hạng đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Chuỗi bất bại của Falkirk cuối cùng chấm dứt vào ngày 28 tháng 9 năm 2024, khi đội thua 0–1 trước Raith Rovers tại Stark's Park.[41]

Scottish Championship 2024–2025

Sau chiến dịch bất bại tại Scottish League One 2023–24, Falkirk trở lại Scottish Championship bằng chiến thắng 2–1 trước Queens Park tại Sân vận động Falkirk trong trận mở màn mùa giải.

Sau khi cầu thủ chạy cánh Callumn Morrison chuyển đến Linfield với mức phí không được tiết lộ, Falkirk ký hợp đồng với Scott Arfield từ Bolton Wanderers vào tháng 2 năm 2025. Arfield từng thi đấu cho câu lạc bộ trong giai đoạn 2007–2010. Falkirk đồng ý đưa số áo 37 trở lại sử dụng sau khi đã treo số này, và Arfield chọn mặc số áo đó để tưởng nhớ người bạn, đồng thời là cựu đồng đội tại Falkirk, Craig Gowans. Arfield lập hat-trick trong lần ra mắt thứ hai, trong chiến thắng 5–2 trên sân nhà trước Partick Thistle vào ngày 8 tháng 2 năm 2025.

Một chiến dịch mạnh mẽ giúp Falkirk tạo khoảng cách đáng kể so với đối thủ cạnh tranh Livingston. Tuy nhiên, sự sa sút phong độ ở giai đoạn cuối mùa khiến Falkirk bước vào trận cuối cùng của giải quốc gia với cùng điểm số như Livingston, nhưng có hiệu số bàn thắng bại vượt trội hơn nhiều. Falkirk đánh bại Hamilton Academical 3–1 vào ngày 2 tháng 5 năm 2025 để giành chức vô địch quốc gia thứ hai liên tiếp, qua đó bảo đảm trở lại hạng đấu cao nhất của bóng đá Scotland lần đầu tiên sau 15 năm.

Màu sắc và huy hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Áo bóng đá box Màu sắc truyền thống của Falkirk là xanh hải quân và trắng, lần đầu được đội sử dụng trong mùa giải 1882. Tuy nhiên, trang phục đầu tiên của câu lạc bộ, gồm áo và tất có các sọc ngang mảnh màu xanh lam và trắng, được sử dụng từ năm 1876 đến năm 1880. Trang phục này được thay bằng áo xanh lam và quần trắng, kiểu phối màu xuất hiện chủ đạo kể từ đó. Các chi tiết màu đỏ được đưa vào trang phục vào cuối thập niên 1930  chủ yếu trên tất  được sử dụng đến đầu thập niên 1960, rồi được tái giới thiệu vào giữa thập niên 1970 và kể từ đó vẫn xuất hiện trong trang phục của đội. Trong mùa giải 2017–18, trang phục gồm áo xanh hải quân, quần trắng và tất xanh hải quân.[42][43]

Huy hiệu hiện tại của Falkirk là phiên bản cách điệu của Falkirk Steeple, một địa danh nổi bật của thị trấn. Trong mùa giải 2007–08, câu lạc bộ sử dụng một huy hiệu  được gọi là "The Highlander"  từng xuất hiện trong thời điểm đội giành Cúp Scotland năm 1957, như một cách tri ân kỷ niệm 50 năm dành cho các cầu thủ. Nhà sản xuất trang phục Umbro cung cấp trang phục cho câu lạc bộ trong mùa giải 1977–78. Các bộ trang phục khác từng được cung cấp bởi Bukta, PatrickLe Coq Sportif. Nhà cung cấp hiện tại là O'Neill's, còn nhà tài trợ áo đấu của câu lạc bộ là Crunchy Carrots. Các nhà tài trợ gần đây gồm Central Demolition, Budweiser Budvar, John R Weir Mercedes Group và Beazer Homes.

Sân vận động

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm đầu, Falkirk thi đấu các trận sân nhà tại ba địa điểm khác nhau: Hope Street, Randyford Park và Blinkbonny Park. Sân đầu tiên được câu lạc bộ sử dụng nằm trên Hope Street, địa điểm sau này trở thành Brockville Park vào năm 1884. Trận đầu tiên tại Hope Street là trận gặp Grasshoppers đến từ Bonnybridge.[44] Sau một mùa giải, Falkirk chuyển đến Randyford Park vào năm 1878, sân nhà của East Stirlingshire Cricket Club trong các tháng mùa hè, nơi câu lạc bộ chơi trận chính thức đầu tiên và giành chiến thắng trước Campsie Glen của Lennoxtown tại Cúp Scotland.[45] Sân nằm gần Forth Valley College, cách Sân vận động Falkirk hiện tại vài trăm yard về phía tây. Câu lạc bộ thi đấu tại Blinkbonny Park từ năm 1881 đến năm 1883.[46]

Một cửa xoay không còn sử dụng trên vỉa hè bên ngoài một siêu thị
Một cửa xoay cũ từ Brockville

Từ năm 1885 đến năm 2003, Falkirk đặt trụ sở tại Brockville Park, cách trung tâm thị trấn Falkirk một phần tư dặm (0,4 km).[47] Brockville Park phần lớn là khán đài đứng và trong những năm cuối có sức chứa khoảng 7.500 đến 8.000 khán giả. Ngày 21 tháng 2 năm 1953, lượng khán giả sân nhà lớn nhất của Falkirk được ghi nhận tại sân này, khi 23.100 người xem câu lạc bộ thi đấu với Celtic ở vòng Ba Cúp Scotland.[43][48]

Mặt tiền của một tòa nhà sân vận động
Sân vận động Falkirk là sân nhà của Falkirk kể từ năm 2004.

Khi SPL được thành lập năm 1998, Brockville Park không đáp ứng các tiêu chí sân vận động của SPL, chủ yếu do các khán đài đứng. Vì vậy, câu lạc bộ bị từ chối gia nhập giải, dù đã vô địch First Division hoặc đủ điều kiện dự play-off thăng hạng, trong ba lần. Falkirk tiếp tục thi đấu tại sân này cho đến ngày cuối cùng của mùa giải bóng đá 2002–03, và cuối năm 2003 Brockville bị phá dỡ, khu đất được bán cho chuỗi siêu thị Wm Morrison Supermarkets plc.[49] Để tưởng niệm quãng thời gian của câu lạc bộ tại sân vận động, siêu thị trưng bày các kỷ vật của Falkirk F.C., bao gồm một cửa xoay.[50] Trong mùa giải 2003–04, Falkirk đạt thỏa thuận với Stenhousemuir để dùng chung sân Ochilview Park trong một mùa giải, trong lúc sân vận động mới của câu lạc bộ được xây dựng.

Kể từ đầu mùa giải 2004–05, câu lạc bộ đặt trụ sở tại Sân vận động Falkirk, một sân vận động toàn chỗ ngồi có sức chứa 7.937 chỗ được xây ở rìa phía đông Falkirk.[43] Sân vận động được khai trương vào tháng 7 năm 2004 bằng một trận giao hữu với Dundee.[43][51] Khi mở cửa, chỉ khán đài phía tây có sức chứa 4.200 chỗ được hoàn thành. Khán đài phía bắc có sức chứa 2.000 chỗ được xây trong mùa giải khai trương và hoàn tất vào tháng 5 năm 2005, đưa sức chứa của sân vượt tiêu chí 6.000 chỗ ngồi đã được SPL giảm xuống.[51] Falkirk trở thành nhà vô địch First Division trong mùa giải đó và được thăng hạng lên SPL. Sân vận động sau đó tiếp tục được mở rộng; khán đài phía nam[52] chính thức khai trương trong trận gặp Royal Antwerp của Bỉ vào tháng 8 năm 2009.[53]

Cổ động viên và kình địch

[sửa | sửa mã nguồn]

Mối kình địch mạnh nhất trong thời gian gần đây của Falkirk là với Dunfermline Athletic. Dunfermline và Falkirk cách nhau khoảng 13 dặm, ngăn cách bởi River Forth. Hai câu lạc bộ có quy mô tương tự nhau và thường xuyên cạnh tranh ở cùng cấp độ tại SPL và First Division, nhưng nguồn gốc của mối kình địch không rõ ràng, như cựu huấn luyện viên Falkirk John Hughes từng nói trong một cuộc phỏng vấn năm 2005.[54] Hai câu lạc bộ đã chơi nhiều trận quan trọng liên quan đến thăng hạng và xuống hạng trong ba mươi năm qua, điều chỉ làm gia tăng sự thù địch giữa hai nhóm cổ động viên.[55]

Năm 2009, Falkirk Herald nhắc lại Super Tuesday: "Hơn 20 năm trước, một trận đấu giải quốc gia từng bị hoãn đã diễn ra tại Brockville. Dunfermline hùng mạnh khi đó đến thị trấn với kỳ vọng chiến thắng, khi họ tìm cách tiếp tục cuộc đua thăng hạng khỏi B&Q First Division. Nhưng, với hơn một nửa trong số 9.200 cổ động viên lấp đầy các khán đài đứng vào ngày 7 tháng 3 năm 1989, ít ai biết rằng họ sẽ chứng kiến một trận đấu sau này trở thành một phần trong truyền thuyết của Falkirk. Các bàn thắng của Derek McWilliams, Paul Rutherford, Sammy McGivern và Stuart Burgess không cho đối thủ đáp trả đã kéo Pars trở lại mặt đất với một cú sốc lớn."[56]

Một trận đấu quan trọng giữa Falkirk và Dunfermline diễn ra vào tháng 4 năm 2009, khi hai đội gặp nhau ở bán kết Cúp bóng đá Scotland 2008–09 tại Hampden Park; Bairns thắng 2–0 trước hơn 17.000 cổ động viên để vào trận chung kết.[57]

Đối thủ truyền thống của câu lạc bộ là East Stirlingshire, một đội bóng cũng đặt trụ sở tại Falkirk. Hai đội thường xuyên đối đầu trong giai đoạn đầu tồn tại ở Stirlingshire Cup, cũng như tại giải quốc gia sau khi Falkirk được bầu vào Scottish Football League mùa giải 1902–03, tức hai mùa sau East Stirlingshire. Lần gần nhất hai câu lạc bộ gặp nhau trong một trận đấu chính thức thuộc giải quốc gia là vào tháng 4 năm 1982, khi East Stirlingshire thắng 3–0, thời điểm cả hai câu lạc bộ đều ở First Division.[58] Sau khi East Stirlingshire xuống hạng ở mùa giải đó, hai câu lạc bộ không còn thi đấu cùng hạng; Falkirk chủ yếu ở First Division, còn East Stirlingshire ở Third Division. Trong mùa giải 1999–00, hai câu lạc bộ được bốc thăm gặp nhau ở vòng Hai Cúp Liên đoàn Scotland, trận đấu Falkirk thắng 2–0 sau hiệp phụ, đây là trận đấu chính thức cuối cùng giữa hai câu lạc bộ nếu không tính Stirlingshire Cup.[58]

Đội hình hiện tại

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình một

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 2 tháng 2 năm 2026[59]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Scotland Nicky Hogarth
2 HV Scotland Keelan Adams
3 HV Scotland Leon McCann
5 HV Scotland Liam Henderson
6 HV Scotland Coll Donaldson (đội trưởng)
7 Scotland Brian Graham
8 TV Scotland Brad Spencer
9 Scotland Ross MacIver
11 TV Anh Ben Broggio (được mượn từ Aston Villa)
12 TM Scotland Jamie Sneddon
14 TV Scotland Finn Yeats
15 HV Scotland Lewis Neilson (được mượn từ Hearts)
16 Scotland Barney Stewart
17 TV Anh Henry Cartwright (được mượn từ Leicester City)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
18 Scotland Gary Oliver
19 TM Scotland Scott Bain
20 TV Scotland Connor Allan
21 TV Scotland Dylan Tait
22 Anh Kyrell Wilson (được mượn từ Swansea City)
23 TV Scotland Ethan Ross
24 Anh Ethan Williams (được mượn từ Manchester United)
27 Anh Ben Parkinson
28 HV Séc Filip Lissah (được mượn từ Swansea City)
29 TV Scotland Calvin Miller
30 Anh Louie Marsh (được mượn từ Sheffield United)
35 TM Scotland Joe Hastings
36 Scotland Kai Brown
42 HV Anh Sam Hart (được mượn từ Port Vale)

Cho mượn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
4 HV Scotland Tom Lang (được cho mượn tại Arbroath)
10 TV Scotland Aidan Nesbitt (được cho mượn tại Arbroath)
26 HV Scotland Sean Mackie (được cho mượn tại Ross County)
32 TV Scotland Rhys Walker (được cho mượn tại Cowdenbeath)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
33 TV Scotland Flynn McCafferty (được cho mượn tại East Stirlingshire)
34 TV Scotland Caelan McCrone (được cho mượn tại Berwick Rangers)
-- Ghana Alfredo Agyeman (được cho mượn tại St Johnstone)

Nhân sự câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]
Chức vụ[60]Tên
Huấn luyện viênJohn McGlynn
Trợ lý huấn luyện viênPaul Smith
Huấn luyện viên đội mộtStephen McGinn
Huấn luyện viên thủ mônRobbie Thomson
Trưởng bộ phận tuyển trạchAllan Fraser
Trưởng bộ phận phát triển trẻTony Begg
Trưởng bộ phận hiệu suất thể chấtBlair Doughty
Nhà vật lý trị liệuCammy McAndrew
Nhà khoa học thể thaoLewis Collison
Chuyên viên trị liệu thể thaoAlain Davidson
Trưởng bộ phận phân tíchMatthew Rowan
Chuyên viên phân tích hiệu suấtAndy Tannahill
Nhân viên phụ trách trang phụcChris McGill
Jack Cunningham

Huấn luyện viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên đầu tiên của câu lạc bộ là Willie Nicol, được bổ nhiệm vào năm 1905; trước đó, mọi công việc bổ nhiệm huấn luyện viên đều được giao cho thư ký câu lạc bộ. Nicol lần đầu được bổ nhiệm làm thư ký câu lạc bộ vào năm 1900, sau đó là thư ký kiêm huấn luyện viên, và cuối cùng là huấn luyện viên. Nicol là huấn luyện viên tại vị lâu nhất trong lịch sử Falkirk. Alex Totten, huấn luyện viên từ năm 1996 đến năm 2002, người dẫn dắt đội vào Chung kết Cúp bóng đá Scotland 1997, được bổ nhiệm làm đại sứ trọn đời của câu lạc bộ trước khi ông nghỉ hưu khỏi bóng đá vào năm 2021.

Danh sách này không bao gồm các huấn luyện viên tạm quyền hoặc những người chỉ dẫn dắt đội trong thời gian ngắn.

Chỉ tính các trận đấu chính thức

ẢnhTênQuốc tịchTừĐếnSố trậnThắngHòaThua% thắng[61]Danh hiệuGhi chú
Willie Nicol  Scotland tháng 7 năm 1905 tháng 2 năm 1924 &0000000000000732000000732&0000000000000285000000285&0000000000000187000000187&00000000000002600000002600&000000000000003892999938,93 1 Cúp bóng đá Scotland, 2 lần á quân Division One, 1 lần á quân Division Two [62]
David Reid  Scotland tháng 2 năm 1924 tháng 10 năm 1927 &0000000000000155000000155&000000000000006100000061&000000000000003700000037&0000000000000057000000570&000000000000003935000039,35 [63]
John Richardson  Scotland tháng 11 năm 1927 tháng 5 năm 1932 &0000000000000197000000197&000000000000007500000075&000000000000003500000035&0000000000000087000000870&000000000000003807000038,07 [64]
Willie Orr  Scotland tháng 8 năm 1932 tháng 3 năm 1935 &0000000000000115000000115&000000000000004200000042&000000000000001700000017&0000000000000056000000560&000000000000003652000036,52 [65]
Tully Craig  Scotland tháng 4 năm 1935 tháng 5 năm 1950 &0000000000000577000000577&0000000000000262000000262&0000000000000112000000112&00000000000002030000002030&000000000000004540999945,41 1 chức vô địch Division Two, 1 lần á quân Scottish League Cup [66]
Bob Shankly  Scotland tháng 8 năm 1950 tháng 12 năm 1956 &0000000000000257000000257&000000000000008800000088&000000000000005000000050&00000000000001190000001190&000000000000003424000034,24 1 lần á quân Division Two [67]
Reg Smith  Anh tháng 1 năm 1957 tháng 5 năm 1959 &0000000000000104000000104&000000000000003800000038&000000000000002300000023&0000000000000043000000430&000000000000003653999936,54 1 Cúp bóng đá Scotland [68]
Tommy Younger  Scotland tháng 8 năm 1959 tháng 3 năm 1960 &000000000000003900000039&000000000000001500000015&000000000000001000000010&0000000000000014000000140&000000000000003846000038,46 [69]
Alex McCrae  Scotland tháng 4 năm 1960 tháng 4 năm 1965 &0000000000000216000000216&000000000000007700000077&000000000000003600000036&00000000000001030000001030&000000000000003564999935,65 1 lần á quân Division Two [70]
Sammy Kean  Scotland tháng 7 năm 1965 tháng 12 năm 1966 &000000000000006100000061&000000000000002100000021&00000000000000070000007&0000000000000033000000330&000000000000003442999934,43 [71]
John Prentice  Scotland tháng 12 năm 1966 tháng 9 năm 1968 &000000000000007400000074&000000000000001800000018&000000000000001900000019&0000000000000037000000370&000000000000002432000024,32 [72]
Willie Cunningham  Bắc Ireland tháng 10 năm 1968 tháng 4 năm 1973 &0000000000000207000000207&000000000000008000000080&000000000000004700000047&0000000000000080000000800&000000000000003864999938,65 1 chức vô địch Division Two [73]
John Prentice  Scotland tháng 8 năm 1973 tháng 8 năm 1975 &000000000000009500000095&000000000000004000000040&000000000000001800000018&0000000000000037000000370&000000000000004210999942,11 1 chức vô địch Division Two [74]
George Miller  Scotland tháng 9 năm 1975 tháng 3 năm 1977 &000000000000006400000064&000000000000001900000019&000000000000001200000012&0000000000000033000000330&000000000000002969000029,69 [75]
Billy Little  Scotland tháng 4 năm 1977 tháng 5 năm 1979 &000000000000009100000091&000000000000003600000036&000000000000003100000031&0000000000000024000000240&000000000000003956000039,56 [76]
John Hagart  Scotland tháng 8 năm 1979 tháng 11 năm 1982 &0000000000000152000000152&000000000000005100000051&000000000000004000000040&0000000000000061000000610&000000000000003354999933,55 1 chức vô địch Second Division [77]
Alex Totten  Scotland tháng 11 năm 1982 tháng 11 năm 1983 &000000000000004100000041&000000000000002000000020&00000000000000070000007&0000000000000014000000140&000000000000004878000048,78 [78]
Gregor Abel  Scotland tháng 11 năm 1982 tháng 11 năm 1983 &000000000000001100000011&00000000000000030000003&00000000000000010000001&000000000000000700000070&000000000000002726999927,27 [79]
Billy Lamont  Scotland tháng 2 năm 1984 tháng 2 năm 1987 &0000000000000131000000131&000000000000004800000048&000000000000003000000030&0000000000000053000000530&000000000000003664000036,64 1 lần á quân First Division [80]
Dave Clarke  Scotland tháng 2 năm 1987 tháng 8 năm 1988 &000000000000006500000065&000000000000001200000012&000000000000001800000018&0000000000000035000000350&000000000000001846000018,46 [81]
Jim Duffy  Scotland tháng 9 năm 1988 tháng 10 năm 1989 &000000000000005300000053&000000000000002700000027&000000000000001100000011&0000000000000015000000150&000000000000005093999950,94 1 lần á quân First Division [82]
Billy Lamont  Scotland tháng 11 năm 1989 tháng 4 năm 1990 &000000000000002100000021&00000000000000090000009&00000000000000080000008&000000000000000400000040&000000000000004285999942,86 [83]
Jim Jefferies  Scotland tháng 8 năm 1990 tháng 8 năm 1995 &0000000000000237000000237&000000000000009800000098&000000000000006100000061&0000000000000078000000780&000000000000004135000041,35 2 chức vô địch First Division, 1 Scottish Challenge Cup [84]
John Lambie  Scotland tháng 8 năm 1995 tháng 3 năm 1996 &000000000000003200000032&00000000000000070000007&00000000000000050000005&0000000000000020000000200&000000000000002187999921,88 [85]
Eamonn Bannon  Scotland tháng 5 năm 1996 tháng 12 năm 1996 &000000000000002000000020&00000000000000090000009&00000000000000030000003&000000000000000800000080&000000000000004500000045,00 [86]
Alex Totten  Scotland tháng 12 năm 1996 tháng 4 năm 2002 &0000000000000240000000240&0000000000000114000000114&000000000000005300000053&0000000000000073000000730&000000000000004750000047,50 1 lần á quân Cúp bóng đá Scotland, 1 Scottish Challenge Cup, 2 lần á quân First Division [87]
Tập tin:Ian McCall (football manager).jpg Ian McCall  Scotland tháng 5 năm 2002 tháng 1 năm 2003 &000000000000002700000027&000000000000001800000018&00000000000000060000006&000000000000000300000030&000000000000006667000066,67 [88]
Owen Coyle
John Hughes
 Ireland
 Scotland
tháng 1 năm 2003 tháng 5 năm 2003 &000000000000001900000019&000000000000001200000012&00000000000000030000003&000000000000000400000040&000000000000006315999963,16 1 chức vô địch First Division [89]
John Hughes  Scotland tháng 5 năm 2003 tháng 6 năm 2009 &0000000000000263000000263&0000000000000105000000105&000000000000005700000057&00000000000001010000001010&000000000000003992000039,92 1 chức vô địch First Division, 1 Scottish Challenge Cup, 1 lần á quân Cúp bóng đá Scotland [90]
Eddie May  Scotland tháng 6 năm 2009 tháng 2 năm 2010 &000000000000002700000027&00000000000000040000004&00000000000000080000008&0000000000000015000000150&000000000000001481000014,81 [91]
Steven Pressley  Scotland tháng 2 năm 2010 tháng 3 năm 2013 &0000000000000105000000105&000000000000004400000044&000000000000002800000028&0000000000000033000000330&000000000000004189999941,90 1 Scottish Challenge Cup [92]
Gary Holt  Scotland tháng 4 năm 2013 tháng 6 năm 2014 &000000000000005300000053&000000000000002600000026&000000000000001100000011&0000000000000016000000160&000000000000004906000049,06 [93]
Peter Houston  Scotland tháng 6 năm 2014 tháng 9 năm 2017 &0000000000000153000000153&000000000000007100000071&000000000000004200000042&0000000000000040000000400&000000000000004640999946,41 [94]
Paul Hartley  Scotland tháng 10 năm 2017 tháng 8 năm 2018 &000000000000004100000041&000000000000001700000017&00000000000000080000008&0000000000000016000000160&000000000000004146000041,46 [95]
Ray McKinnon  Scotland tháng 8 năm 2018 tháng 11 năm 2019 &000000000000005500000055&000000000000001700000017&000000000000001800000018&0000000000000020000000200&000000000000003091000030,91 [96]
David McCrackenLee Miller  Scotland tháng 11 năm 2019 tháng 4 năm 2021 &000000000000004300000043&000000000000002300000023&000000000000001000000010&0000000000000010000000100&000000000000005349000053,49 [97]
Paul Sheerin  Scotland tháng 5 năm 2021 tháng 12 năm 2021 &000000000000002300000023&00000000000000080000008&00000000000000040000004&0000000000000011000000110&000000000000003478000034,78 [98]
Martin Rennie  Scotland tháng 12 năm 2021 tháng 5 năm 2022 &000000000000002000000020&00000000000000060000006&00000000000000040000004&0000000000000010000000100&000000000000003000000030,00 [99]

^1. Tỉ lệ thắng được làm tròn đến hai chữ số thập phân.

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Giải quốc gia

Cúp

†Mùa giải Scottish League One 2019–20 được tuyên bố kết thúc sớm sau 28 trận đã đấu do bùng phát COVID-19.[37]

Kỷ lục câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đáng chú ý

[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích châu Âu

[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ khi Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) được thành lập vào năm 1960, Falkirk đã một lần giành quyền tham dự một giải đấu cấp câu lạc bộ của UEFA.[107] Năm 2009, Falkirk vào chung kết Cúp bóng đá Scotland, nơi đội thua Rangers. Đội vô địch Cúp bóng đá Scotland thông thường sẽ giành quyền tham dự UEFA Europa League, nhưng do Rangers đã giành quyền dự UEFA Champions League thông qua thứ hạng tại SPL, suất này được chuyển cho Falkirk với tư cách á quân. Falkirk bị FC Vaduz của Liechtenstein loại ở vòng loại thứ hai sau một cặp đấu hai lượt.[108] Bàn thắng duy nhất của câu lạc bộ tại châu Âu được ghi bởi Ryan Flynn trong chiến thắng 1–0 trên sân nhà ở lượt đi trước Vaduz.

Mùa giải Giải đấu Vòng Đối thủ Sân nhà Sân khách Tổng tỷ số
2009–10 UEFA Europa League Vòng loại thứ hai Liechtenstein FC Vaduz 1–0 0–2 1–2 (hiệp phụ)

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 "Falkirk Football Club". Scottish Professional Football League. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2013.
  2. "Falkirk FC Team Honours". Scottish Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2013.
  3. 1 2 Falkirk Football Club – Team Profile & History Lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2012 tại Wayback Machine, Giải bóng đá Ngoại hạng Scotland. Retrieved 17 June 2012.
  4. Why are Falkirk people called 'bairns'?, Falkirk Local History Society. 2005. Retrieved 20 June 2012.
  5. A Brief History – Part One – Origins, bettermeddle.org.uk. Retrieved 20 June 2012.
  6. Club directory Lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2013 tại Wayback Machine, Scottish Football Historical Archive. Retrieved 20 June 2012.
  7. Fans Zone – 1876 Club, Falkirk FC, 16 August 2007. Retrieved 20 June 2012.
  8. A Brief History – Part Two – 19th Century Bairns, bettermeddle.org.uk. Retrieved 20 June 2012.
  9. Stirlingshire Cup Lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2013 tại Wayback Machine, Scottish Football Historical Archive. Retrieved 20 June 2012.
  10. Stirlingshire Cup – 1883/84, Falkirk FC Historian. 14 February 2011. Retrieved 20 June 2012.
  11. Historical Walks, Falkirk Local History Society. 2005. Retrieved 20 June 2012.
  12. 1 2 3 A Brief History – Part Three – Early Success, bettermeddle.org.uk. Retrieved 20 June 2012.
  13. "On this day – 2 January". West Ham United F.C. ngày 28 tháng 2 năm 2013. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 2 2012.
  14. The day Falkirk broke world transfer record The Scotsman, 14 June 2009 (Follows after "The £100000m odd couple" article)
  15. Redding Pit Disaster Fund Tournament 1923/24, Falkirk Football Historian, 21 May 2015
  16. Throwback Thursday: Fundraising - 1923 Style, Falkirk FC, 18 June 2020
  17. Falkirk : History 1918 to 1945 Lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2010 tại Wayback Machine, statto.com. Retrieved 20 June 2012.
  18. "The Falkirk Herald". Falkirkherald.co.uk. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2021.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  19. "John White". Scottishfootballhalloffame.co.uk. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2021.
  20. A Brief History – Part Seven – Underachieving Bairns, bettermeddle.org.uk. Retrieved 20 June 2012.
  21. Scotland – List of Cup Finals, Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. 31 May 2012. Retrieved 29 June 2012.
  22. Scottish FA Cup – 1996/97, soccerbase.com. Retrieved 29 June 2012.
  23. A Brief History – Part Eight – Revival, bettermeddle.org.uk. Retrieved 29 June 2012.
  24. Falkirk miss out on top flight, uefa.com. 9 February 2011. Retrieved 29 June 2012.
  25. 1 2 A Brief History – Part Nine – Top Flight Bairns, bettermeddle.org.uk. Retrieved 29 June 2012.
  26. "Falkirk 3 – 2 Rangers". BBC News. ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  27. "Dundee Utd 2 – 2 Falkirk (4–5 pens)". BBC News. ngày 25 tháng 10 năm 2011.
  28. "Houston targets play-offs for Falkirk". BBC Sport.
  29. "Premiership: Hamilton Accies 1 - 0 Falkirk | 2014-05-18". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
  30. "Premiership: Falkirk 3 - 2 Hibernian | 2016-05-13". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
  31. "Premiership: Kilmarnock 4 - 0 Falkirk | 2016-05-22". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
  32. "Premiership: Falkirk 1 - 2 Dundee United | 2017-05-19". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
  33. "Houston exits as Falkirk manager". BBC Sport.
  34. "New Falkirk boss Hartley aims high". BBC Sport.
  35. "Championship: Dumbarton 0 - 0 Falkirk | 2017-12-23". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
  36. "Championship: Morton 0 - 1 Falkirk | 2018-01-13". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
  37. 1 2 "SPFL Resolution Approved Season 2019/20". SPFL.co.uk. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2020.
  38. Goldthorp, Craig (ngày 4 tháng 5 năm 2021). "Airdrieonians 2-0 Falkirk: Woe for Bairns as defeat sees them miss out on Championship play-off semi-finals". Falkirk Herald.
  39. "Scottish Championship play-off semi-finals: Falkirk 0-1 Airdrieonians (agg 2-7)". ngày 13 tháng 5 năm 2023 qua www.bbc.co.uk.
  40. "Falkirk's unbeaten season 'top' of McGlynn's career". BBC Sport. ngày 4 tháng 5 năm 2024.
  41. "Falkirk's astonishing 43-match unbeaten league runs ends after 1-0 defeat at Raith Rovers".
  42. Falkirk – Historical Football Kits – Kit History, historicalkits.co.uk. Retrieved 14 June 2012.
  43. 1 2 3 4 What's The Ground Like? Lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2009 tại Wayback Machine, Scottish Football Grounds Guide. 1 January 2012. Retrieved 12 January 2012.
  44. Falkirk Grounds – Part One – Hope Street, bettermeddle.org.uk. Retrieved 17 June 2012.
  45. Falkirk Grounds – Part Two – Randyford Park, bettermeddle.org.uk. Retrieved 17 June 2012.
  46. Lost Football Grounds of Falkirk District – Blinkbonny Park, Falkirk-football-history.co.uk
  47. "Falkirk FC – Historical Football Kits". Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2013.
  48. Scottish FA Cup 1952–1953 : Results Lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2015 tại Wayback Machine, statto.com. Retrieved 15 June 2012.
  49. "First Division Champions (Promotion)". They WorkForYou.com. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2013.
  50. 50 Fascinating Falkirk Facts Lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2012 tại Wayback Machine, stforum.co.uk. Retrieved 15 June 2012.
  51. 1 2 News Lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2014 tại Wayback Machine, The Sân vận động Falkirk. 25 July 2004. Retrieved 11 January 2012.
  52. Work on third stand gets underway, BBC News. 3 December 2008. Retrieved 12 January 2012.
  53. Club debut for new stadium stand, BBC News. 30 July 2009. Retrieved 12 January 2012
  54. Dunfermline v Falkirk: Preview, ESPN Soccernet. 15 October 2005. Retrieved 26 June 2012.
  55. "Falkirk vs Dunfermline Athletic Complete Head to Head Statistics - Footymad". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2013.
  56. "Players can become heroes - Falkirk Herald". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018.
  57. "Falkirk 2–0 Dunfermline". BBC Sport. ngày 26 tháng 4 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2018.
  58. 1 2 Falkirk : Head-to-Head vs East Stirlingshire Lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2010 tại Wayback Machine, statto.com. Retrieved 26 June 2012.
  59. "Players". Falkirk F.C. ngày 18 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2024.
  60. "Staff". Falkirk FC. ngày 3 tháng 1 năm 2022.
  61. Tỉ lệ thắng được làm tròn đến hai chữ số thập phân
  62. Willie Nicol - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  63. David Reid - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  64. John Richardson - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  65. Willie Orr - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  66. Tom Craig (Tully) - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  67. Bob Shankly - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  68. Reggie Smith - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  69. Tommy Younger - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  70. Alex McCrae - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  71. Sammy Kean - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  72. John Prentice - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  73. Willie Cunningham - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  74. John Prentice - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  75. George Miller - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  76. Billy Little - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  77. John Hagart - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  78. Alex Totten - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  79. Gregor Abel - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  80. Billy Lamont - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  81. Dave Clarke - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  82. Jim Duffy - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  83. Billy Lamont - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  84. Jim Jefferies - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  85. John Lambie - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  86. Eamonn Bannon - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  87. Alex Totten - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  88. Ian McCall - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  89. Owen Coyle - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  90. John Hughes (Yogi) - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  91. Eddie May - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  92. Steven Pressley (Elvis) - Managerial Period & Record, bettermeddle.org.uk. Retrieved 28 June 2012.
  93. "Gary Holt | Latest Betting Odds | Soccer Base". Soccerbase.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2021.
  94. "Peter Houston | Latest Betting Odds | Soccer Base". Soccerbase.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2021.
  95. "Paul Hartley | Latest Betting Odds | Soccer Base". Soccerbase.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2021.
  96. "Ray McKinnon | Latest Betting Odds | Soccer Base". Soccerbase.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2021.
  97. "David McCracken; Soccer Base". Soccerbase.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2021.
  98. "Paul Sheerin; Soccer Base". Soccerbase.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2021.
  99. "Martin Rennie; Soccer Base". Soccerbase.com. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2022.
  100. 1 2 3 4 Falkirk : Records Lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2010 tại Wayback Machine, statto.com. Retrieved 17 June 2012.
  101. Falkirk FC Players – International Appearances , Falkirk FC Historian. Retrieved 17 June 2012.
  102. 1 2 Falkirk FC – Most Senior Goals in a Season, Falkirk FC Historian. 27 May 2010. Retrieved 17 June 2012.
  103. 1 2 "Falkirk FC Historian: Kenneth Dawson". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2013.
  104. Falkirk FC 100 Club – Bobby Keyes Lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2011 tại Wayback Machine, Falkirk FC Historian. 6 October 2010. Retrieved 16 June 2012.
  105. 1 2 3 Thomas Ferguson = Falkirk FC Lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2011 tại Wayback Machine, Falkirk FC Historian. 12 October 2010. Retrieved 16 June 2012.
  106. Ferguson, Ed (ngày 13 tháng 12 năm 2016). "When Falkirk broke the world transfer record". Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2017.
  107. Falkirk – History, uefa.com. Retrieved 28 June 2012.
  108. UEFA Europa League 2009/10 – Matches, uefa.com. 13 August 2011. Retrieved 28 June 2012.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Falkirk F.C.