Fernando II của Aragon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ferdinand II của Aragon
Ferdinand the Catholic
Fernando II de Aragón (Museo del Prado).jpg
Quốc vương xứ Vương quốc Aragon, Sicilia, Naples, Valencia, Sardegna, và Navarre
Tại vị20 tháng 1, năm 1479
- 23 tháng 1, năm 1516
(&0000000000000037.00000037 năm, &0000000000000003.0000003 ngày)
Tiền nhiệmJohn II
Kế nhiệmJuanaCarlos I
Quốc vương xứ CastillaLéon
Tại vị15 tháng 1, năm 1475 - 26 tháng 11, năm 1504
(&0000000000000029.00000029 năm, &0000000000000349.000000349 ngày)
Tiền nhiệmIsabella I
Đồng Quốc vươngIsabella I
Kế nhiệmJoannaPhilip I
Thông tin chung
Phối ngẫuIsabella I của Castilla
Germaine xứ Foix
Hậu duệIsabella, Vương hậu Bồ Đào Nha
Joan, Vương công Asturias
Joanna, Nữ vương Castile và Aragon
Maria, Vương hậu Bồ Đào Nha
Catherine, Vương hậu nước Anh
Hoàng tộcNhà Trastámara
Thân phụJohn II của Aragon
Thân mẫuJuana Enríquez
Sinh(1452-03-10)10 tháng 3 năm 1452
Sos del Rey Católico
Mất23 tháng 1 năm 1516(1516-01-23) (63 tuổi)
Madrigalejo, Extremadura
An tángCapilla Real, Granada, Tây Ban Nha
Chữ ký của Ferdinand II của Aragon

Ferdinand II của Aragon (tiếng Aragon: Ferrando II, tiếng Tây Ban Nha: Fernando II, tiếng Catalunya: Ferran II; 10 tháng 3 năm 1452 - 23 tháng 1 năm 1516), còn gọi là Ferdinand the Catholic, là Quốc vương của Vương quốc Aragon, Sicilia, Naples, Valencia, Sardegna, và Navarre, đồng thời ông còn là Bá tước của Bá tước của Bá quốc Barcelona từ năm 1479 đến khi qua đời. Sau khi cưới Nữ vương của Vương quốc Castilla , Isabella I của Castilla, ông cũng trở thành Đồng quân vương, nhận Vương hiệu Ferdinand V của Castilla, đây là hình thức de jure uxoris, tức người chồng có quyền hạn trị vì lãnh thổ khi người vợ là người thừa kế hợp pháp. Sau khi Isabella qua đời, còn gián tiếp trị vì từ năm 1508 tới khi qua đời thông qua việc là nhiếp chính cho người con gái Juanna, Bà chúa Điên.

Vì những chiến công bảo vệ Công giáo trước Hồi giáo, điển hình là chiến thắng vang dội trước Vương quốc Hồi giáo Granada, Ferdinand và Isabella đã được Giáo hoàng Alexanđê VI phong làm Quân chủ Công giáo, the Catholic, và hai vợ chồng trở thành Song vương có danh tiếng nhất thế giới Công giáo khi ấy. Năm 1974, hai vợ chồng được phong tước hiệu Tôi tớ Chúa (Servant of God) bởi Giáo hội Công giáo Rôma, nhưng vẫn chưa được phong làm Á thánh, theo yêu cầu của Tín ngưỡng tôn giáo Jesus.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Ferdinand những năm 1485.

Kế vị Aragon[sửa | sửa mã nguồn]

Giành quyền ở Castilla[sửa | sửa mã nguồn]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tranh "La Virgen de los Reyes Católicos", thể hiện Song vương Ferdinand và Isabella cùng hậu duệ của hai người.

Cuộc hôn nhân của Ferdinand và Isabella có 5 người con, và từ 5 người con này mà hai người có rất nhiều hậu duệ. Theo đó, Ferdinand và Isabella liên tiếp sắp xếp các cuộc hôn nhân cho những người con này, đều là Quốc vương của một Vương quốc hoặc các nữ quý tộc có dòng dõi lớn. Trong một thời gian, rất nhiều hậu duệ của họ liên tiếp là Hoàng đế và Hoàng hậu, rồi Quốc vương và Vương hậu của rất nhiều quốc gia lớn nhỏ khác khắp Châu Âu, đặc biệt là thế hệ đời cháu đã khiến Ferdinand và Isabella trở thành cặp vợ chồng có tầm ảnh hưởng hậu duệ khắp Châu Âu đầu tiên trong lịch sử.

Điểm đặc biệt nhất, Ferdinand và Isabella đến tận thời điểm hiện tại vẫn là tổ tiên của rất nhiều gia tộc vương triều Châu Âu khác, đáng kể nhất có Felipe VI của Tây Ban Nha, Elizabeth II của Khối thịnh vượng chung, Albert II của Bỉ, Margrethe II của Đan Mạch, Harald V của Na Uy, Carl XVI Gustaf của Thụy ĐiểnWillem-Alexander của Hà Lan. Ngoài ra, nếu kể đến các Thân vương quốc, thì còn có Albert II, Thân vương MonacoHans-Adam II của Liechtenstein.

Tên Chân dung Ngày sinh và ngày mất Ghi chú
Đời con
Isabella, Vương hậu Bồ Đào Nha Infanta Isabel de Trastámara.jpg 2 tháng 10 năm 1470
- 23 tháng 8 năm 1498
(27 tuổi)
Kết hôn với Afonso, Thân vương Bồ Đào Nha, sau tái hôn với Manuel I của Bồ Đào Nha.

Sau cái chết của em trai, John xứ Asturias, bà với tư cách là người con lớn nhất được cha mẹ mình chọn làm Trữ quân, nhưng sau đó bà cũng mất ngay sau em trai John. Sinh một con trai, Miguel da Paz, Thân vương Portugal.

John, Vương công xứ Asturias Ávila. Real Monasterio de Santo Tomás. 4 (cropped).JPG 30 tháng 6 năm 1478
- 4 tháng 10 năm 1497
(19 tuổi)
Con trai duy nhất của Ferdinand và Isabella. Kết hôn với Margaret của Áo, con gái Hoàng đế Maximilian I của đế quốc La Mã Thần thánh, sau khi John qua đời, Margaret trở thành Nữ Thống chế của chính quyền Hà Lan thuộc Áo.

Không có hậu duệ. Margaret sinh ra một bé gái chết non sau khi John qua đời.

Juanna, Bà chúa Điên Meister der Magdalenenlegende 002.jpg 6 tháng 11 năm 1479
– 12 tháng 4 năm 1555
(75 tuổi)
Trở thành Trữ quân sau khi chị cả Isabella qua đời. Kết hôn với Philip el Hermoso, con trai của Hoàng đế Maximilian I của đế quốc La Mã Thần thánh. Philip trở thành Quốc vương của Castilla sau khi hợp pháp hóa quyền vị với tư cách là chồng của Nữ vương Juanna.

Sinh ra 6 người con, trong đó có Hoàng đế Karl V của đế quốc La Mã Thần thánh.

Maria xứ Aragon, Vương hậu Bồ Đào Nha María de Aragón.jpg 29 tháng 6 năm 1482
- 7 tháng 3 năm 1517
(34 tuổi)
Kết hôn với Manuel I của Bồ Đào Nha, sau khi chị cả Isabella qua đời. Ban đầu, bà được định hôn ước với Quốc vương James V của Scotland, nhưng sau cái chết của Isabella thì bà trở thành vợ kế của Manuel để giữ liên minh.

Sinh ra 10 người con, trong đó có Quốc vương John III của Bồ Đào Nha, người thừa kế; và Isabella của Bồ Đào Nha - sau trở thành Hoàng hậu của Thánh chế La Mã, vợ của Hoàng đế Karl V.

Catherine xứ Aragon, Vương hậu nước Anh Catalina de Aragón, por un artista anónimo.jpg 16 tháng 12 năm 1485
- 7 tháng 1, 1536
(50 tuổi)
Kết hôn với Arthur, Thân vương xứ Wales, sau tái hôn với Henry VIII của Anh.

Vì muốn ly hôn với bà để cưới Anne Boleyn, Vua Henry VIII đã ly khai khỏi Giáo hội Công giáo La Mã, thành lập nên Giáo hội Anh. Bà qua đời với tư cách là góa phụ của Thân vương Arthur.

Sinh ra một người con gái, Mary I của Anh - sau này cưới Philip II của Tây Ban Nha, con trai Hoàng đế Karl V của Thánh chế La Mã.

Đời cháu
Miguel da Paz, Thân vương Bồ Đào Nha 23 tháng 8 năm 1498
- 19 tháng 7 năm 1500
(1 tuổi, 11 tháng)
Con trai duy nhất của Isabella, Vương hậu Bồ Đào Nha.
Eleanor của Áo Joos van Cleve 003.jpg 15 tháng 11 năm 1498
- 25 tháng 2 năm 1558
(59 tuổi)
Con gái đầu lòng của Juanna, Bà chúa Điên. Kết hôn với Quốc vương Manuel I của Bồ Đào Nha, sau tái hôn với Francis I của Pháp. Cuộc hôn nhân đầu của bà cho ra hậu duệ.
Karl V của đế quốc La Mã Thần thánh Charles I of Spain.jpg 24 tháng 2 năm 1500
– 21 tháng 9 năm 1558
(58 tuổi)
Con trai cả của Juanna, Bà chúa Điên và là người con thứ hai trong 6 người con. Kế thừa vị trí Hoàng đế của Thánh chế La Mã từ ông nội, Hoàng đế Maximiliam. Là vị Hoàng đế trứ danh, quân chủ quyền lực nhất Châu Âu đương thời.

Kết hôn với Isabella của Bồ Đào Nha - em họ bên họ ngoại, có hậu duệ là Philip II của Tây Ban Nha.

Isabella, Vương hậu của Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển Isabella of Spain Denmark.jpg 18 tháng 7 năm 1501
- 19 tháng 1 năm 1526
(24 tuổi)
Người con thứ ba của Juanna, Bà chúa Điên và là con gái thứ 2 trong 6 người con. Kết hôn với Quốc vương Christian II của Đan Mạch. Có hậu duệ.
Ferdinand I của đế quốc La Mã Thần thánh FerdinandIemperor.JPG 10 tháng 3 năm 1503
- 25 tháng 7 năm 1564
(61 tuổi)
Con trai thứ hai của Juanna, Bà chúa Điên và là người con thứ 4 trong số 6 người con. Một nhà quân sự lỗi lạc và hết mực trung thành dưới triều anh trai Karl V, và sau đó ông được anh trai chỉ định kế thừa vị trí Hoàng đế của Thánh chế La Mã.

Kết hôn với Anne của Bohemia và Hungary, có hậu duệ, bao gồm Hoàng đế Maximilian II của đế quốc La Mã Thần thánh.

Mary của Áo, Vương hậu Hungary Mary (1505–1558), Queen of Hungary.jpg 15 tháng 9 năm 1505
- 18 tháng 10 năm 1558
(53 tuổi)
Con gái thứ 3 của Juanna, Bà chúa Điên và là người con thứ 5 trong số 6 người con. Kết hôn với Quốc vương Louis II của Hungary, không có hậu duệ.

Sau khi Vua Louis II tử trận trong cuộc chiến với Đế quốc Ottoman, Mary trở thành nhiếp chính Hungary, về sau lại trở thành Nữ Thống chế của Hà Lan thuộc Áo.

Catherine của Áo, Vương hậu Bồ Đào Nha Infanta Caterina of Spain.jpg 14 tháng 1 năm 1507
- 12 tháng 2 năm 1578
(71 tuổi)
Con gái út của Juanna, Bà chúa điên. Khác với 5 người anh chị khác, Catherine bị giam cùng mẹ mình tại Tordesillas, mãi cho đến khi quá tuổi kết hôn, bà mới được anh trai là Hoàng đế của Thánh chế La Mã, Karl V, chỉ định làm vợ của người em họ là John III của Bồ Đào Nha. Có hậu duệ.
John III của Bồ Đào Nha D. João III - Cristóvão Lopes (attrib).png 7 tháng 6 năm 1502
- 11 tháng 6 năm 1557
(55 tuổi)
Con trai của Maria xứ Aragon, người con gái áp út của Ferdinand the Catholic. Ông cưới chị họ là Catherine, sinh ra hậu duệ, nhưng cả hai đều qua đời trước John. Kế vị ngai vua là Sebastian của Bồ Đào Nha, cháu nội của Vua John.
Isabella của Bồ Đào Nha La emperatriz Isabel de Portugal, por Tiziano.jpg 24 tháng 10 năm 1503
– 1 tháng 5 năm 1539
(35 tuổi)
Con gái của Maria xứ Aragon, người con gái áp út của Ferdinand the Catholic. Một trong những người phụ nữ đẹp nhất Châu Âu, và được đánh giá là rất giống bà ngoại, Isabella the Catholic vì sự quyết đoán cùng tài năng chính trị. Sau khi liên tiếp bị khước từ, bà cưới người anh họ là Karl V, Hoàng đế của Thánh chế La Mã.

Cuộc hôn nhân này có 3 hậu duệ, trong đó có Philip II của Tây Ban Nha.

Infanta Beatriz, Công tước phu nhân xứ Savoy Beatrice of Portugal Savoy.JPG 31 tháng 12 năm 1504
- 8 tháng 1 năm 1538
(33 tuổi)
Con gái của Maria xứ Aragon, người con gái áp út của Ferdinand the Catholic. Kết hôn với Charles III, Công tước xứ Savoy và sinh ra hậu duệ.
Infante Luís, Công tước xứ Beja Príncipe D. Luís, duque de beja.jpg 3 tháng 3 năm 1506
- 27 tháng 11 năm 1555
(49 tuổi)
Con trai của Maria xứ Aragon, người con gái áp út của Ferdinand the Catholic. Có hậu duệ bất hợp pháp với một nữ tu tên Yolanda Gomes.
Infante Fernando, Công tước xứ Guarda và Trancoso Fernando - Guarda & Trancoso.jpg 5 tháng 6 năm 1507
- 7 tháng 11 năm 1534
(27 tuổi)
Con trai của Maria xứ Aragon, người con gái áp út của Ferdinand the Catholic. Kết hôn với Guiomar Coutinho, một nữ quý tộc giàu có người Bồ Đào Nha, thừa kế độc lập tước vị Bá tước xứ Marialva và Loulé từ gia đình. Có hậu duệ.
Infante Afonso, Hồng y Bồ Đào Nha Cardeal Infante D. Afonso -.jpg 23 tháng 4 năm 1509
- 21 tháng 4 năm 1540
(30 tuổi)
Con trai của Maria xứ Aragon, người con gái áp út của Ferdinand the Catholic. Trở thành Hồng y của Bồ Đào Nha, không kết hôn, không hậu duệ.
Henry, Quốc vương Bồ Đào Nha 17- Rei D. Henrique - O Casto.jpg 31 tháng 1 năm 1512
- 31 tháng 1 năm 1580
(68 tuổi)
Con trai áp út của Maria xứ Aragon, người con gái áp út của Ferdinand the Catholic. Ông trở thành Hồng y, sau rồi nhiếp chính và Quốc vương của Bồ Đào Nha sau cái chết của người cháu, Sebastian của Bồ Đào Nha.

Do trở thành Hồng y từ trước, Henry không kết hôn và không có hậu duệ.

Infante Edward, Công tước xứ Guimarães thứ tư Duarte de Aviz.jpg 7 tháng 10 năm 1515
- 20 tháng 9 năm 1540
(24 tuổi)
Con trai út của Maria xứ Aragon, người con gái áp út của Ferdinand the Catholic. Kết hôn với Isabel xứ Braganza, người kế thừa Công quốc Guimarães từ gia tộc, do đó khiến Edward có được tước vị Công tước. Cuộc hôn nhân của họ có hậu duệ.
Mary I của Anh Marie Tudor.jpg 18 tháng 2 năm 1516
– 17 tháng 11 năm 1558
(42 tuổi)
Con gái duy nhất của Catherine xứ Aragon. Sau khi cha mẹ ly hôn, Mary trở thành con hoang ngoài giá thú, nhưng sau đó được khôi phục quyền thừa kế bởi đạo luật được ban hành bởi Henry VIII. Trở thành Nữ vương đầu tiên của đảo Anh, sau khi em trai khác mẹ là Edward VI của Anh qua đời.

Kết hôn với Philip II của Tây Ban Nha - người cháu họ. Không hậu duệ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Palos, Joan-Lluís (28 March 2019). "To seize power in Spain, Queen Isabella had to play it smart: Bold, strategic, and steady, Isabella of Castile navigated an unlikely rise to the throne and ushered in a golden age for Spain". National Geographic History Magazine. Retrieved 20 April 2019.]
  • Boruchoff, David A. Isabel la Católica, Queen of Castile: Critical Essays. New York: Palgrave Macmillan, 2003.
  • Diffie, Bailey W. and Winius, George D. (1977) Foundations of the Portuguese Empire, 1415–1580, Volume 1, University of Minnesota Press.
  • Gerli, Edmondo Michael (1992) Medieval Iberia: An Encyclopedia, Taylor & Francis.
  • Hunt, Joceyln (2001) Spain, 1474–1598. Routledge, 1st Ed.
  • Kamen, Henry. The Spanish Inquisition: a historical revision (Yale University Press, 2014)
  • Liss, Peggy K. (1992) Isabel the Queen. New York: Oxford University Press;
  • Lunenfeld, Marvin (1970) The council of the Santa Hermandad: a study of the pacification forces of Ferdinand and Isabella", University of Miami Press. ISBN 978-0870241437
  • Miller, Townsend Miller (1963) The Castles and the Crown: Spain 1451–1555. New York: Coward-McCann
  • Roth, Norman (1995) Conversos, Inquisition, and the Expulsion of the Jews from Spain. (Madison: The University of Wisconsin Press)
  • Stuart, Nancy Rubin. Isabella of Castile: the First Renaissance Queen (New York: St. Martin's Press, 1991)
  • Weissberger, Barbara F. Queen Isabel I of Castile: Power, Patronage, Persona (2008)
  • Weissberger, Barbara F. Isabel Rules: Constructing Queenship, Wielding Power (2003)


Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]