Flumazenil

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Flumazenil
Flumazenil.svg
Flumazenil ball-and-stick model.png
Dữ liệu lâm sàng
Tên thương mạiAnexate, Lanexat, Mazicon, Romazicon
Đồng nghĩaethyl 8-fluoro- 5,6-dihydro- 5-methyl- 6-oxo- 4H- imidazo [1,5-a] [1,4] benzodiazepine- 3-carboxylate
AHFS/Drugs.comChuyên khảo
Danh mục cho thai kỳ
  • AU: B3
  • US: C (Rủi ro không bị loại trừ)
Dược đồ sử dụngIV
Mã ATC code
Tình trạng pháp lý
Tình trạng pháp lý
  • AU: S4 (Kê đơn)
  • CA: ℞-only
  • UK: POM (chỉ bán theo đơn)
  • US: ℞-only
  • Nói chung: ℞ (Thuốc kê đơn)
Dữ liệu dược động học
Chuyển hóa dược phẩmHepatic
Chu kỳ bán rã sinh học7-15 min (initial)
20-30 min (brain)
40-80 min (terminal)
Bài tiếtUrine 90-95%
Feces 5-10%
Các định danh
Số đăng ký CAS
PubChem CID
IUPHAR/BPS
DrugBank
ChemSpider
Định danh thành phần duy nhất
KEGG
ChEBI
ChEMBL
ECHA InfoCard100.128.069
Dữ liệu hóa lý
Công thức hóa họcC15H14FN3O3
Khối lượng phân tử303.288 g/mol
Mẫu 3D (Jmol)
  (kiểm chứng)
Một lọ dung dịch flumazenil để tiêm

Flumazenil (còn được gọi là flumazepil, tên mã Ro 15-1788) là một thuốc đối kháng chọn lọc GABA A [1] tiêm qua đường tiêm hoặc tiêm nội. Về mặt điều trị, nó hoạt động như một chất đối kháng và thuốc giải độc đối với các thuốc nhóm benzodiazepin (đặc biệt trong trường hợp quá liều), thông qua ức chế cạnh tranh.

Nó được đặc trưng lần đầu tiên vào năm 1981,[2] và được đưa ra thị trường lần đầu tiên vào năm 1987 bởi Hoffmann-La Roche dưới tên thương mại Anexate. Tuy nhiên, nó đã không nhận được sự chấp thuận của FDA cho đến ngày 20 tháng 12 năm 1991. Nhà phát triển đã mất quyền sáng chế độc quyền vào năm 2008; vì vậy hiện nay, các công thức chung của thuốc này đã có sẵn. Flumazenil tiêm tĩnh mạch chủ yếu được sử dụng để điều trị quá liều benzodiazepine và giúp gây mê ngược. Quản lý flumazenil bằng viên ngậm dưới lưỡi và kem bôi cũng đã được thử nghiệm.[3][4]

Sử dụng trong y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Flumazenil mang lại lợi ích cho những bệnh nhân trở nên buồn ngủ quá mức sau khi sử dụng các thuốc benzodiazepin cho các thủ tục chẩn đoán hoặc điều trị.[5]

Thuốc đã được sử dụng như một thuốc giải độc trong điều trị quá liều benzodiazepine.[5] Nó đảo ngược tác dụng của các loại thuốc benzodiazepin bằng cách ức chế cạnh tranh tại GABAA vị trí gắn của các thụ thể benzodiazepine, hiện diện qua khoảng 70% cơ thể. Có nhiều biến chứng phải được xem xét khi sử dụng trong môi trường chăm sóc cấp tính.[5] Chúng bao gồm ngưỡng động kinh thấp hơn, kích động và lo lắng. Thời gian bán hủy ngắn của Flumazenil cần nhiều liều. Do các nguy cơ tiềm ẩn của các triệu chứng cai và thời gian bán hủy ngắn của thuốc, bệnh nhân phải được theo dõi cẩn thận để ngăn ngừa tái phát các triệu chứng quá liều hoặc tác dụng phụ bất lợi.

Flumazenil đôi khi cũng được sử dụng sau khi phẫu thuật để đảo ngược tác dụng an thần của các loại thuốc benzodiazepin. Điều này tương tự như ứng dụng của naloxone để đảo ngược tác dụng của opiates và opioids sau phẫu thuật. Quản lý thuốc đòi hỏi phải có sự theo dõi cẩn thận của bác sĩ gây mê do tác dụng phụ tiềm ẩn và rủi ro nghiêm trọng liên quan đến việc sử dụng quá mức. Tương tự như vậy, theo dõi sau phẫu thuật cũng là cần thiết vì flumazenil có thể che dấu sự chuyển hóa rõ ràng ("hao mòn") của thuốc sau khi loại bỏ các thiết bị theo dõi và hỗ trợ sự sống của bệnh nhân.

Dược lý lâm sàng[sửa | sửa mã nguồn]

Flumazenil, một dẫn xuất imidazobenzodiazepine, đối kháng với các hoạt động của các thuốc benzodiazepin trên hệ thống thần kinh trung ương. Flumazenil ức chế cạnh tranh hoạt động tại vị trí nhận biết benzodiazepine trên phức hợp thụ thể GABA/benzodiazepine.[6] Nó cũng thể hiện chủ nghĩa một phần yếu của GABA Một phức hợp thụ thể có chứa các đơn phân α<sub id="mwWQ">6</sub> -type; sự liên quan lâm sàng của điều này là không rõ.[7]

Flumazenil không đối kháng với tất cả các tác dụng của hệ thần kinh trung ương của các thuốc ảnh hưởng đến các tế bào thần kinh GABA-ergic bằng các phương tiện khác ngoài thụ thể benzodiazepine (bao gồm ethanol, barbiturat và hầu hết các thuốc gây mê) và không đảo ngược tác dụng của opioid. Tuy nhiên, nó sẽ đối kháng với hoạt động của các thuốc z không phải là benzodiazepine, như zolpidem và zopiclone, vì chúng hoạt động thông qua vị trí của benzodiazepine của thụ thể GABA [8] - nó đã được sử dụng để điều trị quá liều thuốc z.[8][9][10]

Dược lực học[sửa | sửa mã nguồn]

Flumazenil tiêm tĩnh mạch đã được chứng minh là có tác dụng đối kháng thuốc an thần, suy giảm khả năng hồi phục, suy giảm tâm lý và suy nhược thông khí được sản xuất bởi các thuốc benzodiazepin ở người tình nguyện khỏe mạnh.

Thời gian và mức độ đảo ngược của các tác dụng an thần của benzodiazepine có liên quan đến liều và nồng độ flumazenil trong huyết tương.

Tính khả dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Flumazenil được bán dưới rất nhiều tên thương hiệu trên toàn thế giới như Anexate, Lanexat, Mazicon, Romazicon. Ở Ấn Độ, nó được sản xuất bởi Roche Bangladesh Dược phẩm và Dược phẩm USAN.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Whitwam, J. G.; Amrein, R. (1 tháng 1 năm 1995). “Pharmacology of flumazenil”. Acta Anaesthesiologica Scandinavica. Supplementum 108: 3–14. ISSN 0515-2720. PMID 8693922. 
  2. ^ Whitwam, James. G. (1988). “Flumazenil: a benzodiazepine antagonist”. BMJ: 999. 
  3. ^ D.B. Rye; D.L. Bliwise; K. Parker; L.M. Trotti; P. Saini; J. Fairley; A. Freeman; P.S. Garcia; M.J. Owens (21 tháng 11 năm 2012). “Modulation of Vigilance in the Primary Hypersomnias by Endogenous Enhancement of GABAA Receptors”. Sci. Transl. Med. 4 (161): 161ra151. PMID 23175709. doi:10.1126/scitranslmed.3004685. 
  4. ^ http://clinicaltrials.gov/show/NCT01183312
  5. ^ a ă â Goldfrank, Lewis R. (2002). Goldfrank's toxicologic emergencies. New York: McGraw-Hill Medical Publ. Division. ISBN 978-0-07-136001-2. 
  6. ^ Hood, Sean David; Norman, Amanda; Hince, Dana Adelle; Melichar, Jan Krzysztof; Hulse, Gary Kenneth (tháng 2 năm 2014). “Benzodiazepine dependence and its treatment with low dose flumazenil”. British Journal of Clinical Pharmacology 77 (2): 285–294. ISSN 1365-2125. PMC 4014019. PMID 23126253. doi:10.1111/bcp.12023. 
  7. ^ Hadingham, K. L.; Garrett, E. M.; Wafford, K. A.; Bain, C.; Heavens, R. P.; Sirinathsinghji, D. J.; Whiting, P. J. (tháng 2 năm 1996). “Cloning of cDNAs encoding the human gamma-aminobutyric acid type A receptor alpha 6 subunit and characterization of the pharmacology of alpha 6-containing receptors”. Molecular Pharmacology 49 (2): 253–259. ISSN 0026-895X. PMID 8632757. 
  8. ^ a ă Gunja, Naren (tháng 6 năm 2013). “The clinical and forensic toxicology of Z-drugs”. Journal of Medical Toxicology 9 (2): 155–162. ISSN 1937-6995. PMC 3657020. PMID 23404347. doi:10.1007/s13181-013-0292-0. 
  9. ^ Thornton, Stephen L.; Negus, Elezer; Carstairs, Shaun D. (tháng 11 năm 2013). “Pediatric zolpidem ingestion demonstrating zero-order kinetics treated with flumazenil”. Pediatric Emergency Care 29 (11): 1204–1206. ISSN 1535-1815. PMID 24196090. doi:10.1097/PEC.0b013e3182aa139c. 
  10. ^ Lheureux, P.; Debailleul, G.; De Witte, O.; Askenasi, R. (tháng 3 năm 1990). “Zolpidem intoxication mimicking narcotic overdose: response to flumazenil”. Human & Experimental Toxicology 9 (2): 105–107. ISSN 0960-3271. PMID 2111156. doi:10.1177/096032719000900209. 

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]