Folklore (album của Taylor Swift)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Folklore
Taylor Swift - Folklore.png
Bìa tiêu chuẩn[a]
Album phòng thu của Taylor Swift
Phát hành24 tháng 7, 2020 (2020-07-24)
Thu âmTháng 4–7, 2020
Phòng thu
  • Long Pond (Hudson Valley, New York)
  • Kitty Committee (Los Angeles, California)
  • Rough Customer (Brooklyn, New York)
  • Electric Lady (Thành phố New York)
  • Conway (Los Angeles, California)
Thể loại
Thời lượng63:29
Hãng đĩaRepublic
Sản xuất
Thứ tự album của Taylor Swift
Live from Clear Channel Stripped 2008
(2020)
Folklore
(2020)
Folklore: The Long Pond Studio Sessions (From the Disney+ Special)
(2020)
Đĩa đơn từ Folklore
  1. "Cardigan"
    Phát hành: 27 tháng 7 năm 2020
  2. "Exile"
    Phát hành: 3 tháng 8 năm 2020[b]
  3. "Betty"
    Phát hành: 17 tháng 8 năm 2020[c]
  4. "The 1"
    Phát hành: 9 tháng 10 năm 2020[d]

Folklore (cách điệu thành folklore, tạm dịch: văn hóa dân gian) là album phòng thu thứ tám của nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ Taylor Swift, được phát hành bất ngờ vào ngày 24 tháng 7 năm 2020 bởi hãng Republic Records. Swift thực hiện Folklore trong thời gian cách ly vì đại dịch COVID-19; cô miêu tả album là "một bộ sưu tập những bản nhạc và câu chuyện tuôn trào như dòng ý thức" từ trí tưởng tượng của bản thân, với sự giúp sức từ hai nhà sản xuất cộng sự Aaron DessnerJack Antonoff. Album có phần ca từ đào sâu vào chủ đề về nỗi sầu muộn, sự thoát ly, tính đồng điệu và chủ nghĩa lãng mạn, khám phá những câu chuyện hư cấu thông qua nhiều nhân vật và hồi truyện khác nhau – cách thể hiện này trái ngược hoàn toàn với phong cách tự truyện quen thuộc trong các album trước đó của Swift. Tiêu đề album được lấy cảm hứng từ mong muốn của nữ ca sĩ trong việc tạo nên một sản phẩm âm nhạc mang tính di sản và có thể lưu truyền như những bài dân ca, trong khi phần hình ảnh của album đi theo phong cách cổ điển và cottagecore.

Folklore đánh dấu sự chuyển biến rõ rệt so với những album mang hơi hướng pop trước đây của Swift, với phong cách âm nhạc indie folk, electro-folkalternative rock cùng những bản ballad êm dịu được tạo nên bởi các nhạc cụ tân cổ điển. Album nhận được sự tán dương rộng rãi từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó sức nặng trong cảm xúc cùng phần lời đậm chất thơ và nhịp điệu thư thái được đánh giá cao. Nhiều nhà chuyên môn nhận thấy tính mặc tưởng của đĩa hát rất phù hợp với thời điểm đại dịch và coi đây là sự tái sinh đầy táo bạo trong chất nghệ sĩ của Swift. Sau khi phát hành, Folklore phá vỡ Kỷ lục Guinness Thế giới cho thành tích ngày ra mắt cao nhất trên Spotify đối với album của một nữ ca sĩ. Album đạt vị trí dẫn đầu trên các bảng xếp hạng ở Úc, Canada, Ireland, New Zealand, Na Uy, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh. Đây cũng là album quán quân thứ bảy liên tiếp của Swift trên bảng xếp hạng Billboard 200, giữ vững vị trí dẫn đầu này trong tám tuần và đồng thời cũng trở thành album bán chạy nhất năm 2020 ở Hoa Kỳ.

Bốn đĩa đơn đã được phát hành từ Folklore, trong đó "Cardigan", "The 1" và "Exile" đã lọt top 10 trên bảng xếp hạng âm nhạc chính thức của nhiều thị trường lớn. Đĩa đơn đầu tiên "Cardigan" đã trở thành đĩa đơn quán quân thứ sáu của Swift trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, giúp cô thiết lập kỷ lục nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử đứng đầu cả bảng xếp hạng album lẫn đĩa đơn ngay trong tuần đầu phát hành. Đối với một nghệ sĩ gắn bó với chủ trương phát hành nhiều album, các nhà bình luận nhận định thành công của Folklore với chiến dịch quảng bá ít ỏi đã tạo nên cuộc cách mạng lớn đối với Swift nói riêng và ngành công nghiệp âm nhạc nói chung. Folklore đứng đầu danh sách những album xuất sắc nhất năm 2020 của hầu hết những tổ chức và ấn phẩm âm nhạc, đồng thời nhận được năm đề cử giải Grammy tại sự kiện trao giải thường niên lần thứ 63. Album giành chiến thắng ở hạng mục Album của năm, giúp Swift trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên giành chiến thắng ở hạng mục này tới ba lần. Swift đã thảo luận về Folklore và trình diễn trực tiếp toàn bộ các bài hát của album trong bộ phim tài liệu Folklore: The Long Pond Studio Sessions, ra mắt vào ngày 25 tháng 11 năm 2020 trên nền tảng Disney+. Hai tuần sau đó, album chị em của Folklore – lấy tựa đề Evermore – được phát hành. Bản demo của "The Lakes" – bài hát kèm theo phiên bản cao cấp của Folklore – được phát hành vào tháng 7 năm 2021, nhân kỷ niệm một năm ra mắt album.

Bối cảnh và phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 4 năm 2020, Swift dự kiến thực hiện chuyến lưu diễn thứ sáu mang tên Lover Fest để quảng bá cho album phòng thu thứ bảy Lover (2019), nhưng kế hoạch đã phải hủy bỏ do những ảnh hưởng của đại dịch COVID-19.[3] Ngày 23 tháng 7 năm 2020, chín bức ảnh không có chú thích được đăng tải lên tài khoản Instagram của Swift, ghép lại thành hình ảnh nữ ca sĩ đang đứng một mình giữa một khu rừng. Sau đó, Swift đăng tải một bài đăng khác trên tất cả các trang mạng xã hội của mình để thông báo rằng album phòng thu thứ tám của cô sẽ được phát hành vào nửa đêm hôm đó. Cô cho biết: "Gần như mọi việc mà tôi đã lên kế hoạch trong mùa hè này đều không xảy ra, nhưng có một thứ tôi không hề dự định ĐÃ xảy ra. Và đó là album phòng thu thứ tám của tôi, Folklore". Swift cũng xác nhận hình ảnh bìa album và tiết lộ danh sách bài hát.[4] The Wall Street Journal cho rằng thông báo bất ngờ này "khiến người hâm mộ và giới kinh doanh âm nhạc ngạc nhiên".[5] Billboard cho biết thông tin này đã "làm lu mờ giới nhạc pop" và cứu rỗi người nghe khỏi cuộc sống bế tắc và tẻ nhạt trong thời gian phong tỏa.[6] Folklore được phát hành 11 tháng sau khi Lover ra mắt – khoảng cách ngắn nhất giữa hai album phòng thu của Swift, vượt qua con số một năm chín tháng giữa Reputation (2017) và Lover. Trong một bài đăng khác, Swift thông báo rằng video ca nhạc cho "Cardigan" sẽ được ra mắt cùng thời điểm với album.[7]

Trong buổi đếm ngược ra mắt video ca nhạc cho "Cardigan" trên YouTube, Swift tiết lộ rằng nội dung lời bài hát từ Folklore ẩn chứa nhiều chi tiết Trứng phục sinh vốn là "đặc sản" của cô: "Một điều tôi chủ ý làm trong album này là đưa những chi tiết Trứng phục sinh vào phần lời bài hát, hơn là chỉ đưa vào trong video. Tôi đã tạo ra những hồi truyện về nhân vật và những chủ đề lặp lại để móc nối xem ai đang hát về ai... Ví dụ, có một bộ sưu tập ba bài hát mà tôi gọi là 'Tam giác tình yêu thiếu niên'. Ba bài hát này khám phá một mối tình tay ba từ góc nhìn của cả ba người vào những thời điểm khác nhau trong cuộc đời họ".[8] Nữ ca sĩ mô tả album là "bâng khuâng và đầy thoát tục. Buồn, đẹp, bi thương. Giống như một cuốn album được lấp đầy bởi những hình ảnh, cùng tất cả những câu chuyện đằng sau những hình ảnh đó".[9] Cô cũng nhìn nhận "Cardigan" như một bài hát khám phá "tình yêu đã mất và lý do tại sao tình yêu thời trẻ thường in sâu mãi trong ký ức mỗi chúng ta,"[10] và tiết lộ rằng bản nhạc tự sáng tác "My Tears Ricochet" là bài hát đầu tiên cô viết cho album.[9] Uproxx thuật lại, "vào tối thứ Năm, những chữ 'T' và 'S' vẽ tay xuất hiện liên tục trên dòng thời gian. Những người hâm mộ và nhà phê bình ở mọi thể loại đều liên tục khai thác những thông tin nóng hổi, trích dẫn lời bài hát như cách những thiếu niên thời Myspace viết ở mặt sau sách giáo khoa hoặc tạo nên tin nhắn AIM hoàn hảo, và tranh luận về vị trí của Folklore trong pháo đài bất khả xâm phạm của Taylor Swift".[11]

Ý tưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2020, Swift không hề có dự định thực hiện một album phòng thu mới.[12] Sau khi phải hủy bỏ Lover Fest,[3] nữ ca sĩ tự cách ly bản thân. Trong khoảng thời gian này cô xem nhiều bộ phim, như Rear Window (1954), L.A. Confidential (1997), Mê cung thần nông (2006), Jane Eyre (2011), Câu chuyện hôn nhân (2019)[12]Michael Jordan: Mùa giải cuối cùng (2020),[13] và đọc nhiều sách hơn trước đây, đặc biệt là những cuốn sách "nói về thời quá khứ, về một thế giới không tồn tại nữa" như Rebecca (1938) của nhà văn Daphne du Maurier.[14] Những câu chuyện giả tưởng đã truyền cảm hứng cho Swift vượt ra khỏi phong cách sáng tác tự truyện quen thuộc của chính mình và thử nghiệm nhiều cách tường thuật khác nhau.[12] Trong thời điểm cách ly vì lệnh phong tỏa, cô để trí tưởng tượng của mình "vẩn vơ", trước khi tập hợp chúng lại thành một chuỗi những hình ảnh mà sau này sẽ trở thành Folklore.[15]

Album bắt đầu bằng những hình tượng. Một loạt những hình ảnh hiện ra trong đầu tôi và khơi gợi trí tò mò của tôi. Các ngôi sao được vẽ xung quanh những vết sẹo. Một chiếc cardigan sau 20 năm vẫn đọng lại mùi hương của sự mất mát. Những chiếc thiết giáp hạm chìm sâu dưới đáy biển, sâu, sâu, thật sâu. Chiếc xích đu trên cây trong khu rừng thời thơ ấu của tôi. Những âm điệu vội vã "Hãy cùng bỏ trốn nào" nhưng chẳng bao giờ thành hiện thực. Nắng tháng 8 rả rích, vơi dần như một chai rượu. Một quả cầu disco treo lơ lửng trên sàn nhảy. Một chai whisky vẫy gọi. Những đôi bàn tay đeo bao tay. Một sợi dây mà, dù tốt hơn hay xấu đi, đã ràng buộc bạn với số phận của mình. Chẳng bao lâu sau, những hình ảnh trong đầu tôi đã hình thành khuôn mặt hoặc những cái tên và trở thành những nhân vật. Tôi thấy mình không chỉ viết những câu chuyện của riêng mình, mà còn viết về hoặc viết từ góc độ của những người mà tôi chưa từng gặp, những người tôi đã biết, hoặc những người tôi ước mình chưa từng biết.

— Swift nói về cách cô phát triển Folklore, Billboard[15]

Một số hình tượng mà nữ ca sĩ phát triển bao gồm: "Một người đàn ông lưu vong đang bước đi trên những con dốc đứng của một mảnh đất không phải của mình, tự hỏi làm thế nào mà mọi chuyện lại trở nên sai lầm một cách tồi tệ như vậy. Một kẻ ngược đãi xuất hiện trong tang lễ của đối tượng bị ám ảnh bởi ông. Một cậu bé mười bảy tuổi đứng trên hiên nhà, học cách nói lời xin lỗi. Những thiếu niên yêu nhau say đắm đang lang thang vòng quanh công viên High Line. Ông tôi, Dean, đặt chân đến Guadalcanal vào năm 1942. Một góa phụ xấu tính đang vui sướng trả thù thị trấn đã đuổi cô đi".[15] Swift "dồn tất cả những ý tưởng bất chợt, những giấc mơ, nỗi sợ hãi và suy nghĩ [của cô]" vào những bài hát, và tìm đến những "người hùng âm nhạc" của cô để hợp tác.[16] Cô dự định phát hành Folklore vào đầu năm 2021, nhưng album "được hoàn thành" sớm hơn dự kiến và được phát hành vào tháng 7 năm 2020 mà chẳng phải đắn đo suy nghĩ. Swift tiếp cận quá trình sáng tạo album không theo bất kỳ quy tắc nào. Cô giải thích rằng mình "từng áp đặt một vài thông số lên [bản thân] như, "Bài hát này sẽ nghe thế nào ở một sân vận động? Bài hát này sẽ nghe thế nào trên đài phát thanh?" Nếu bạn loại bỏ tất cả những thông số trên, bạn sẽ có gì? Và tôi đoán câu trả lời là Folklore".[14]

Sáng tác và thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Những sáng tác của Swift đi theo hướng thoát ly và chủ nghĩa lãng mạn.[14] Để đạt được những âm thanh mà cô mong muốn, Swift đã mời hai nhà sản xuất: người cộng sự lâu năm Jack Antonoff – trước đây từng làm việc với nữ ca sĩ trong 1989 (2014), Reputation (2017) và Lover – và cộng sự lần đầu Aaron Dessner – guitar chính của ban nhạc indie rock Mỹ The National. Do những ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, Swift, Antonoff và Dessner phải cách ly từ xa; bộ ba đã từng bước tạo nên Folklore bằng cách liên tục trao đổi những tập tin nhạc nền và giọng hát.[17] Album sau đó được thiết lập thành một quy trình "do it yourself",[18] được phối khí và lập trình âm thanh bởi những nhân sự trên khắp Hoa Kỳ.[6]

Người đàn ông đang chơi guitar trên sân khấu
Người đàn ông đang chơi guitar
Folklore có sự tham gia sản xuất từ Aaron Dessner (trái) và Jack Antonoff (phải); Dessner sản xuất hầu hết những bản nhạc.

Swift trước đó đã gặp The National trong một tập của Saturday Night Live vào năm 2014 và cô còn tham dự một buổi biểu diễn của nhóm vào năm 2019, nơi nữ ca sĩ trò chuyện với Dessner và người anh song sinh Bryce.[19] Cô đã hỏi Dessner về kỹ thuật sáng tác của anh, vì đó là "điều cô muốn hỏi những người mình hâm mộ", và Dessner trả lời rằng vì các thành viên của The National sống ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới, anh sẽ thực hiện những bản thu nhạc không lời và gửi chúng cho ca sĩ chính, Matt Berninger, rồi Berninger sẽ viết phần lời nhạc – điều này giúp Swift khơi dậy ý tưởng sáng tạo âm nhạc trong thời gian cách ly.[14]

Sau khi tất cả các phòng thu bị đóng cửa vì đại dịch, với sự giúp đỡ của kỹ sư âm thanh Laura Sisk, Swift đã xây dựng một phòng thu tại căn hộ ở Los Angeles của cô, được đặt tên là phòng thu Kitty Committee.[12] Antonoff, người hợp tác với Swift trong năm bài hát của album, làm việc từ Thành phố New York trong khi Sisk thu âm giọng hát của Swift từ Los Angeles. "My Tears Ricochet" là bài hát đầu tiên được viết cho Folklore. Swift viết bản nhạc dựa trên mối quan hệ kết thúc đột ngột giữa nữ ca sĩ với Scott Borchetta, người sáng lập hãng đĩa cũ của cô.[12] Antonoff so sánh quá trình viết "Mirrorball" và "August" với "Out of the Woods" (2016); anh gửi những bản nhạc cho Swift, và cô phản hồi lại bằng bản nhạc với phần lời hoàn chỉnh.[20] Swift viết "Mirrorball" sau khi Lover Fest bị hủy bỏ, như một lời tri ân đến những người hâm mộ vốn tìm thấy niềm an ủi trong âm nhạc và những buổi hòa nhạc của cô.[21] Cô sáng tác "August" về một nữ tình nhân hư cấu, và "This Is Me Trying" dựa trên nhiều câu chuyện khác nhau, chẳng hạn như việc đối mặt với chứng nghiện ngập, cũng như sức khỏe tâm lý của chính cô vào năm 2016–2017 khi cô cảm thấy mình "hoàn toàn vô dụng".[12]

Vào cuối tháng 4, Swift tiếp cận Dessner để đồng sáng tác một số bài hát từ xa. Sau vài tháng, anh đã cộng tác trong 11 trên tổng số 16 bài hát của album với cô.[22] Dessner nhận xét rằng anh "nghĩ rằng sẽ mất một khoảng thời gian để ý tưởng bài hát xuất hiện" và "không có kỳ vọng nào khi chúng tôi phải hoàn thành công việc từ xa", nhưng rất ngạc nhiên rằng "vài giờ sau khi gửi phần nhạc, điện thoại của tôi sáng lên với bản ghi giọng hát của Taylor về một bài hát được viết hoàn chỉnh – một nguồn động lực chưa bao giờ ngưng".[23] Swift và Dessner "liên lạc nhiều ngày liền trong khoảng ba hoặc bốn tháng thông qua các cuộc gọi và tin nhắn".[19] Anh gửi những thư mục gồm các bản nhạc đệm cho cô qua thư điện tử, và nữ ca sĩ sẽ sáng tác "toàn bộ những phần chính" – bao gồm giai điệu và lời bài hát, và "anh không hề biết bài hát sẽ nói về cái gì, sẽ được đặt tên là gì, [hay cô ấy] sẽ đặt phần điệp khúc ở đâu".[14] Bài hát đầu tiên Swift và Dessner viết là "Cardigan", dựa trên một trong những bản nháp của Dessner có tên "Maple".[23] "Cardigan" được tiếp nối bởi "Seven" và "Peace".[24] Sau khi nghe bản nhạc đệm của "Peace", Swift cảm thấy một sự "thanh thản tức thì" gợi lên cảm giác bình yên, nhưng nghĩ rằng sẽ "quá hăng" nếu hát về việc tìm kiếm hòa bình. Vì vậy thay vào đó, cô viết về những "mâu thuẫn" phức tạp trong cảm xúc, đối nghịch với âm thanh êm dịu của bản nhạc,[12] và chỉ mất một lần đề thu âm.[19]

Taylor đã mở ra cánh cửa giúp những nghệ sĩ không cảm thấy áp lực để tạo nên "bản hit". Để thực hiện đĩa hát mà cô đã thực hiện, trong khi đi ngược với những gì nhạc pop trên sóng phát thanh được mặc định ở đẳng cấp cao nhất—cô ấy cho ra đời một bản thu âm phản pop.

— Dessner nói về định hướng âm nhạc của Swift trong Folklore, Billboard[25]

Sau vài tuần, khi Swift và Dessner đã viết "sáu hay bảy" bài hát, Swift giải thích cho anh về ý niệm của cô cho Folklore. Cô cũng nói với Dessner về những bài hát cô đã thu âm trước đó với Antonoff, và cho rằng những tác phẩm cô thực hiện với hai cộng sự sẽ tạo nên một album.[23] Swift và Dessner cũng sáng tác "The Last Great American Dynasty", "Mad Woman", và "Epiphany", trong đó "The Last Great American Dynasty" có phần guitar điện được lấy cảm hứng từ album In Rainbows của Radiohead ra mắt năm 2007, với phần lời bài hát được Swift viết trong lúc Dessner đang ra ngoài chạy bộ.[23] Phần lời khắc họa Rebekah Harkness, người mà Swift luôn muốn sáng tác về kể từ khi cô mua căn hộ Holiday House vào năm 2013.[12] Dessner biên soạn phần giai điệu piano cho "Mad Woman" với suy nghĩ về những thành quả trước đó của anh trong "Cardigan" và "Seven".[24] Trong "Epiphany", Dessner giảm tốc độ và đảo ngược âm thanh của nhiều nhạc cụ khác nhau để tạo ra một "tổng hòa âm khổng lồ", và thêm phần âm thanh piano nhằm gợi lên tính điện ảnh.[23] Swift viết "Epiphany" dựa trên những trải nghiệm của người ông cựu chiến binh của cô và các nhân viên y tế trong đại dịch.[12]

Swift viết hai bài hát, "Exile" và "Betty" với bạn trai của cô, diễn viên người Anh Joe Alwyn. Nữ ca sĩ phát triển "Exile" dưới dạng một bản song ca, và Dessner thu âm lại bản nháp mà cô hát cả phần nam và nữ.[24] Swift và Dessner chọn ra những ứng cử viên cho phần song ca nam, và Swift tỏ ra vô cùng thích thú trước giọng hát của thành viên Justin Vernon của ban nhạc Bon Iver – anh cũng là người đã sáng lập nhóm nhạc indie rock Mỹ Big Red Machine với Dessner.[19] Sau khi Dessner gửi bài hát cho Vernon, Vernon đã rất thích bài hát này và viết thêm lời cũng như thể hiện phần hát của mình.[23] "Betty" là bài hát duy nhất trong album được sản xuất bởi cả Dessner và Antonoff; phần nhạc đệm của bài hát này chịu ảnh hưởng từ hai album The Freewheelin' Bob DylanJohn Wesley Harding của Bob Dylan.[23][24] Alwyn sử dụng nghệ danh William Bowery fđể đề tên ở phần sáng tác. Bowery ban đầu xuất hiện không rõ danh tính và được cho là một bút danh,[26][27] mà giới truyền thông, các nhà bình luận và người hâm mộ cho rằng đó là bạn trai của Swift, nam diễn viên người Anh Joe Alwyn.[28][29] Swift sau đó xác nhận rằng Bowery thực sự là bút danh của Alwyn,[30] và anh đã viết phần điệp khúc của "Betty", cũng như biên soạn giai điệu piano lẫn đoạn đầu tiên trong "Exile".[31]

Hai bài hát cuối cùng được viết cho album là "The 1" và "Hoax", lần lượt là bài hát đầu tiên và cuối cùng trong album; Swift viết cả hai bài hát chỉ trong vài giờ.[23] Nói về sự hợp tác của mình với nữ ca sĩ, Dessner nhận xét, "Có một tính nhân văn, cảm xúc thô mộc và ấm áp trong những bài hát này mà tôi hy vọng bạn sẽ thích và cảm thấy thoải mái như tôi."[32]

Trong một cuộc phỏng vấn trên Rolling Stone vào tháng 11 năm 2020 với Paul McCartney, Swift nói rằng cô bắt đầu sử dụng những từ ngữ mà cô luôn muốn dùng trong phần lời album và không hề lo lắng rằng liệu chúng có phù hợp với đài phát thanh hay không. Cô sử dụng những từ "to hơn, hoa mỹ hơn, đẹp hơn" như "epiphany", "elegies" và "divorcée" chỉ vì chúng "nghe có vẻ hay". Swift tiết lộ rằng cô có một danh sách ghi lại những từ như vậy. Swift cũng tiết lộ rằng trước đây cô đã từng sử dụng một từ – "kaleidoscope" – trong bài hát năm 2014 "Welcome to New York".[14] Trong một cuộc phỏng vấn với Entertainment Weekly vào tháng 12 năm 2020, Swift nói rằng cô đã viết lời bài hát, giai điệu, và sản xuất Folklore theo cách mà cô muốn và không hề áp đặt vào tác phẩm sự kỳ vọng của người khác.[12]

Tôi luôn nghĩ rằng, "Chà, bài hát đó sẽ chẳng bao giờ thành công trên đài phát thanh pop đâu", nhưng khi tôi thực hiện bản thu âm này, tôi lại nghĩ: "Bài nào cơ? Mọi thứ giờ đâu còn ý nghĩa gì nữa đâu. Nếu cả thế giới đang trong hỗn mang, tại sao tôi lại không dùng cái từ ngữ chết tiệt mà tôi muốn đưa vào?"

— Swift nói về cách chọn từ của cô trong Folklore, Rolling Stone[14]

Folklore được sáng tác và thu âm trong bí mật. Những người duy nhất biết đến album là Swift, bạn trai của cô, gia đình, đội ngũ quản lý, Antonoff và Dessner; Swift không tiết lộ tin tức hay phát album cho bạn bè như những gì cô từng làm trước đây[12] Gần cuối quá trình thu âm của Folklore, Dessner đã liên hệ với những cộng tác viên quen thuộc, bao gồm cả các thành viên của The National, để thực hiện phần nhạc đệm từ xa.[24] Anh trai của Dessner là Bryce đã thực hiện phần hòa âm cho một số bài hát, trong khi tay trống của ban nhạc Bryan Devendorf đã chơi trống trong "Seven".[33] Dessner giữ bí mật về dự án của Swift với chính gia đình và cộng sự của anh cho đến khi có thông báo chính thức từ nữ ca sĩ.[19][34] Trong khi quay video ca nhạc cho "Cardigan", Swift đã đeo một chiếc tai nghe và nhép theo bài hát để tránh việc ca khúc bị rò rỉ.[35] Theo Dessner, hãng Republic Records không hề biết đến sự tồn tại của album cho đến thời điểm "vài giờ" trước khi đĩa nhạc được phát hành.[19]

Nhạc và lời[sửa | sửa mã nguồn]

Một câu chuyện sẽ trở thành dân gian khi mọi người bắt đầu truyền miệng và rỉ tai nhau khắp nơi. Đôi khi còn hát về chúng. Lằn ranh giữa kỳ ảo và thực tế mờ dần và ranh giới giữa sự thật và giả tưởng gần như khó phân biệt được. Những suy đoán, theo thời gian, dần trở thành sự thật. Thần thoại, truyện kinh dị và ngụ ngôn. Truyện cổ tích và dụ ngôn. Chuyện phiếm và truyền thuyết. Bí mật của ai đó được viết lên bầu trời để tất cả cùng chiêm ngưỡng. Trong giai đoạn giãn cách xã hội, trí tưởng tượng của tôi luôn cứ vẩn vơ và album này chính là thành quả, một tập hợp những bài hát và câu chuyện được tuôn trào như dòng ý thức. Cầm bút lên là cách tôi chạy trốn [thực tại để] đi vào trí tưởng tượng, lịch sử và ký ức. Tôi kể những câu chuyện này bằng khả năng tốt nhất của mình với tất cả tình yêu, sự kỳ diệu và kỳ quái chúng xứng đáng có được. Bây giờ quyết định truyền tải chúng hay không nằm ở bạn.

— Swift nói về khái niệm của Folklore, Instagram[36]

Phiên bản tiêu chuẩn của Folklore dài khoảng một giờ ba phút, bao gồm 16 bài hát, trong khi bản sang trọng bổ sung thêm bài hát thứ 17 mang tên "The Lakes". Ban nhạc indie-folk Mỹ Bon Iver góp giọng trong "Exile", bài hát thứ tư trong album. Folklore do Swift, Dessner và Antonoff đảm nhiệm vai trò sáng tác và sản xuất, bên cạnh sự tham gia hỗ trợ viết lời từ Joe Alwyn (dưới bút danh William Bowery) trong "Exile" và "Betty", và Justin Vernon, giọng ca chính của Bon Iver, trong "Exile".[33][37] Đây là album đầu tiên trong sự nghiệp của Swift được dán nhãn Parental Advisory.[38]

Biên soạn[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các nhà phê bình gọi Folklore là một đĩa nhạc alternative, indie folkelectro-folk vốn tách biệt với phong cách pop theo chủ nghĩa tối đa và mang hơi hướng synth trong những album trước của Swift.[39][40] Nhà báo Hannah Mylrea của NME mô tả thể loại của Folklore là indie folk và alternative rock,[41] trong khi Gary Ryan của cùng tạp chí lại nhận định album này đi theo dòng nhạc indietronicachamber pop.[42] Chris Willman của Variety và Jillian Mapes của Pitchfork cũng cho rằng đĩa nhạc này thuộc thể loại chamber pop.[43][44] Nhà phê bình Michael Sumsion của PopMatters mô tả album như một sự pha trộn của chamber-pop và alt-folk.[45] Folklore chứa đựng các yếu tố của nhiều thể loại nhạc khác nhau, cụ thể là indie rock,[46] electronica,[47] dream pop[48]đồng quê.[41] Một vài nhà phê bình bác bỏ phân loại nhạc indie và gọi tác phẩm là pop.[39][49] Nhà phê bình Amanda Petrusich của The New Yorker gọi Folklore là một bản thu "không rõ thể loại", thiên về atmospheric pop hơn là folk.[50]

Không nhắm đến những bản pop thân thiện với đài phát thanh,[51][52] Folklore hạn chế âm hưởng pop chủ đạo trong nhiều tác phẩm cũ của nữ ca sĩ.[43] Album bao gồm những bản ballad êm dịu, đậm chất điện ảnh, nhịp độ chậm,[23][43][53] với quá trình sản xuất lo-fi trần tục[54]giai điệu thanh lịch, cùng với đó là một góc nhìn hiện đại về kiểu sáng tác truyền thống.[53] Âm nhạc của đĩa hát được thực hiện bởi các nhạc cụ tân cổ điển, như tiếng piano nhẹ nhàng,[47] lơ thơ[44] và âm vang,[53] tiếng guitar đa cảm,[44] có độ gảy[53] và tĩnh,[47] những âm thanh điện tử bị lỗi và đứt gãy,[47] bộ gõ rộn ràng,[55] lập trình trốngmellotron êm dịu,[43] dàn giao hưởng quét[44] với dàn dây thanh tao[48]kèn cor.[56] Album không hoàn toàn lảng tránh phong cách synth lộng lẫy và những nhịp phách được lập trình vốn là đặc trưng trong những bản pop của Swift, thay vào đó, chúng được sắp xếp với kết cấu tinh tế,[53] mang đến một không gian âm thanh electro-acoustic.[57]

The Atlantic viết rằng Folklore "bơi qua những nhạc cụ dân giancổ điển phức tạp" với cách sắp xếp như nhạc điện tử, tạo nên một hiệu ứng "kỳ lạ, hấp dẫn và hoài cổ".[58] The Guardian đơn giản hóa album thành một tập hợp các bài hát chamber-pop "kín đáo, được dệt phức tạp".[59] Rolling Stone ghi nhận sự rung cảm của album giống với "Safe & Sound", đĩa đơn năm 2012 của Swift cho album The Hunger Games: Songs from District 12 and Beyond.[51] The Ringer chỉ ra rằng Antonoff tạo ra phong cách nhạc dựa trên synth cho bản thu âm, trong khi Dessner đóng góp âm thanh thiên về piano; và móc nối Folklore tới hai bài hát trong Lover – "The Archer" và "It's Nice To Have a Friend" – vì các album của Swift "thường có vài bài hát giao thoa với album trước hoặc kết nối với album tiếp theo".[60] Nhiều nhà phê bình nhận thấy kết cấu nhẹ nhàng trong quá trình sản xuất, tạo khoảng trống cho giọng hát và chất trữ tình của Swift bừng sáng.[43][48][61]

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Folklore là một album chủ đề[62] với nội dung được khai phá dựa trên những góc nhìn khác nhau vốn hoàn toàn tách biệt với cuộc sống của Swift, bao gồm các câu chuyện được kể theo ngôi thứ ba[56] xuất phát từ quan điểm của những nhân vật đan xen trong các bài hát.[23] Chủ đề của những sáng tác trong album bao gồm sự trầm uất, hoài niệm,[23] thoát tục,[63] chiêm nghiệm,[64]sự đồng cảm.[58] Mặc dù Swift tiếp cận hướng âm nhạc mới, album vẫn giữ lại những phong cách sáng tác đặc trưng của cô, như việc truyền tải nhiều xúc cảm và nhiệt huyết tuổi thiếu niên.[60] So với nhiều album phòng thu trước, Folklore phản ánh sâu sắc sự tự nhận thức,[47] nội quan[45]cách kể chuyện sống động,[41] cho thấy mức độ giả tưởng hóa cao và ít tham vấn từ bản thân hơn,[43] tạo nên đỉnh cao với cách tiếp cận hướng ngoại.[58] Phần lời bài hát vừa mang tính cá nhân vừa mang tính hư cấu, và đôi khi là sự pha trộn của cả hai.[65] Phạm vi cảm xúc và trần thuật của Folklore được mở rộng bằng cách khai triển trọng tâm từ những câu chuyện cá nhân của Swift đến các nhân vật tưởng tượng và nhân cách hóa.[64]

Những nhân vật hư cấu được mô tả trong Folklore bao gồm một linh hồn tìm thấy kẻ sát hại mình trong đám tang của chính mình, một cô bé bảy tuổi có một người bạn bị tổn thương tâm lý, người góa phụ già bị cả thị trấn hắt hủi và đang phải cai rượu, và mối tình tay ba giữa ba nhân vật hư cấu – Betty, James và một cô gái giấu tên – được mô tả trong ba bài hát "Cardigan", "Betty" và "August", trong đó mỗi tác phẩm được sáng tác từ góc nhìn của mỗi nhân vật ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời họ.[51] Ann Powers của NPR định nghĩa Folklore là một "cơ thể được xây dựng bằng ký ức, cảm nhận chung về thế giới, được xây dựng từ thần thoại, những câu chuyện truyền tai", dựa trên ý tưởng rằng "mỗi chúng ta có văn hóa dân gian của riêng mình", với album là văn hóa dân gian của Swift.[66] Nhiều bài hát trong album thể hiện chất điện ảnh trong lời bài hát,[67] với nhiều chủ thể và hiện tượng trong tự nhiên được đề cập, bao gồm nhật thực, sao Thổ, cực quang, bầu trời hồng ánh tím, không khí mặn, cỏ dạihoa tử đằng.[68]

Bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Bản nhạc mở đầu – "The 1" – là một bản soft rock[69] được sáng tạo nhờ sự kết hợp linh hoạt[47] tiếng piano, bộ gõ và âm thanh điện tử. Được sáng tác dưới góc nhìn từ một người bạn của Swift, "The 1" mô tả cách cả hai đón nhận cuộc sống và những mối tình trong quá khứ theo chiều hướng tích cực, cùng với mong ước rằng họ có thể trở thành tri kỷ.[23][41] "Cardigan" là một bản folk ballad[70] với phần nhạc đệm mộc mạc và giàu cảm xúc[71] được cấu thành từ tiếng trống và âm piano nhẹ nhàng;[72] Swift hát dưới góc nhìn của một nhân vật hư cấu tên là Betty[55] về sự xa cách cùng những lạc quan lâu dài về mối quan hệ với một chàng trai tên là James.[67] Cô đề cập đến Peter PanHigh Line trong bài hát, và sử dụng cardigan như một phép so sánh về sự bền bỉ của một mối quan hệ.[73]

Rebekah Harkness là nàng thơ đằng sau bản nhạc thứ ba "The Last Great American Dynasty".

"The Last Great American Dynasty" là một bản alternative indie pop với các nhạc cụ cổ điển như guitar lướt, viola, vĩ cầm, trống và cấu trúc sản xuất trúc trắc.[41][74] Đây là một bài hát châm biếm kể về câu chuyện của Rebekah Harkness, nhà sáng lập Harkness Ballet, khi cô sinh sống trong căn hộ ở Rhode Island của Swift—Holiday House. Bài hát thuật lại chi tiết về việc Harkness kết hôn trong một gia đình thượng lưu, bị thị trấn ghét bỏ, và bị đổ lỗi cho cái chết của người chồng lúc bấy giờ và cũng là người thừa kế của Standard Oil, William Harkness, và sự sụp đổ của dòng họ ông. Swift so sánh Harkness với chính mình, thể hiện sự tương đồng giữa những chỉ trích gay gắt mà Harkness nhận được với những chỉ trích cô phải đối mặt xuyên suốt sự nghiệp.[75][76] "Exile" là một bản indie folk[77] mang hơi hướng phúc âm[57] tình cảm[78][79] được Swift song ca với Justin Vernon của Bon Iver, pha trộn giọng hát ngọt ngào của Swift với giọng nam trung trầm khàn của Vernon,[80] nhằm thể hiện một cuộc trò chuyện không thành lời, mang tính chất tranh luận giữa hai người yêu cũ.[77] Bài hát bắt đầu bằng tiếng piano gằn và tiến đến cao trào bởi dàn hợp xướng, dàn dây kịch tính, synth[81]hòa âm sang trọng.[82] Bản nhạc thu hút nhiều so sánh với đĩa đơn năm 2013 của Swift "The Last Time".[77]

Được hát theo quan điểm từ linh hồn của người tình đã khuất, "My Tears Ricochet" là bản nhạc arena-goth lạnh lẽo[83] nhằm phản ánh những căng thẳng sau khi kết thúc một mối quan hệ hôn nhân,[12] sử dụng hình tượng đám tang – một phép ẩn dụ cho Scott Borchettaviệc ông bán đi bản master những tác phẩm trước đây của Swift.[12][67] Bài hát bao gồm âm thanh hộp nhạc, dàn hợp xướng hỗ trợ, những đoạn ab-lib vang dội trong phần bridge, và đạt đến cao trào hỗn loạn với những tiếng trống rùng mình.[41][84] "Mirrorball" là một bài hát mang âm hưởng folk, jangle-pop[85] và dream pop[46] với giọng hát xoáy và tiếng guitar thép pêđan,[86] trống lục lạc ấm áp,[58] và guitar búng,[83] khơi gợi cảm giác lo âu trên sàn nhảy.[8] Bài hát miêu tả Swift như một quả cầu Disco, liên quan đến đặc tính phản chiếu của nó, thề nguyện với người nghe rằng sẽ khai phá mọi khía cạnh của họ. Quả cầu như một phép ẩn dụ cho tính giải trí trong âm nhạc của Swift, mà ở đó cô phải hy sinh tính dễ tổn thương và nhạy cảm của mình.[67][78] Bài hát cũng được hiểu như một tuyên ngôn lãng mạn.[41]

Trong "Seven", bản nhạc thứ bảy đầy hoài niệm,[78] Swift sử dụng quãng âm cao[84] với giọng điệu ngây thơ,[47] hồi tưởng lại một người bạn bị lạm dụng của cô từ thời thơ ấu ở Pennsylvania,[87] người cô không thể nhớ rõ nhưng vẫn có những kỷ niệm khó phai mờ, với quá trình sản xuất âm vang được thiết lập bởi dàn dây và piano nhộn nhịp.[47] Bài hát mô tả cách cô gợi ý về xu hướng tính dục đồng giới ở những người bạn của cô và thúc giục họ cùng cô chạy trốn đến Ấn Độ.[67][73] "August" là một bản dream-pop ảm đạm[48] kể về câu chuyện ngoại tình giữa hai người vào mùa hè—một cô gái ngây thơ đang giữ chặt một chàng trai vốn "không phải điều cô phải lo đánh mất";[55] chàng trai được tiết lộ là James, ở phần sau của album.[67] Bài hát là một thánh ca mùa hè,[88] chứng kiến cảnh một cô gái đau buồn và khao khát tình yêu của mình, sử dụng cách truyền tải nhẹ nhàng và êm dịu từ Swift, chất giọng biến chuyển liên hồi và một kết cấu âm nhạc hoành tráng với guitar acoustic, âm thanh vang dội lấp lánh, và những đoạn đảo giọng.[48][67]

Bản nhạc thứ chín, "Invisible String", là một bản orchestral pop thơ thẫn đề cập đến trách nhiệm và sự hối hận của một kẻ nghiện rượu, người thừa nhận không bao giờ cảm thấy đủ.[67] Quá trình sản xuất dần dần phát triển thành một bối cảnh đầy kịch tính với giọng hát âm vang đầy ma mị của Swift.[47][78] Qua sự sắp xếp mộc mạc nhưng tĩnh lặng[83] của dàn dây gảy ngón và kèn nhẹ,[48] "Illicit Affairs" bộc lộ sự phản bội và tóm tắt những cách mà nhân vật chính không chung thủy đã thực hiện để giữ mối quan hệ ngoại tình trong bí mật[78] "Invisible String" là một bản folk[89] mang tính hư không[90] vốn đem đến cái nhìn thoáng qua về tình yêu hiện tại của Swift với nam diễn viên người Anh Joe Alwyn, kể lại mối liên hệ "vô hình" giữa họ mà cả hai không hề hay biết cho đến khi gặp nhau, ám chỉ đến một thần thoại dân gian châu Á có tên Sợi tơ hồng định mệnh.[67] Bài hát được xây dựng xung quanh giọng hát với nhịp mạnh, một đoạn riff acoustic,[67][89] một phong cách sáng tác riêng biệt sử dụng câu bị động để tạo ra lời kể chuyện,[52] và tham khảo các bản hit trước đây của Swift như "Bad Blood" (2015), "Delicate" (2017) và "Daylight" (2019).[67]

Trong bản nhạc thứ 17 "The Lakes", Swift hát về kỳ nghỉ của cô với người yêu ở Windermere, ao hồ lớn nhất ở Anh.

Với những nhận xét gay gắt và châm biếm về chủ nghĩa phân biệt giới tính,[79][86] "Mad Woman" giải quyết điều cấm kỵ liên quan đến sự tức giận của phụ nữ,[67] đóng vai trò như một khoảnh khắc hồi sinh của Folklore.[43] Ẩn dụ cuộc tranh chấp của Swift với Borchetta và Scooter Braun,[12] bài hát mô tả một góa phụ tà đạo đang trả thù, với những đề cập đến các cuộc săn phù thủy[76] gợi liên tưởng đến bài hát năm 2017 của Swift "I Did Something Bad". "Mad Woman" là phần tiếp theo căng thẳng của "The Last Great American Dynasty", và được xem như phiên bản kinh dị của "The Man" (2019). "Epiphany" là một bản ambient,[46] thánh ca thanh tao[86] mô tả sự tàn phá của đại dịch COVID-19, bày tỏ sự trân trọng đến các nhân viên y tế. Swift gọi các bác sĩ và y tá là những người lính hải quân,[55] so sánh họ với người ông là cựu chiến binh quân sự của cô, Dean, người đã chiến đấu trong Trận chiến Guadalcanal (1942) trong Thế chiến thứ hai; cô đồng cảm với nỗi đau của họ khi nhìn thấy cái chết và phải cam chịu với điều đó để tiếp tục phục vụ những người bị ảnh hưởng.[67] Giọng hát của cô thể hiện sự tôn kính và như thiên thần trong "Epiphany", với tiếng piano ảm đạm,[91] bộ đồng[84] và dàn nhạc buồn thảm.[76]

Bài hát thứ 14, "Betty", là một bản đồng quê và folk rock được đan xen bằng harmonica.[41][86] Đó là câu chuyện về mối quan hệ được thuật lại trong "Cardigan", nhưng dưới góc nhìn của người bạn trai lừa dối James,[55] người đã có một mùa hè bay bổng với nhân vật nữ trong "August".[86] James xin lỗi về những sai lầm trong quá khứ của anh nhưng không hoàn toàn làm chủ được chúng, lấy lý do là chứng sợ hãi của anh và ánh mắt lưu luyến của Betty làm lý do bào chữa.[76] Những nhân vật trong chuỗi câu chuyện—Betty, James, và Inez—được đặt theo tên ba người con gái của Ryan ReynoldsBlake Lively.[92] Bản nhạc mang khuynh hướng R&B "Peace" làm nổi bật chất giọng giàu cảm xúc và jazzy của Swift, sử dụng một giai điệu giọng phức tạp[23][83] trên một nhịp điệu kết hợp giữa ba dòng bassline được hòa âm lộng lẫy,[24][79] bổ sung bởi synth tối giản và tiếng piano mưa phùn nhẹ.[57] "Peace" là một bản ode như cầu nguyện,[83] mổ xẻ ảnh hưởng từ mức độ cuồng nhiệt xoay quanh Swift đến mối quan hệ của cô và cảnh báo rằng những chủ đề thách thức đi kèm với chúng đã trở thành một phần trong cuộc sống nữ ca sĩ.[78][88]

"Hoax", bài hát khép lại bản tiêu chuẩn, là một bản piano ballad chậm rãi với ca từ thô mộc đầy cảm xúc kể về một mối quan hệ rạn nứt nhưng bền vững,[23][76] kết thúc album bằng một nốt trầm buồn bã.[93] Bài hát đi kèm bản sang trọng, "The Lakes", là một bản midtempo[93] mà Swift suy nghĩ về việc bán nghỉ hưu ở Windermere, ao hồ lớn nhất ở Anh, tọa lạc tại Lake District;[8] địa điểm cũng được nói đến trong "Invisible String".[67] Tưởng tượng về một bông hồng đỏ mọc ra từ đài nguyên "mà không có ai xung quanh để tweet về nó", Swift tưởng tượng ra một utopia không có mạng xã hội,[43] đề cập đến trầm cảm, hoa Tử Đằng, và William Wordsworth, nhà thơ thế kỷ 19 nổi tiếng với các tác phẩm lãng mạn.[93]

Chỉ đạo nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ đầu, Taylor đã có một ý tưởng rõ ràng về những gì cô ấy muốn cho phần hình ảnh của album. Chúng tôi xem xét những tác phẩm Siêu thực, hình tượng vốn đối chọi với hiện thực con người trong tự nhiên. Chúng tôi còn xem xét các kỹ thuật ảnh xưa như autochrome, ambrotype và truyện tranh từ những năm 1940.

— Beth Garrabrant, i-D[94]

Phần hình ảnh album, thiết kế bao bì và video lời bài hát của Folklore được tạo nên dưới hình thức tự tay làm lấy.[12] Swift hợp tác với nhiếp ảnh gia Beth Garrabrant để thực hiện các ảnh bìa mà không cần đến đội ngũ kỹ thuật do lo ngại về COVID-19. Buổi chụp hình đánh dấu sự thay đổi so với những buổi chụp trước đây của Swift, nơi cô sẽ có "100 người trên phim trường, được chỉ huy qua lại theo cách của một tổ chức thời trang". Swift tự tạo hình cho buổi chụp, bao gồm cả tóc, trang điểm và quần áo, và đề ra cho Garrabrant một bảng moodboard trước khi chụp. Theo lời của Swift, buổi chụp hình chỉ có cô và Garrabrant lang thang giữa cánh đồng.[12] Những hình ảnh được thiết lập bởi bộ lọc thang xámđen trắng.[52][95]

Ảnh bìa[sửa | sửa mã nguồn]

Bìa bản tiêu chuẩn là sự phác họa ý tưởng của Swift về hình tượng một người mộng du tiên phong đã xuyên qua khu rừng trong chiếc váy ngủ vào thế kỷ 18.[12] Trong ảnh bìa, Swift đang đứng một mình trong một khu rừng mờ ảo dưới màn sương sớm,[96][97] mặc một chiếc áo khoác dài kẻ sọc hai hàng khuy bên ngoài chiếc váy xòe trắng,[98] nhìn chằm chằm vào đỉnh cây trong rừng.[99] Ở bìa sau, cô đứng quay lưng lại với máy ảnh, mặc một chiếc áo khoác denim có đường viền bằng vải nỉ rũ xuống ôm lấy cánh tay, và một chiếc váy ren trắng, với hai búi tóc được tết lỏng lẻo và thấp về phía gáy, tương tự như búp bê Kirsten Larson của American Girl.[96][98] Tiêu đề album được viết bằng phông chữ la mã in nghiêng gợi liên tưởng đến nét vẽ nguệch ngoạc của Biên niên sử Narnia.[100][101]

Biểu trưng của Folklore

Trong một cuộc phỏng vấn ngày 14 tháng 12 năm 2020, Jimmy Kimmel hỏi Swift về sự hiện diện của từ "Woodvale" trên ảnh bìa phiên bản "Hide And Seek" của Folklore, làm dấy lên nghi ngờ về tiêu đề một album mới sau Evermore; Swift phủ nhận nghi vấn và tuyên bố rằng cô không hề tiết lộ tiêu đề của Folklore cho bất kỳ ai cho đến trước khi phát hành, thay vào đó cô sử dụng "Woodvale" như một mật danh và đặt vào bức ảnh vì sở thích, nhưng vô tình lại được in trong ấn phẩm cuối cùng.[102]

Tính thẩm mỹ và thời trang[sửa | sửa mã nguồn]

Phản ánh chủ đề lời bài hát về chủ nghĩa thoát ly,[103] Folklore cho thấy Swift theo đuổi trường phái thẩm mỹ mộc mạc,[52] thiên về tự nhiên[95]thi vị cho dự án,[98][104] rời xa "lễ hội màu sắc" của tác phẩm tiền nhiệm, Lover (2019).[105] Video ca nhạc cho "Cardigan" được phát triển dựa trên xu hướng thi vị hóa, bắt đầu với cảnh Swift ngồi bên cây đàn piano cổ điển trong một căn nhà tranh ấm cúng trong rừng và mặc một chiếc váy ngủ. Video bao gồm một khu rừng phủ rêu và cây đàn piano tạo thác nước. Swift cũng bày bán những bản sao "áo cardigan folklore" mà cô mặc trong video—một chiếc áo len đan đường vân màu kem, với các ngôi sao thêu bạc trên khuỷu tay áo, đường ống và nút màu xanh nước biển—trên trang web của cô.[98]

W Magazine coi chiếc áo cardigan là "vật bất ly thân" trong khâu thẩm mỹ của Folklore, và cảm thấy rằng tám bức ảnh bìa của album đã cho thấy Swift "vui đùa trong rừng như một nữ hoàng thi vị".[106] Irish Independent viết rằng Swift trở thành một "nghệ nhân viết nhạc dân gian đang giao tiếp với chim chóc và cây cối", mặc một chiếc áo len Aran "kiểu-Clancy Brothers" cồng kềnh.[107] RTÉ cảm ơn Swift vì đã đưa cardigan "trở lại bản đồ một lần nữa".[108] Lưu ý rằng thời đại album của Swift vốn được xác định bởi yếu tố bảng màu, thời trang và văn hóa của riêng họ, Teen Vogue mô tả Folklore như một trang phục đơn giản, có tông màu trung tính, với áo cardigan giúp hiểu được vai trò tình cảm của trang phục.[109] Trào lưu thị vị hóa trải qua thời kỳ trỗi dậy trên Internet sau khi Swift áp dụng xu hướng thẩm mỹ,[110] với doanh số bán áo len đan tay Aran tăng vọt ở Ireland và Hoa Kỳ.[111]

So sánh tác phẩm với những đĩa hát trước của cô, The Guardian mô tả 1989 (2014) là bóng bẩy và uyển chuyển, Reputation (2017) là huyền bí và nguy hiểm, và Lover là vui tươi và phủ màu phấn, trong khi Folklore là câu chuyện đơn sắc của một nhạc sĩ trở về với cội nguồn bình dị.[64] Refinery29 gọi phần thẩm mỹ là sự trở lại của Swift với "bản ngã chân thật nhất" của cô,[98] và so sánh diện mạo mới của nữ ca sĩ với một "Bông hồng Anh cổ điển".[112] Vogue nhận thấy Swift chọn bảng màu mục vụ và thu hút sự tương đồng với video ca nhạc cho đĩa đơn năm 2012 của cô "Safe & Sound".[86] Beats Per Minute cho rằng tính thẩm mỹ gợi nhớ đến tác phẩm của các họa sĩ Grant Wood, Andrew WyethLionel Walden, đặc biệt là American Gothic của Wood.[99] Vulture định nghĩa Folklore là "một bộ phim kinh dị độc lập đen trắng kỳ lạ" thể hiện sự tôn kính đến nhiều bộ phim kinh điển, đặc biệt là phim kinh dị của hãng A24, với những bài hát gợi lên hình ảnh ám chỉ phim ảnh và sự kinh dị.[105] Tính thẩm mỹ của album cũng được so sánh với hình ảnh trong một số bộ phim, bao gồm Thời thơ ấu của Ivan (1962), Chuyến dã ngoại tại Hanging Rock (1975), Dự án phù thủy rừng Blair (1999), Mê cung Thần nông (2006), Sách ma (2014), Phù thủy (2015), Những kẻ khát tình (2017), Woodshock (2017), Ngọn hải đăng (2019), Lễ hội đẫm máu (2019) và Những người phụ nữ bé nhỏ (2019).[86][98][105][113]

Phát hành và quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Folklore đánh dấu lần đầu tiên Swift đi ngược với chiến lược quảng bá album kéo dài của cô trước đây, thay vào đó nữ ca sĩ chọn phát hành album bất ngờ dựa theo trực giác của mình; Swift chia sẻ "nếu bạn làm một điều gì đó bạn thích, bạn chỉ muốn công khai điều đó ngay". Swift lần đầu công bố album trên các tài khoản mạng xã hội của cô chỉ 16 giờ trước khi phát hành.[114] Bản thu âm được phát hành trên tất cả các nền tảng nhạc số vào nửa đêm ngày 24 tháng 7 năm 2020; phiên bản giới hạn đĩa CD sang trọng và đĩa nhựa có tám ảnh bìa khác nhau chỉ được bày bán trong tuần đầu tiên, thông qua trang web của Swift.[1] Phiên bản CD tiêu chuẩn ("In the Trees", cách điệu in thường) của Folklore được phát hành đến các nhà bán lẻ vào ngày 7 tháng 8 năm 2020,[115][116] trong khi bản CD "Meet Me Behind the Mall" (cách điệu in thường) được phân phối độc quyền tại Target.[2] Phiên bản đĩa sang trọng độc quyền của Folklore, với bản nhạc kèm theo "The Lakes", được phát hành đến các nền tảng nhạc số và phát trực tuyến vào ngày 18 tháng 8 năm 2020.[37]

Bắt đầu từ ngày 20 tháng 8 năm 2020, một số lượng hạn chế đĩa CD Folklore có chữ ký đã được chuyển đến các cửa hàng băng đĩa độc lập khác nhau trên khắp Hoa Kỳ và Scotland để hỗ trợ những doanh nghiệp nhỏ trong thời kỳ đại dịch.[117][118] Swift còn gửi những bản sao "áo cardigan folklore" của cô đến những người bạn nổi tiếng và nhà hảo tâm.[119] Cô phát hành bốn tập hợp gồm sáu bài hát trích từ Folklore trên các nền tảng phát nhạc trực tuyến, giải thích rằng "những bài hát trong Folklore phù hợp với các nhóm và 'chương' khác nhau dựa trên cách chúng ăn khớp với nhau theo chủ đề". The Escapism Chapter, The Sleepless Nights Chapter, The Saltbox House ChapterThe Yeah I Showed Up at Your Party Chapter (tất cả đều được cách điệu in thường) lần lượt được phát hành vào các ngày 21 tháng 8, 24 tháng 8, 27 tháng 8 và 21 tháng 9 năm 2020.[120] Album phòng thu thứ chín của Swift, Evermore, là phần tiếp theo của Folklore. Nữ ca sĩ gọi chúng là "những album chị em".[121]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

"Cardigan" được phát hành như đĩa đơn chính của Folklore[122], đi kèm với một video âm nhạc chính thức được đăng tải trên kênh YouTube của Swift, được đạo diễn bởi chính cô và sản xuất bởi Jil Hardin. Cả hai đều được phát hành vào ngày 24 tháng 7 năm 2020, cùng với album.[7] Bài hát được gửi đến các đài phát thanh popadult pop Hoa Kỳ vào ngày 27 tháng 7.[123][124] Bài hát ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, trở thành tác phẩm quán quân thứ sáu và thứ hai trong tuần đầu của Swift.[125] Billboard ghi nhận kế hoạch phát thanh độc đáo được sử dụng cho Folklore, trong đó một số bài hát được quảng bá đồng thời trên nhiều định dạng phát thanh. Trong khi "Cardigan" tác động đến đài phát thanh pop và adult contemporary,[126] "Exile" được gửi đến đài phát thanh adult alternative vào ngày 3 tháng 8 năm 2020, vốn đạt vị trí thứ sáu trước đó trên Hot 100,[125][127] trong khi "Betty" được quảng bá đến các đài phát thanh đồng quê vào ngày 17 tháng 8 năm 2020,[128] sau khi đạt vị trí thứ sáu trên bảng xếp hạng Hot Country Songs.[129] "The 1" tiếp cận đến đài phát thanh hit đương đại ở Đức vào ngày 9 tháng 10 năm 2020;[130] "The 1" đạt vị trí thứ tư trên Hot 100.[125] Vào ngày 24 tháng 7 năm 2021, nhân kỷ niệm năm đầu phát hành Folklore, bản giao hưởng gốc của "The Lakes" được phát hành dưới dạng đĩa đơn quảng bá.[131]

Phim và album trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Một bộ phim tài liệu hòa nhạc có tựa đề Folklore: The Long Pond Studio Sessions, được phát hành vào ngày 25 tháng 11 năm 2020 thông qua Disney+. Tác phẩm được đạo diễn và sản xuất bởi Swift, trong đó cô thể hiện tất cả 17 bài hát của Folklore trong một khung cảnh thân mật tại Long Pong Studio, New York, và chia sẻ những câu chuyện đằng sau mỗi bản nhạc với Antonoff và Dessner.[17] Bên cạnh việc ra mắt phim, album trực tiếp thứ ba của Swift, Folklore: The Long Pond Studio Sessions (From the Disney+ Special), với những phiên bản acoustic từ bộ phim, đã được phát hành trên các nền tảng phát nhạc trực tuyến.[132][133]

Tiếp nhận chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
NguồnĐánh giá
AnyDecentMusic?8.5/10[134]
Metacritic88/100[135]
Nguồn đánh giá
NguồnĐánh giá
AllMusic4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[136]
Chicago Tribune3.5/4 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svg[137]
The Daily Telegraph5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[53]
Entertainment WeeklyA[87]
The Guardian5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[47]
The Independent4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[138]
NME4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[41]
Pitchfork8.0/10[44]
Rolling Stone4.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar half.svg[51]
The Sydney Morning Herald 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[48]

Folklore nhận được sự hoan nghênh rộng rãi từ các nhà phê bình âm nhạc, những người ca ngợi sức nặng cảm xúc và phong cách sáng tác nội tâm của nó,[139] coi đây là tác phẩm êm dịu và tinh tế nhất từ trước đến nay của Swift.[140] Tại Metacritic, nơi ấn định điểm chuẩn hóa 100 dựa trên xếp hạng từ các ấn phẩm âm nhạc, album nhận được điểm trung bình là 88 căn cứ vào 27 bài đánh giá, thể hiện mức độ "hoan nghênh toàn cầu".[135] Folklore được nhiều người đánh giá là album tiên phong của năm 2020,[141] và là album được đánh giá tốt nhất trong sự nghiệp của Swift.[142]

Rob Sheffield của Rolling Stone tán dương khả năng sáng tác của Swift đã làm nổi bật "sự dí dỏm, lòng trắc ẩn và sự đồng cảm sâu sắc nhất" của nữ ca sĩ, khiến Folklore trở thành album gần gũi nhất cho đến nay của cô.[51] Ngoài việc lưu ý đến cách kể chuyện sinh động, được trau chuốt kỹ lưỡng chứa đầy sức tưởng tượng và hình tượng nước Mỹ, Jillian Mapes của Pitchfork coi album là một bước trưởng thành trong nghệ thuật của Swift trong khi vẫn giữ được giá trí cốt lõi của cô như một nhạc sĩ nổi tiếng.[44] Mark Savage của BBC phân loại Folklore là một đĩa nhạc indie đề cập đến những hoài niệm và những sai lầm mang âm hưởng thời đại.[143] Katie Moulton từ Consequence of Sound ghi nhận sự trưởng thành của Swift trong album, đặc biệt là việc sử dụng góc nhìn của người thứ ba vốn không phổ biến trong các tác phẩm trước đây của cô.[85] Những cây bút khác cũng rất ấn tượng với chất trữ tình của album bao gồm Neil McCormick của The Daily Telegraph,[53] Sarah Carson của i,[55] và Giselle Au-Nhien Nguyen của The Sydney Morning Herald,[48] tất cả đều đưa ra điểm đánh giá tối đa cho album. Mô tả Folklore là một nỗ lực táo bạo, Hannah Mylrea của NME ca ngợi khả năng khơi gợi hình ảnh sống động của Swift trong những sáng tác của cô, nhưng nhận thấy có một vài chỗ trì trệ trong tổng thể 16 bài hát,[41] và liệt kê album trong số những bản thu âm mùa thu hay nhất mọi thời đại.[144]

Một số nhà phê bình hoan nghênh hướng đi âm nhạc mới của Swift. Theo lời của Chris Willman từ Variety, album như một lời nhắc nhở rằng Swift nằm trong số ít những ngôi sao nhạc pop sẵn sàng thử nghiệm nhiều phong cách âm nhạc khác nhau.[43] Laura Snapes của The Guardian khen ngợi album vừa có sự gắn kết nhất vừa mang tính thử nghiệm nhất trong số những đĩa hát của Swift.[47] Maura Johnston của Entertainment Weekly coi album là một bước đi táo bạo đối với một ngôi sao nhạc pop như Swift trong việc thách thức khán giả của mình.[87] Roisin O'Connor của The Independent ca ngợi "chất thơ tinh tế, dựa trên piano" của album mà cô thấy không giống với bất kỳ album nào trước đây của nữ ca sĩ.[138]

Stephen Thomas Erlewine của AllMusic nhìn nhận tích cực về album nhưng cảm thấy phong cách âm nhạc không phải là "mánh lới hoàn toàn mới" của Swift.[136] Cùng chia sẻ quan điểm trên, Annie Zaleski của The A.V. Club cho rằng album không hoàn toàn mang tính thử nghiệm, nhưng vẫn thể hiện một khía cạnh mới trong nghệ thuật của Swift.[91] Trong chuyên mục "Định hướng người tiêu dùng" xuất bản trên Substack của mình, Robert Christgau ấn tượng và xúc động nhất với những bản nhạc mang chủ đề tuổi trẻ "Seven" và "Betty" hơn những bài hát trưởng thành, mà ông tóm tắt là "những bài hát pop nhẹ nhàng, trữ tình vốn rất khả quan theo như cách chúng phát triển". Anh chỉ ra "The Last Great American Dynasty" là bài hát duy nhất không thể khoan dung vì bản nhạc khiến anh nhớ đến "quá nhiều về Taylor Swift, kẻ phù phép giới giải trí".[145] Trong một bài đánh giá trái chiều, nhà phê bình Jon Caramanica của The New York Times khen ngợi khả năng sáng tác của Swift nhưng cảm thấy album bị đè nặng bởi chất indie rock "sầu não" và "sáng tác quá tay".[146]

Đánh giá cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều ấn phẩm đã liệt kê Folklore trong danh sách những album hay nhất năm 2020, đứng hạng nhất trong một số xếp hạng. Những bản nhạc "The 1",[147] "Cardigan",[148] "The Last Great American Dynasty",[149] "Exile",[150] "Mirrorball",[69] "Seven",[151] "August",[152] "This Is Me Trying",[153] "Invisible String"[154] và "Betty"[155] cũng được xướng tên trong số những bài hát hay nhất năm 2020.

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Folklore và các bản nhạc từ album đã nhận được năm đề cử tại Lễ trao giải Grammy thường niên lần thứ 63, chiến thắng giải Album của năm. Thánh tích này giúp Swift trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên trong lịch sử ba lần chiến thắng hạng mục và là nghệ sĩ thứ tư nếu tính tổng thể.[257] Album cũng là ứng viên cho Album giọng pop xuất sắc nhất, trong khi "Cardigan" được đề cử cho Trình diễn đơn ca pop xuất sắc nhấtBài hát của năm, đưa Swift trở thành nữ nghệ sĩ được đề cử nhiều nhất ở hạng mục thứ hai với năm lần. "Exile" cũng tranh giải Trình diễn song tấu hoặc nhóm nhạc pop xuất sắc nhất.[258][259]

Tại giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 2020, Swift nhận được bốn đề cử: Nghệ sĩ của năm, Nữ nghệ sĩ Pop/Rock được yêu thích nhất, Video ca nhạc được yêu thích nhất cho "Cardigan" và Album Pop/Rock được yêu thích nhất cho Folklore, và được xướng tên ở ba hạng mục đầu,[260] mở rộng kỷ lục của cô như là nghệ sĩ chiến thắng nhiều nhất trong lịch sử lễ trao giải với 32 giải thưởng Âm nhạc Mỹ.[261] Điều này cũng đánh dấu năm thứ ba liên tiếp Swift được trao giải Nghệ sĩ của năm, và thứ sáu chung cuộc—nghệ sĩ đầu tiên và duy nhất làm được điều này.[262]

Giải thưởng và đề cử cho Folklore
Năm Tổ chức Giải thưởng Kết quả Ng.
2020 Kỷ lục Guinness Thế giới Album có lượng phát trực tuyến ngày đầu nhiều nhất trên Spotify (Nữ) Đoạt giải [263]
Giải thưởng Âm nhạc ARIA Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc nhất (Folklore) Đề cử [264]
Giải E! Sự lựa chọn của Công chúng Album của năm 2020 Đề cử [265]
Giải thưởng Âm nhạc Mỹ Album Pop/Rock được yêu thích nhất Đề cử [260]
Giải thưởng Âm nhạc Đan Mạch Album quốc tế của năm Đoạt giải [266]
Giải Apple Music Nhà viết nhạc của năm (Folklore) Đoạt giải [267]
Giải thưởng Âm nhạc thường niên NetEase Album phương Tây hàng đầu Đoạt giải [268]
Album Nhạc Folk hàng đầu Đoạt giải
2021 Giải Gaffa Album Quốc tế của năm Đề cử [269]
Giải Grammy Album của năm Đoạt giải [270]
Album giọng pop xuất sắc nhất Đề cử
Giải thưởng Đĩa vàng Nhật Bản 3 Album phương Tây xuất sắc nhất Đoạt giải [271]
Giải thưởng Âm nhạc Billboard Album Billboard 200 hàng đầu Đề cử [272]
Giải thưởng Âm nhạc iHeartRadio Album Pop xuất sắc nhất Đoạt giải [273]
Giải Juno Album Quốc tế của năm Đề cử [274]

Diễn biến thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Sở hữu thành tích mở màn cao nhất trên Spotify trong năm 2020, Folklore đạt được hơn 80.6 triệu lượt phát trực tuyến toàn cầu trên nền tảng trong ngày đầu tiên phát hành, được ghi danh một Kỷ lục Guinness Thế giới với Lượt phát trực tuyến ngày đầu lớn nhất cho một album của nữ nghệ sĩ, phá vỡ kỷ lục cũ của Ariana Grande với Thank U, Next.[263] "Cardigan" đứng đầu bảng xếp hạng Spotify toàn cầu với 7.742 triệu lượt nghe—thành tích ngày đầu cao nhất cho một bài hát của nghệ sĩ nữ trong năm 2020.[275] Folklore cũng phá kỷ lục trên Apple Music cho album nhạc pop được phát trực tuyến nhiều nhất trong 24 giờ với 35.47 triệu lượt,[276] và kỷ lục ở thể loại indie/alternative trên Amazon Music.[277]

Republic Records thông báo rằng Folklore đã bán được khoảng 1.3 triệu bản trên toàn thế giới vào ngày đầu tiên ra mắt và hơn hai triệu bản trong tuần đầu tiên.[278][279] Rolling Stone chỉ ra rằng lượt phát trực tuyến của album "trải đều hơn" giữa các bản nhạc của nó, không giống như những album khác trong năm.[280] Spotify liệt kê Swift là nghệ sĩ nữ được phát trực tiếp nhiều thứ hai của năm 2020 trên nền tảng, sau Billie Eilish.[281] Cô cũng là nghệ sĩ được phát trực tuyến hàng đầu của năm trên Amazon Music ở tất cả các thể loại.[282] Vào cuối năm 2020, Folklore bán được hai triệu bản thuần trên toàn cầu.[283] Liên đoàn Công nghiệp ghi âm Quốc tế ghi nhận đây là album bán chạy nhất năm của một nữ nghệ sĩ, trong khi Swift là nghệ sĩ hát đơn và nữ nghệ sĩ bán chạy nhất năm 2020.[284]

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng phát trực tuyến theo yêu cầu trong ngày đầu tiên cho Folklore đạt 72 triệu lượt ở Mỹ, vượt qua kỷ lục của Thank U, Next (55.9 triệu lượt).[280] Album bán được hơn 500,000 đơn vị—bao gồm 400.000 bản thuần—chỉ trong ba ngày đầu phát hành, trở thành album đầu tiên kể từ Lover (2019) của chính Swift cán mốc nửa triệu đơn vị trong một tuần.[285] Folklore ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard 200 và đứng đầu trong tám tuần, trở thành album giữ vị trí quán quân lâu nhất năm 2020. Mở đầu với 846,000 đơn vị, bao gồm 615.000 bản thuần và 289.85 triệu lượt phát trực tuyến theo yêu cầu, sở hữu doanh số tuần và phát trực tuyến lớn nhất năm 2020 (vượt qua Legends Never Die của Juice Wrld) và lớn nhất kể từ Lover. Lượng tiêu thụ chỉ trong tuần đầu tiên của Folklore là đủ để trở thành album bán chạy nhất năm, vượt qua Map of the Soul: 7 của BTS. Swift trở thành người phụ nữ đầu tiên có bảy album ra mắt ở vị trí số một trên Billboard 200, đồng thời đứng thứ ba với Janet Jackson về số album hạng nhất nhiều thứ ba đối với nữ nghệ sĩ.[286] Vượt qua Eminem, cô là nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử Nielsen SoundScan có bảy đĩa hát bán được 500,000 bản trở lên trong một tuần,[286] và là người phụ nữ đầu tiên kể từ Barbra Streisand có sáu album đạt nhiều tuần ở vị trí số một.[287] Album cũng đánh dấu lần đầu tiên Swift xuất hiện trên bảng xếp hạng Alternative Albums, đứng đầu và đánh dấu màn ra mắt lớn nhất trong lịch sử của nó.[288]

Ban nhạc indie-folk Mỹ Bon Iver hợp tác trong bản nhạc thứ tư "Exile", được giới chuyên môn lựa chọn là điểm nhấn của album. Đây là một trong những bài hát xếp hạng cao nhất của Folklore.

Folklore trở thành album đạt một triệu bản nhanh nhất năm 2020.[289] Đĩa nhạc còn trở thành album quán quân lâu nhất của một nghệ sĩ nữ trên Billboard 200 kể từ Reputation của chính cô,[290] và là đĩa hát đầu tiên đứng đầu Billboard 200 trong bốn tuần đầu kể từ 25 (2015) của Adele (2015);[291] Swift trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong thế kỷ 21 có sáu album, mỗi album trải qua bốn tuần đứng đầu bảng xếp hạng.[292] Cô cũng trở thành nghệ sĩ hát đơn/nữ đầu tiên (sau The Beatles) có năm album từng đứng đầu bảng xếp hạng trong sáu tuần trở lên.[293][294] Billboard cho rằng sự thống trị lâu dài của album ở vị trí số một là nhờ vào thời điểm của nó, những bài hát phù hợp với đại dịch và khả năng kết nối người nghe của Swift.[295] Album đưa Swift vượt qua Whitney Houston để trở thành nữ ca sĩ đứng đầu Billboard 200 nhiều tuần nhất từ trước đến nay (47 tuần).[296] Đến tháng 10 năm 2020, Folklore cán mốc một triệu bản thuần được tiêu thụ tại Mỹ, trở thành album duy nhất của năm 2020 làm được điều này và là dự án thứ chín của Swift đạt được cột mốc.[297] Khi Evermore đứng đầu Billboard 200, Folklore vươn lên vị trí thứ ba với 133,000 đơn vị, giúp Swift trở thành nghệ sĩ đầu tiên có hai album, mỗi album đạt 100,000 đơn vị trong cùng một tuần kể từ Prince vào năm 2016,[298] và là người phụ nữ đầu tiên từng lọt vào bảng xếp hạng với hai album cùng lúc trong top 3.[299]

Tất cả 16 bài hát trong album đều ra mắt đồng thời trên Billboard Hot 100, mang lại ba bản hit top 10, năm lọt vào top 20 và mười ở top 40. Đĩa đơn chủ đạo "Cardigan" ra mắt ở hạng nhất, trở thành đĩa đơn quán quân thứ sáu của Swift, giúp cô trở thành nghệ sĩ đầu tiên đứng đầu Billboard 200 và Hot 100 trong tuần đầu xuất hiện. Cô cũng là nghệ sĩ đầu tiên ra mắt đồng thời hai bài hát trong top 4 và ba trong top 6, với "The 1" ở vị trí thứ tư và "Exile" ở vị trí thứ sáu, giúp gia tăng tổng số lượt đĩa đơn trong top 10 của Swift lên 28, trong đó có 18 lần ra mắt trong top 10. Folklore là album thứ hai liên tiếp của cô với tất cả các bản nhạc đồng thời lọt vào bảng xếp hạng trên Hot 100, sau Lover.[300] Swift trở thành nghệ sĩ phụ nữ có số lần ra mắt đồng thời trên Hot 100 nhiều nhất từ trước đến nay (16 lần), phá vỡ kỷ lục của chính cô do Lover thiết lập, và vượt qua Nicki Minaj để trở thành người phụ nữ có nhiều bài xuất hiện trên Hot 100 nhất, với tổng số 113.[301] 11 trong số những bài hát lọt vào bảng xếp hạng Hot Rock & Alternative Songs, lập kỷ lục cho số lượng tác phẩm trong top 10 nhiều nhất bởi một nghệ sĩ, với tám.[288]

Trên bảng xếp hạng Billboard cuối năm 2020, Swift là nữ nghệ sĩ hàng đầu của năm, lần thứ năm trong sự nghiệp của cô. Cô còn là người phụ nữ duy nhất lọt vào top 10 của danh sách Billboard 200 cuối năm.[302] Swift hoặc Folklore tiếp tục đứng ở vị trí số một trên bảng xếp hạng Top Album Sales, Tastemaker Albums, Alternative Albums, Hot Rock & Alternative Songs Artists và Billboard 200 Female Artists. 11 bài hát từ Folklore lọt vào bảng xếp hạng Hot Rock & Alternative Songs cuối năm—nhiều nhất với bất kỳ nghệ sĩ hoặc album nào.[303] Swift được xếp hạng là nghệ sĩ nữ được phát trực tuyến nhiều nhất trên Spotify Hoa Kỳ trong năm 2020,[281] và là nghệ sĩ được tiêu thụ nhiều nhất trong năm, với tổng cộng 3.5 triệu đơn vị (bao gồm 1.3 triệu bản).[304] Là album bán chạy nhất năm 2020 tại Mỹ, Folklore đạt được 2.3 triệu đơn vị bao gồm 1.276 triệu bản thuần,[305][306] giúp Swift trở thành nghệ sĩ đầu tiên sở hữu nhiều album bán chạy nhất năm nhất với năm lần, sau Fearless (2009), 1989 (2014), Reputation (2017) và Lover (2019).[307] Ngoài ra, Folklore là album bán chạy thứ sáu trong nửa đầu năm 2021, với 153,000 bản được tiêu thụ.[308]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Canada, Folklore mở màn ở vị trí đầu bảng trên Billboard Canadian Albums với tư cách là album quán quân thứ bảy liên tiếp của Swift, và trải qua bốn tuần đứng đầu bảng xếp hạng. Tất cả 16 bài hát của album đều ra mắt đồng thời trên bảng xếp hạng Canadian Hot 100, với "Cardigan", "Exile" và "The 1" lọt vào top 10.[309][310] Folklore xếp thứ 9 trong danh sách Top Canadian Albums cuối năm 2020; Swift là người phụ nữ duy nhất có hai album lọt vào top 15, với Lover ở vị trí thứ 13.[303]

Tại Vương quốc Anh, Folklore ra mắt ở vị trí số một trên UK Albums Chart với 37,000 bản, vượt qua Music To Be Murdered By của Eminem về lượng tiêu thụ nhạc số lớn nhất trong một tuần của năm 2020. Fiolklore trở thành album quán quân thứ năm liên tiếp của Swift, giúp cô là một trong số năm nghệ sĩ nữ với ít nhất năm đĩa hát dẫn đầu tại quốc gia—sau Madonna, Kylie Minogue, Barbra Streisand và Celine Dion—và là nghệ sĩ nữ đầu tiên làm được điều này trong thế kỷ 21.[311][312] Trở thành album đầu tiên của Swift đứng đầu bảng xếp hạng nhiều tuần liền, Folklore giữ vị trí quán quân trong ba tuần liên tiếp.[313] Trên UK Singles Chart, "Cardigan", "Exile" và "The 1" lần lượt mở màn ở hạng sáu, tám và mười, nâng tổng số bản hit vươn đến top 10 tại Vương quốc Anh của Swift lên 16[314] và trở thành người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Anh quốc ra mắt cùng lúc ba bài hát trong top 10.[315] Folklore là album được tải xuống nhiều nhất ở Vương quốc Anh năm 2020.[316] Sau khi được phát hành đĩa than, album dẫn đầu Official Vinyl Albums Chart.[317]

Tại Ireland, Folklore đứng vị trí số một trên Irish Albums Chart, thiết lập tuần mở màn lớn nhất năm 2020 tại đây và vượt trội so với phần còn lại của top 5 cộng lại. Swift trở thành nữ nghệ sĩ hát đơn đầu tiên có năm album đứng đầu ở Ireland trong thế kỷ 21. Folklore đứng đầu trong bốn tuần, trở thành album quán quân lâu nhất của Swift ở Ireland. "Exile", "Cardigan" và "The 1" lần lượt xuất hiện ở các vị trí thứ ba, thứ tư và thứ bảy trên Irish Singles Chart, nâng tổng số bản nhạc lọt top 10 trong sự nghiệp của Swift lên con số 15.[318][319][320] Folklore là album đạt hạng nhất nhiều tuần nhất năm 2020 và được tải nhiều nhất năm ở Ireland.[321] Đĩa nhạc cũng đạt vị trí quán quân tại nhiều lãnh thổ châu Âu khác, bao gồm Bỉ, Séc, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Na Uy và Thụy Sĩ.

Tại Trung Quốc, album bán được hơn 200,000 bản trong sáu giờ đầu ra mắt và khoảng 740,000 bản trong tuần đầu ra mắt, ngay lập tức trở thành album bán chạy nhất và nhanh nhất năm 2020 của một nghệ sĩ phương Tây.[322][323] Folklore được chứng nhận Kim cương bởi QQ Music, đưa Swift trở thành nghệ sĩ phương Tây đầu tiên có bốn album—với Reputation, 1989 (2014) và Lover—đạt được cột mốc này.[322] Đây là album tiếng Anh được phát trực tuyến nhiều nhất trên nền tảng trong năm 2020.[324] Tại Malaysia, Folklore sản sinh chín bản hit top 20 trên bảng xếp hạng RIM Singles, với "Cardigan", "Exile", "The 1", "My Tears Ricochet" và "The Last Great American Dynasty" lọt vào top 10.[325] Tại Singapore, 14 bài hát trong album đổ bộ lên bảng xếp hạng RIAS Singles, 11 trong số đó lọt vào top 20 và 5 trong top 10.[326]

Tại Úc, Folklore đứng đầu ARIA Albums Chart; đây là album thứ sáu của Swift làm được điều này, giúp cô sở hữu nhiều đĩa hát quán quân hơn bất kỳ nghệ si nào trong giai đoạn 2010-2020.[327] 16 bài hát của album cùng nhau lọt vào top 50 của ARIA Singles Chart, phá vỡ kỷ lục mọi thời đại về số lần ra mắt nhiều nhất trong một tuần, nắm giữ trước đó Post MaloneEd Sheeran. "Cardigan" trở thành bản hit quán quân thứ sáu của Swift tại đây, trong khi "Exile", "The 1", "The Last Great American Dynasty" và "My Tears Ricochet" lọt vào top 10; Swift trở thành nghệ sĩ có nhiều bản hit trong top 10 nhất ở Úc năm 2020.[328] Folklore đứng đầu bảng trong bốn tuần liên tiếp; đây là album quán quân tại Úc lâu nhất của Swift kể từ 1989, và là album duy nhất trong năm 2020 đứng đầu trong hơn hai tuần,[329][330] và là album bán chạy nhất năm 2020 bởi một nghệ sĩ nữ.[331]

Tại New Zealand, Folklore ra mắt ở vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Official Top 40 Albums và giành hai tuần đứng đầu.[332][333] "Cardigan", "Exile" và "The 1" lọt vào top 10 của bảng xếp hạng Official Top 40 Singles, bên cạnh "The Last Great American Dynasty" đứng thứ 13.[334] Trong danh sách album cuối năm 2020 của RMNZ, Folklore xuất hiện ở vị trí thứ 7, với album trước Lover ở vị trí thứ 22, khiến Swift trở thành người phụ nữ duy nhất có nhiều album trong top 25.[335]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Việc Swift phát hành Folklore đã làm bùng nổ sự quan tâm rộng rãi, đầy đột ngột đối với thuật ngữ "văn hóa dân gian" trên internet. Để đáp lại sự phổ biến đại chúng này, Hiệp hội Văn hóa Dân gian Hoa Kỳ thành lập trang web "Văn hóa dân gian là gì" và tiến hành một chiến dịch trực tuyến để giáo dục mọi người về những nghiên cứu văn hóa dân gian. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian được tuyển dụng để quảng bá lĩnh vực học thuật đến công chúng thông qua mạng xã hội.[336]

Folklore được bối cảnh hóa như một dự án phong tỏa ngay khi phát hành,[337] và gây được tiếng vang là album cách ly nguyên mẫu.[338] The Guardian cho rằng Folklore đánh dấu sự nghỉ ngơi sau những sự kiện hỗn loạn, chuyển đổi những cảm xúc đen tối thành một thứ gì đó đẹp đẽ.[64] The Daily Telegraph gọi đĩa hát là "một chiến thắng lệnh phong tỏa đầy tinh tế và đồng cảm".[53] NME viết rằng album sẽ được ghi nhớ là "album phong tỏa tinh túy" và "đem lại cảm giác như bản nhạc đệm hoàn hảo cho sự cô đơn kỳ lạ" vào năm 2020.[214][339] Cảm nhận những suy nghĩ tương tự, Insider nhận định rằng Folklore sẽ được biết đến như "một kiệt tác thực sự của thời kỳ phong tỏa".[194] Rolling Stone dự đoán rằng Folklore có thể đi vào lịch sử với tư cách là "album cách ly đúng nghĩa" vì mang lại sự thoải mái và thanh lọc "ngay khi chúng ta cần nhất".[227]

Billboard tuyên bố rằng album sẽ được trân trọng như một trong những bản thu âm có ảnh hưởng nhất của Swift bởi cách đĩa nhạc đi trước thời đại chưa từng có và giải phóng người nghe khỏi cuộc sống giãn cách xã hội đơn điệu.[6] Uproxx lưu ý cách Folklore thay đổi sắc thái âm nhạc như thế nào trong năm 2020,[340] và đề cập thêm rằng tác động của Folklore đối với bối cảnh văn hóa trong năm là "không thể đo lường được".[243] Clash ghi nhận Swift trong việc làm dịu đi sự khởi đầu bi thảm của thập niên 2020, bằng cách sử dụng "một album mùa đông để phát hành vào giữa mùa hè" đã "buộc chúng ta phải sống chậm lại và nhìn nhận chúng ta đang ở đâu trong tình yêu và cuộc sống".[341] Trong danh sách trao giải các tác phẩm sáng tạo nhất và định hình giai đoạn cách ly, Vulture gọi Folklore là "Hình thức Âm nhạc Phá cách nhất" năm 2020: Một album nói về sự cô đơn, giàu có với "những kiểu suy nghĩ mà chúng ta cố gắng giữ cho riêng mình".[342] Vogue cũng liệt kê album nằm trong số những khoảnh khắc đẹp nhất của văn hóa phong tỏa.[343]

The Week gọi Folklore là "nghệ thuật đại dịch đầu tiên" khi đặt ra "tiêu chuẩn cao" cho các dự án về đại dịch trong tương lai.[344] Đồng ý với quan điểm trên, Financial Times gọi đây là "album phong tỏa đỉnh cao đầu tiên",[345] trong khi Hot Press gọi đĩa hát là "album tuyệt vời đầu tiên của kỷ nguyên phong tỏa".[190] Đánh giá dựa trên thành công chuyên môn và thương mại, Tom Hull kết luận rằng Swift "bắt được tinh thần của thời đại" với "những bài hát dài, dễ chịu, phức tạp" của Folklore.[346] Billboard gọi FolkloreEvermore là ví dụ điển hình về những album sáng tạo từ việc các nghệ sĩ buộc phải thay đổi quy trình sáng tạo của họ trong thời kỳ đại dịch, đồng thời nêu bật lên cách tiếp cận độc đáo của Swift trong việc tạo ra Folklore.[347] Yahoo! viết rằng Swift trở thành tiếng nói của năm 2020 bằng cách chạm vào "cốt lõi của cuộc khủng hoảng văn hóa" với hai album thể hiện cảm giác về một đại dịch lịch sử, và cân nhắc liệu "chúng ta có thể nghe FolkloreEvermore mà không phải liên tưởng về năm 2020 hay không".[141]

Folklore là album nổi tiếng nhất năm 2020 trên Genius.[348] Swift cũng là nghệ sĩ được tìm kiếm nhiều nhất năm 2020 trên nền tảng, với lời bài hát của nữ ca sĩ thu về tổng số 31 triệu lượt xem.[349] Cô còn là nghệ sĩ hát đơn được trả thù lao cao nhất thế giới năm 2020,[350] và cao nhất ở Hoa Kỳ.[351] Vào tháng 1 năm 2021, Hayley Williams của Paramore phát hành album phòng thu thứ hai của cô, Flowers for Vases / Descansos, được Williams mô tả là phiên bản Folklore của riêng mình.[352] Phoebe Bridgers gợi ý rằng đĩa hát tiếp theo của cô có thể được lấy cảm hứng từ album.[353] Nhiều nhà phê bình ghi nhận ảnh hưởng của Folklore trong đĩa đơn đầu tay của Olivia Rodrigo "Drivers License".[354][355] Ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Tây Ban Nha Zahara phát hành một bài hát có tựa đề "Taylor" để tri ân Swift và ghi nhận Folklore đã khuyến khích cô sáng tác lại sau nhiều tháng cách ly.[356]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phần thực hiện được trích từ ghi chú album[357]Tidal.[358]

Folklore – Bản tiêu chuẩn
STTTựa đềSáng tácSản xuấtThời lượng
1."The 1"Dessner3:30
2."Cardigan"
  • Swift
  • Dessner
Dessner3:59
3."The Last Great American Dynasty"
  • Swift
  • Dessner
Dessner3:51
4."Exile" (hợp tác với Bon Iver)
  • Dessner
  • Joe Alwyn
4:45
5."My Tears Ricochet"Swift
4:15
6."Mirrorball"
  • Swift
  • Antonoff
  • Swift
  • Antonoff
3:29
7."Seven"
  • Swift
  • Dessner
Dessner3:28
8."August"
  • Swift
  • Antonoff
  • Swift
  • Antonoff
  • Alwyn
4:21
9."This Is Me Trying"
  • Swift
  • Antonoff
  • Swift
  • Antonoff
  • Alwyn
3:15
10."Illicit Affairs"
  • Swift
  • Antonoff
  • Swift
  • Antonoff
  • Alwyn
3:10
11."Invisible String"
  • Swift
  • Dessner
Dessner4:12
12."Mad Woman"
  • Swift
  • Dessner
Dessner3:57
13."Epiphany"
  • Swift
  • Dessner
Dessner4:49
14."Betty"
  • Swift
  • Bowery
  • Swift
  • Dessner
  • Antonoff
  • Alwyn
4:54
15."Peace"
  • Swift
  • Dessner
Dessner3:54
16."Hoax"
  • Swift
  • Dessner
Dessner3:40
Tổng thời lượng:63:29
Folklore – Bản sang trọng[37]
STTTựa đềSáng tácSản xuấtThời lượng
17."The Lakes"
  • Swift
  • Antonoff
  • Swift
  • Antonoff
3:32
Tổng thời lượng:67:01
Folklore– Bản đặc biệt tại Nhật (DVD kèm theo)[359][360]
STTTựa đềĐạo diễnThời lượng
1."Cardigan" (video ca nhạc)Taylor Swift4:35
2."The 1" (video lời bài hát) 3:32
3."Cardigan" (video lời bài hát) 4:01
4."The Last Great American Dynasty" (video lời bài hát) 3:52
5."Exile (hợp tác với Bon Iver)" (video lời bài hát) 4:47
6."My Tears Ricochet" (video lời bài hát) 4:17
7."Mirrorball" (video lời bài hát) 3:30
8."Seven" (video lời bài hát) 3:30
9."August" (video lời bài hát) 4:24
10."This Is Me Trying" (video lời bài hát) 3:16
11."Illicit Affairs" (video lời bài hát) 3:12
12."Invisible String" (video lời bài hát) 4:14
13."Mad Woman" (video lời bài hát) 3:59
14."Epiphany" (video lời bài hát) 4:51
15."Betty" (video lời bài hát) 4:56
16."Peace" (video lời bài hát) 3:55
17."Hoax" (video lời bài hát) 3:42
Tổng thời lượng:68:33

Album tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Folklore: The Escapism Chapter[361]
STTTựa đềThời lượng
1."The Lakes"3:32
2."Seven"3:28
3."Epiphany"4:49
4."Cardigan"3:59
5."Mirrorball"3:29
6."Exile" (hợp tác với Bon Iver)4:45
Tổng thời lượng:24:02
Folklore: The Sleepless Nights Chapter[362]
STTTựa đềThời lượng
1."Exile" (hợp tác với Bon Iver)4:45
2."Hoax"3:40
3."My Tears Ricochet"4:15
4."Illicit Affairs"3:10
5."This Is Me Trying"3:15
6."Mad Woman"3:57
Tổng thời lượng:23:02
Folklore: The Saltbox House Chapter[363]
STTTựa đềThời lượng
1."The Last Great American Dynasty"3:50
2."August"4:21
3."The 1"3:30
4."Seven"3:28
5."Peace"3:54
6."Betty"4:54
Tổng thời lượng:23:57
Folklore: The Yeah I Showed Up at Your Party Chapter[364]
STTTựa đềThời lượng
1."Betty" (trực tiếp từ giải Hàn lâm Nhạc đồng quê năm 2020)5:12
2."The 1"3:30
3."Mirrorball"3:29
4."The Last Great American Dynasty"3:50
5."Invisible String"4:12
6."Cardigan"3:59
Tổng thời lượng:24:14
Ghi chú
  • Tất cả tựa đề bài hát đều được viết cách điệu bằng chữ in thường.

Những người thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin lấy từ Pitchfork,[33] Tidal,[358] và ghi chú album.[357]

Âm nhạc

  • Taylor Swift – hát chính
  • Aaron Dessner – piano (1–4, 7, 11–16), guitar acoustic (1, 7, 11, 12, 16), guitar điện (1–4, 11–14, 16), lập trình trống (1–4, 7, 11, 12), Mellotron (1, 2, 11, 13, 15), OP-1 (1, 4, 16), synth bass (1, 16), bộ gõ (2–4, 7, 11, 12, 14), bass (2, 3, 7, 11, 12, 14, 15), synthesizer (2–4, 7, 11–13, 15), guitar trượt (3), bàn phím (3), guitar dây cao (14), thu âm ngoài phòng thu (15), drone (15)
  • Bryce Dessnercải biên cho dàn nhạc (1–4, 7, 11–13)
  • Thomas Bartlett – synthesizer (1), OP-1 (1)[e]
  • Jason Treuting – bộ gõ (1)[e]
  • Yuki Numata Resnick – viola (1, 2, 7, 11, 12), violin (1, 2, 7, 11, 12)
  • Benjamin Lanz – synthesizer nhiều mô-đun (2)
  • Dave Nelson – trombone (2, 13)[e]
  • James McAlister – lập trình trống (2, 11), lập trình beat (12), synthesizer (12), bộ gõ bằng tay (12), trống (12)[e]
  • Clarice Jensen – cello (2, 7, 11–13)[e]
  • Rob Moose – cải biên cho dàn nhạc (3, 16), violin (3, 4, 16), viola (3, 4, 16)[e]
  • JT Bates – trống (3, 7, 13)[e]
  • Justin Vernon – hát chính (4), pulse (15)[e]
  • Jack Antonoff – biểu diễn trống trực tiếp (5, 6, 8–10, 14), bộ gõ (5, 6, 8–10, 14), lập trình (5, 6, 8–10), guitar điện (5, 6, 8–10, 14), bàn phím (5, 6, 8–10), piano (5), bass (5, 8–10, 14), hát đệm (5, 6, 9, 10), guitar acoustic (6, 8, 14), B3 (6, 14), organ (9), Mellotron (14)
  • Evan Smith – saxophone (5, 8–10, 14), bàn phím (5, 8–10), lập trình (5), sáo (8), guitar điện (8, 10), accordion (10), hát đệm (10), clarinet (14)
  • Bobby Hawk – bộ dây (5, 8, 9)
  • Bryan Devendorf – lập trình trống (7)[e]
  • Jonathan Low – synth bass (8)[e]
  • Mikey Freedom Hart – guitar pedal thép (10, 14), Mellotron (14), Wurlitzer (14), harpsichord (14), vibraphone (14), guitar điện (14)
  • Kyle Resnick – trumpet (13)[e]
  • Josh Kaufman – harmonica (14), guitar điện (14), guitar lap steel (14)[e]

Kỹ thuật

  • Jonathan Low – thu âm (1–4, 7, 11–16), phối khí (1–4, 7, 8, 11, 15, 16)
  • Aaron Dessner – thu âm (1–4, 7, 11–16), thu âm bổ sung (2, 11)
  • Laura Sisk – thu âm (5, 6, 8–10, 14), thu âm giọng hát (1–3; của Swift trong bài 4; 13, 15, 16)
  • Jack Antonoff – sản xuất (5, 6, 8–10, 14)
  • Bella Blasko – sản xuất bổ sung (2)
  • Justin Vernon – sản xuất giọng hát (cho Bon Iver trong bài 4)
  • John Rooney – trợ lý kỹ sư (5, 9, 14)
  • Jon Sher – trợ lý kỹ sư (5, 9)
  • Serban Ghenea – phối khí (5, 6, 9, 10, 12–14)
  • John Hanes – kỹ sư phối khí (5, 6, 9, 10, 12–14)
  • Randy Merrill – master (tất cả bài hát)

Thu âm nhạc cụ bổ sung[f]

  • Kyle Resnick – viola (1, 2, 7, 11–13), violin (1, 2, 7, 11–13)
  • Bella Blasko – synthesizer nhiều mô-đun (2)
  • Lorenzo Wolff – bộ dây (5, 9)
  • Mike Williams – bộ dây (8)
  • Jon Gautier – bộ dây (8)
  • Benjamin Lanz – trombone (13)

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[411] Bạch kim 70.000^
Canada (Music Canada)[412] Không có 175,000[413]
Đan Mạch (IFPI Denmark)[414] Bạch kim 20.000^
Nhật (RIAJ)[415] Không có 14,000[416]
New Zealand (RMNZ)[417] Bạch kim 15.000^
Anh (BPI)[418] Vàng 100.000^
Hoa Kỳ (RIAA)[419] Bạch kim 2,100,000[306][308]

^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng
double-daggerChứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ/stream

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Định dạng phát hành của Folklore
Khu vực Ngày phát hành Định dạng Phiên bản Nhãn hiệu Ng.
Nhiều quốc gia 24 tháng 7, 2020 Tiêu chuẩn [420]
Vương quốc Anh 4 tháng 8, 2020 CD Sang trọng EMI [421]
Nhiều quốc gia 7 tháng 8, 2020 Republic [116]
Nhật Bản CD [422]
Đặc biệt [359]
Nhiều quốc gia 18 tháng 8, 2020
  • Tải kĩ thuật số
  • streaming
Sang trọng Republic [37]
21 tháng 8, 2020 The Escapism Chapter [361]
24 tháng 8, 2020 The Sleepless Nights Chapter [362]
27 tháng 8, 2020 The Saltbox House Chapter [363]
21 tháng 9, 2020 The Yeah I Showed Up at Your Party Chapter [364]
25 tháng 11, 2020 Bản trực tiếp [423]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảy ảnh bìa khác nhau cho những phiên bản đĩa vật lý giới hạn được tiêu thụ từ doanh nghiệp đến khách hàng,[1] bao gồm một phiên bản phát hành độc quyền bởi Target.[2]
  2. ^ Chỉ phát hành trên đài phát thanh alternative
  3. ^ Chỉ phát hành trên đài phát thanh nhạc đồng quê
  4. ^ Chỉ phát hành trên đài phát thanh hit đương đại
  5. ^ a b c d e f g h i j k l Nghệ sĩ này cũng được ghi nhận là đã tự thu âm phần nhạc cụ của chính mình.
  6. ^ Một số nghệ sĩ cũng được ghi nhận là đã tự thu âm phần nhạc cụ của chính họ, như đã ghi chú ở mục 'Âm nhạc'.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Haylock, Zoe (23 tháng 7 năm 2020). “Which of Taylor Swift's 8 Folklore Covers Are You?”. Vulture. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  2. ^ a b “Taylor Swift – folklore (Target Exclusive, CD)”. Target (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  3. ^ a b Lipshutz, Jason (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore': There's Nothing Quiet About This Songwriting Tour De Force”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  4. ^ O'Kane, Caitlin (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift announces surprise album, recorded "in isolation". CBS News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  5. ^ Shah, Neil (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's New Album 'Folklore' Is Making a Surprise Debut”. The Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  6. ^ a b c d “The 50 Best Albums of 2020: Staff Picks”. Billboard. 7 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2020.
  7. ^ a b Reilly, Nick (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift to release surprise eighth album 'Folklore' tonight”. NME. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020.
  8. ^ a b c Sheffield, Rob (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Leaves Her Comfort Zones Behind on the Head-Spinning, Heartbreaking 'Folklore'. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  9. ^ a b Cohen, Jess (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's Folklore Album Lyrics Decoded: Love, Loss and a "Mad Woman". E!. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
  10. ^ Kircher, Madison Malone (24 tháng 7 năm 2020). “Wrap Yourself Up in Taylor Swift's 'cardigan' Music Video”. Vulture. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
  11. ^ Cosores, Philip (27 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore' Burns Bright In Dark Times”. UPROXX (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  12. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q Suskind, Alex (9 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift broke all her rules with 'Folklore' — and gave herself a much-needed escape”. Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  13. ^ Warner, Denise (25 tháng 11 năm 2020). “11 Things We Learned From Taylor Swift's 'Folklore: The Long Pond Studio Sessions'. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  14. ^ a b c d e f g Doyle, Patrick (13 tháng 11 năm 2020). “Musicians on Musicians: Taylor Swift & Paul McCartney”. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  15. ^ a b c 'It Started With Imagery': Read Taylor Swift's Primer For 'Folklore'. Billboard. 24 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  16. ^ Kaufman, Gil (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift 'Folklore' Collaborator Reveals How They Wrote Songs in Just Hours”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020.
  17. ^ a b Blistein, Jon (24 tháng 11 năm 2020). “Taylor Swift to Release New 'Folklore' Film, 'The Long Pond Studio Sessions'. Rolling Stone. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2020.
  18. ^ “Taylor Swift unveils William Bowery's identity, and more revelations from 'Folklore' concert film”. EW.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  19. ^ a b c d e f Sodomsky, Sam (24 tháng 7 năm 2020). “The National's Aaron Dessner Talks Taylor Swift's New Album folklore”. Pitchfork. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2020.
  20. ^ “jack antonoff on Instagram: "folklore :: working with taylor is a full connection to all of the wonder of making music. knowing her and making work with her gives me…". Instagram (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  21. ^ Hess, Liam (27 tháng 11 năm 2020). “5 Things We Learned Watching Taylor Swift's Surprise New Folklore Documentary”. British Vogue (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  22. ^ Kaufman, Gil (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Was Bummed About Her Summer Plans Not Panning Out, So She's Releasing a New Album... Tonight”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020.
  23. ^ a b c d e f g h i j k l m n Gerber, Brady (27 tháng 7 năm 2020). “The Story Behind Every Song on Taylor Swift's folklore”. Vulture (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  24. ^ a b c d e f Blistein, Jon (24 tháng 7 năm 2020). “How Aaron Dessner and Taylor Swift Stripped Down Her Sound on 'Folklore'. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2020.
  25. ^ Havens, Lyndsey (17 tháng 9 năm 2020). 'There Were Fireworks, Musically': Aaron Dessner Opens Up About Making 'Folklore' With Taylor Swift”. Billboard. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2020.
  26. ^ Blistein, Jon (23 tháng 7 năm 2020). “Hear Taylor Swift's New Album 'Folklore'. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2020.
  27. ^ Kaufman, Gil (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Was Bummed About Her Summer Plans Not Panning Out, So She's Releasing A New Album... Tonight”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2020.
  28. ^ Bailey, Alyssa (24 tháng 7 năm 2020). “Is Taylor Swift's Boyfriend Joe Alwyn Credited as William Bowery on 'Folklore'?”. Elle (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  29. ^ O'Connor, Roisin (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift fans are trying to work out who the mysterious William Bowery is”. The Independent (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  30. ^ Aubrey, Elizabeth (25 tháng 11 năm 2020). “Taylor Swift confirms the identity of 'Folklore' song co-writer William Bowery”. NME. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2020.
  31. ^ “Taylor Swift confirms boyfriend Joe Alwyn is mystery Folklore co-writer”. BBC (bằng tiếng Anh). 25 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  32. ^ Cohen, Jonathan (23 tháng 7 năm 2020). “Who Is Aaron Dessner, Taylor Swift's Main Collaborator on 'Folklore'?”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020.
  33. ^ a b c Strauss, Matthew; Minsker, Evan (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Releases New Album folklore: Listen and Read the Full Credits”. Pitchfork. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  34. ^ Richard, Will (26 tháng 7 năm 2020). “Aaron Dessner says he kept Taylor Swift collaboration secret from 8-year-old daughter”. NME. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2020.
  35. ^ Shaffer, Claire (31 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's Cinematographer: How We Shot 'Folklore' Video During a Pandemic”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
  36. ^ “Taylor Swift on Instagram”. Instagram. Taylor Swift. 24 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2020.
  37. ^ a b c d Kaufman, Gil (18 tháng 8 năm 2020). “Listen to a Delightful Bonus Song From the Deluxe Edition of Taylor Swift's 'Folklore'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2020.
  38. ^ Urbanek, Sydney (26 tháng 11 năm 2020). “Folklore: The Long Pond Studio Sessions review – A triumphant debut from Taylor Swift”. Little White Lies (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  39. ^ a b Grein, Paul (4 tháng 8 năm 2020). “Will the Grammys Classify Taylor Swift's 'Folklore' as Pop or Alternative?”. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2020.
  40. ^ a b Bruner, Raisa; R. Chow, Andrew (27 tháng 11 năm 2020). “The 10 best albums of 2020”. Time. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2020.
  41. ^ a b c d e f g h i j Mylrea, Hannah (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift – 'Folklore' review: pop superstar undergoes an extraordinary indie-folk makeover”. NME. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  42. ^ Ryan, Gary (9 tháng 3 năm 2021). “The best lockdown albums – ranked on order of greatness”. NME (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  43. ^ a b c d e f g h i Willman, Chris (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore': Album Review”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  44. ^ a b c d e f Mapes, Jillian (27 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift: folklore”. Pitchfork. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.
  45. ^ a b c “The 60 Best Albums of 2020”. PopMatters. 7 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2020.
  46. ^ a b c Johnson, Ellen (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Morphs Her Sound Yet Again on the Stunning folklore”. Paste (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  47. ^ a b c d e f g h i j k Snapes, Laura (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift: Folklore review – bombastic pop makes way for emotional acuity”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  48. ^ a b c d e f g h Nguyen, Giselle Au-Nhien (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's new album is a fever dream you won't want to wake up from”. The Sydney Morning Herald. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  49. ^ Bell, Kaelen (27 tháng 7 năm 2020). “Despite Her Best Efforts, Taylor Swift's 'folklore' Is Still a Pop Album”. Exclaim!. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2021.
  50. ^ Petrusich, Amanda (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's Intimate 'Indie' Album, 'Folklore'. The New Yorker. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2020.
  51. ^ a b c d e Sheffield, Rob (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Leaves Her Comfort Zones Behind on the Head-Spinning, Heartbreaking 'Folklore'. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  52. ^ a b c d Keefe, Jonathan (27 tháng 7 năm 2020). “Review: With Folklore, Taylor Swift Mines Pathos from a Widening Worldview”. Slant (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  53. ^ a b c d e f g h McCormick, Neil (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift, Folklore review: an exquisite, empathetic lockdown triumph”. The Daily Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  54. ^ “folklore by Taylor Swift”. Apple Music (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  55. ^ a b c d e f Carsom, Sarah (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift, Folklore, review: a dazzling, timeless surprise album”. i. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  56. ^ a b McKenna, Lyndsey (24 tháng 7 năm 2020). “Stream Taylor Swift's New Album, 'Folklore'. NPR (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  57. ^ a b c Sumsion, Michael (29 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Abandons Stadium-Pop for a New Tonal Approach on 'Folklore'. PopMatters (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  58. ^ a b c d Kornhaber, Spencer (28 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Is No Longer Living in the Present”. The Atlantic (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  59. ^ Cragg, Michael (7 tháng 8 năm 2020). “Charli XCX to Taylor Swift: 10 of the best albums made in lockdown”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2020.
  60. ^ a b Princiotti, Nora (24 tháng 7 năm 2020). “The 'Folklore' FAQ”. The Ringer (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  61. ^ Campbell, Caleb (29 tháng 7 năm 2020). “Folklore”. Under The Radar (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  62. ^ Angulo, Ingrid (26 tháng 8 năm 2020). “Review: 'Folklore' by Taylor Swift”. The Huntington News. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2020.
  63. ^ McCready, Marina (9 tháng 9 năm 2020). “Folklore: a lyrical ode to escapism”. Varsity. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2020.
  64. ^ a b c d Bromwich, Kathryn (8 tháng 12 năm 2020). “The 50 best albums of 2020, No 9: Taylor Swift – Folklore”. The Guardian (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  65. ^ a b “The 50 Best Albums of 2020”. Pitchfork. 8 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2020.
  66. ^ “Let's Talk About Taylor Swift's 'Folklore'. NPR (bằng tiếng Anh). 28 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  67. ^ a b c d e f g h i j k l m n Ahlgrim, Callie (30 tháng 7 năm 2020). “Every detail and Easter egg you may have missed on Taylor Swift's new album 'Folklore'. Insider. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2020.
  68. ^ Opperman, Jeff (12 tháng 3 năm 2021). “Taylor Swift Is Bringing Us Back to Nature”. The New York Times. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2021.
  69. ^ a b Willman, Chris (1 tháng 1 năm 2021). “Year in Review: The Best Songs of 2020”. Variety (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  70. ^ Ahlgrim, Callie; Larocca, Courteney (25 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore' might be the best album of her entire career”. Insider. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.
  71. ^ “Today's Hits”. Apple Music (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  72. ^ “folklore Is Taylor Swift's Smoldering Pop Rebellion – Finally”. Spin. 24 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
  73. ^ a b Schwedel, Heather (25 tháng 7 năm 2020). “Every Proper Noun on Taylor Swift's Folklore, Charted”. Slate (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  74. ^ Ovenden, Olivia (3 tháng 8 năm 2020). “Dance Away The Bad News With The Best Albums Of 2020 (So Far)”. Esquire (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  75. ^ Mamo, Heran (27 tháng 7 năm 2020). “6 Things to Know About Rebekah Harkness, the Muse Behind Taylor Swift's 'The Last Great American Dynasty'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
  76. ^ a b c d e Bruner, Raisa (24 tháng 7 năm 2020). “Let's Break Down Taylor Swift's Tender New Album Folklore”. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.
  77. ^ a b c Curto, Justin (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift and Bon Iver Find Perfect Harmony on 'exile'. Vulture. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  78. ^ a b c d e f Gutowitz, Jill (24 tháng 7 năm 2020). “What Is Every Song on Taylor Swift's Folklore Actually About?”. Vulture (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  79. ^ a b c Carsom, Sarah (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift, Folklore, review: a dazzling, timeless surprise album”. i. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  80. ^ Mamo, Heran (24 tháng 7 năm 2020). “What's Your Favorite Song on Taylor Swift's 'Folklore'? Vote!”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
  81. ^ Nilles, Billy (25 tháng 7 năm 2020). “The MixtapE! Presents Taylor Swift, Brandy and More New Music Musts”. E! Online. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
  82. ^ Nguyen, Giselle Au-Nhien (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's new album is a fever dream you won't want to wake up from”. The Sydney Morning Herald. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  83. ^ a b c d e Wood, Mikael (26 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore': All 16 songs, ranked”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2020.
  84. ^ a b c Rosen, Jody (24 tháng 7 năm 2020). “Review: Taylor Swift's radically intimate 'Folklore' is the perfect quar album”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2020.
  85. ^ a b Moulton, Katie (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's folklore Dismantles Her Own Self-Mythologizing: Review”. Consequence of Sound. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  86. ^ a b c d e f g Kaplan, Ilana (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Is at Her Most Emotionally Raw On Surprise New Album 'Folklore'. British Vogue (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  87. ^ a b c Johnston, Maura (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift forges her own path on the confident Folklore: Review”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  88. ^ a b Gardner, Abby (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Folklore Album Review: Breaking Down All the References and Easter Eggs”. Glamour (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  89. ^ a b Zaleski, Annie (4 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift writes her own version of history on folklore”. The A.V. Club. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2020.
  90. ^ Caramanica, Jon (26 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift, a Pop Star Done With Pop”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
  91. ^ a b Zaleski, Annie (4 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift writes her own version of history on folklore”. The A.V. Club. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2020.
  92. ^ Hearon, Sarah (6 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift Confirms Blake Lively, Ryan Reynolds' Daughter Is Named Betty”. Us Weekly (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  93. ^ a b c Willman, Chris (8 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift, Prince, Bon Iver and More in Fri 5, the Best Songs of the Week”. Variety (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  94. ^ Whitfield, Zoe (24 tháng 9 năm 2020). “Meet the photographer behind Taylor Swift's folklore artwork”. i-D. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  95. ^ a b Frank, Allegra (24 tháng 7 năm 2020). “The 6 songs that explain Taylor Swift's new album, Folklore”. Vox (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  96. ^ a b Decker, Megan (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Did Her Own Hair For Her 'Folklore' Drop”. Refinery29 (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  97. ^ “the "in the trees" edition deluxe cd + digital standard album”. Taylor Swift Official Store. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020.
  98. ^ a b c d e f Huber, Eliza (24 tháng 7 năm 2020). “Will Prairie & Cottagecore Fashion Define Taylor Swift's Folklore Era?”. Refinery29 (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  99. ^ a b Wohlmacher, John (27 tháng 7 năm 2020). “Album Review: Taylor Swift – folklore”. Beats Per Minute (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  100. ^ Spellings, Sarah (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Unveils a Surprisingly Moody Look for Her New Album”. Vogue (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  101. ^ “Taylor Swift Appears to Alter 'folklore' Album Merch After The Folklore Calls Her Out”. InStyle (bằng tiếng Anh). 28 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  102. ^ Carras, Christi (15 tháng 12 năm 2020). “Another new Taylor Swift album in 2020? 'This takes a bit of explanation,' she says”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2020.
  103. ^ Bowman, Emma (9 tháng 8 năm 2020). “The Escapist Land Of 'Cottagecore,' From Marie Antoinette To Taylor Swift”. NPR. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2020.
  104. ^ Valentine, Claire (24 tháng 7 năm 2020). “18 'folklore' Lyrics For Your Next Cottagecore Post”. Nylon (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  105. ^ a b c Handler, Rachel (28 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's Freaky folklore Movie Mood Board”. Vulture. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  106. ^ Munzenrieder, Kyle (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Has Discovered Cottagecore”. W Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2020.
  107. ^ Power, Ed (28 tháng 7 năm 2020). “The arrival of Taylor Swift's Folklore is proof folk music is having a moment - but she's late to the shindig”. Irish Independent (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  108. ^ “A brief history of the cardigan, from Coco Chanel to Taylor Swift”. RTÉ. 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
  109. ^ Haran, Samantha (21 tháng 10 năm 2020). “On Taylor Swift's "Cardigan" and the Importance of Sentimental Value to Clothing”. Teen Vogue. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  110. ^ Clark, Lucie (27 tháng 7 năm 2020). “What is cottagecore? The phenomenon made popular by Taylor Swift”. Vogue. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020.
  111. ^ Corr, Julieanne (17 tháng 1 năm 2021). “Taylor photo sparks Swift sales jump for Aran sweaters”. The Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0140-0460. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  112. ^ Midkiff, Sarah (22 tháng 10 năm 2020). “The Coziest Costume Of 2020 Is Taylor Swift-Inspired, Duh”. Refinery29. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
  113. ^ Aquilina, Tyler (25 tháng 7 năm 2020). “Nicole Kidman shouts out Taylor Swift's 'Folklore' fashion in Instagram post”. Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  114. ^ Leight, Elias (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Finally Abandoned the Traditional Album Rollout”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020.
  115. ^ Fekadu, Mesfin (3 tháng 8 năm 2020). “Lucky No.7: Taylor Swift nabs 7th No.1 album with 'folklore'. Washington Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  116. ^ a b “folklore”. Amazon. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
  117. ^ Hissong, Samantha (20 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift Starts Frenzy at Indie Record Stores With Surprise Signed 'Folklore' CDs”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2020.
  118. ^ Lavin, Will (19 tháng 9 năm 2020). “Taylor Swift sends 40 signed copies of 'Folklore' to Edinburgh record store”. NME (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  119. ^ Tannenbaum, Emily (1 tháng 8 năm 2020). “All the Celebrities Who Received a 'Folklore' Cardigan From Taylor Swift”. Glamour (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  120. ^ Rowley, Glenn (21 tháng 9 năm 2020). “Here are All of Taylor Swift's 'Folklore' Chapters (So Far) in One Place”. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2020.
  121. ^ “Taylor Swift to release surprise ninth album 'Evermore' tonight”. NME (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  122. ^ McHenry, Jackson (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Wants to Sell You a 'Cardigan' Cardigan”. Vulture (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  123. ^ “Hot/Modern/AC Future Releases”. All Access. All Access Media Group. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  124. ^ “Top 40/M Future Releases”. All Access. All Access Media Group. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  125. ^ a b c “Taylor Swift Debuts at No. 1 on Hot 100 With 'Cardigan,' Is 1st Artist to Open Atop Hot 100 & Billboard 200 in Same Week”. Billboard. 3 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
  126. ^ Trust, Gary (28 tháng 1 năm 2021). “Taylor Swift's 'Coney Island' and 'No Body, No Crime' Debut on Airplay Charts, Joining 'Willow'. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  127. ^ “Future Releases on Triple A (AAA) Radio Stations, Independent Artist Song Releases | ...”. All Access (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  128. ^ “Future Releases for Country Radio Stations | New Music Artist Free Song | AllAccess.com”. All Access (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  129. ^ Asker, Jim (3 tháng 8 năm 2020). “Janson's Work Is 'Done' With Country Airplay Coronation; Swift, Shelton & Stefani Debut In Hot Country Songs Top 10” (PDF). Billboard Country Update: 4. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2020.
  130. ^ "the 1" – Taylor Swift veröffentlicht neue Single aus Rekord-Album "folklore". Universal Music (bằng tiếng Đức). 9 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020.
  131. ^ Kreps, Daniel (24 tháng 7 năm 2021). “Taylor Swift Shares Orchestral Version of 'The Lakes' on 'Folklore' Anniversary”. Rolling Stone. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2021.
  132. ^ Spangler, Todd (24 tháng 11 năm 2020). “Taylor Swift 'Folklore' Concert Film to Debut on Disney Plus”. Variety. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2020.
  133. ^ “Apple Music - Taylor Swift - folklore: the long pond studio sessions (from the Disney+ special) [deluxe edition]”. Apple Music. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2020.
  134. ^ “Folklore by Taylor Swift reviews”. AnyDecentMusic?. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  135. ^ a b “Folklore by Taylor Swift Reviews and Tracks”. Metacritic. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2020.
  136. ^ a b Erlewine, Stephen Thomas. “folklore – Taylor Swift”. AllMusic. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2020.
  137. ^ Willman, Chris (24 tháng 7 năm 2020). “Review: Taylor Swift's 'Folklore' a reflective set created in COVID-19 isolation”. Chicago Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2020.
  138. ^ a b O'Connor, Roisin (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift, Folklore review: New album is exquisite, piano-based poetry”. The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  139. ^ Copsey, Rob (26 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift 'Folklore' songs to dominate Official Singles Chart”. Official Charts Company. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2020.
  140. ^ Levine, Nick (26 tháng 7 năm 2020). “The Last Great American Dynasty: how Taylor Swift found her spirit animal in the eccentric heiress Rebekah Harkness”. The Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2020.
  141. ^ a b Iyer, Kahini (28 tháng 12 năm 2020). “How Taylor Swift Bottled 2020's Ennui in Two Sublime Albums”. Yahoo! News. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2020.
  142. ^ “Taylor Swift's Folklore is the first album of 2020 to sell a million copies”. BBC. 26 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2020.
  143. ^ Savage, Mark (24 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's Folklore sees the singer go indie”. BBC News. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  144. ^ Mylrea, Hannah (23 tháng 9 năm 2020). “NME Recommends: the best autumnal albums”. NME. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2020.
  145. ^ Christgau, Robert (9 tháng 9 năm 2020). “Consumer Guide: September, 2020”. And It Don't Stop. Substack. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2020.
  146. ^ Caramanica, Jon (26 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift, a Pop Star Done With Pop”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
  147. ^ Ahlgrim, Callie (15 tháng 9 năm 2020). “The 16 best songs of 2020”. Insider. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2020.
  148. ^ “Complex Staff Picks: Our Favorite Songs and Albums of 2020”. Complex. 30 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
  149. ^ “The 100 Best Songs of 2020”. Pitchfork. 7 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2020.
  150. ^ “The 29 Best Songs of 2020, According to Vogue Editors”. Vogue. 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2020.
  151. ^ Leas, Ryan (8 tháng 12 năm 2020). “Stereogum's 60 Favorite Songs Of 2020”. Stereogum. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2020.
  152. ^ Bernstein, Jonathan; Blistein, Jon; Blake, Emily; Dolan, Jon; Ehrlich, Brenna; Freeman, Jon; Grow, Kory; Hoard, Christian; Leight, Elias; Martoccio, Angie; Shaffer, Claire; Sheffield, Rob (7 tháng 12 năm 2020). “The 50 Best Songs of 2020”. Rolling Stone. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2020.
  153. ^ “All the Songs That Got Teen Vogue Editors Through 2020”. Teen Vogue. 3 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2020.
  154. ^ Ganz, Jacob. “The 100 Best Songs Of 2020 (Nos. 40-21)”. NPR. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2020.
  155. ^ Pareles, Jon; Caramanica, Jon; Zoladz, Lindsay (7 tháng 12 năm 2020). “Best Songs of 2020”. The New York Times. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2020.
  156. ^ “Best of 2020”. AllMusic. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2020.
  157. ^ “Favorite Pop Albums”. AllMusic. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2020.
  158. ^ “American Songwriter: Our Top Albums of the Year”. American Songwriter. 10 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2020.
  159. ^ Fekadu, Mesfin (9 tháng 12 năm 2020). “AP's Top Albums of 2020”. Associated Press. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2020.
  160. ^ Parker, James; Giorgis, Hannah; Kornhaber, Spencer; Cruz, Lenika (17 tháng 12 năm 2020). “The 16 Best Albums of 2020”. The Atlantic. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2020.
  161. ^ Purdom, Clayton; Kaseko, Baraka; McLevy, Alex; Scheetz, Cameron; Colburn, Randall; Zaleski, Annie; Corcoran, Nina; Miller, Shannon; Freedman, Max; Reeves, Mosi (15 tháng 12 năm 2020). “The 20 Best Albums of 2020”. The A. V. Club. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2020.
  162. ^ “Albums of the Year”. Banquet Records. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  163. ^ Levine, Nick (19 tháng 11 năm 2020). “The best albums and songs of 2020”. BBC. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2020.
  164. ^ Savage, Mark (22 tháng 12 năm 2020). “The best albums and songs of 2020: Fiona Apple, Cardi B, Bob Dylan and Dua Lipa”. BBC. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  165. ^ Tady, Scott (20 tháng 12 năm 2020). “Find the good in 2020 with these great albums”. The Beaver County Times. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  166. ^ “The 25 Best Pop Albums of 2020: Staff Picks”. Billboard. 14 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2020.
  167. ^ Johnston, Maura (24 tháng 12 năm 2020). “Top 12 Best Pop Albums of 2020”. Boston Globe. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  168. ^ “Chorus.fm's Top 30 Albums of 2020”. Chorus.fm. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2021.
  169. ^ “Clash Albums Of The Year 2020”. Clash. 15 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2020.
  170. ^ McKinney, Jessica; Gee, Andre; Skelton, Eric; Ortiz, Edwin; Khal; Diaz, Angel; Schube, Will; Setaro, Shawn; Wisenthal, Lucas (1 tháng 12 năm 2020). “The Best Albums of 2020”. Complex. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2020.
  171. ^ “Top 50 Albums of 2020”. Consequence of Sound. 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  172. ^ “Street's Favorite Albums of 2020”. 34th Street Magazine. 8 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2020.
  173. ^ “DIY's Albums of 2020”. DIY. 15 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2020.
  174. ^ “Dork's Albums of the Year 2020”. Dork. 15 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2020.
  175. ^ M. H. (7 tháng 12 năm 2020). “The Best Albums of 2020”. The Economist. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2020.
  176. ^ Greenblatt, Leah; Rodman, Sarah; Suskind, Alex (5 tháng 12 năm 2020). “The 15 Best Albums of 2020”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2020.
  177. ^ Miller, Matt; Vain, Madison; Holmes, Dave (21 tháng 12 năm 2020). “The Best Albums of 2020”. Esquire. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  178. ^ Ovenden, Olivia (11 tháng 12 năm 2020). “The 50 Best Albums of 2020”. Esquire (UK edition). Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  179. ^ Smyth, David (16 tháng 12 năm 2020). “Best albums of 2020: From Taylor Swift to Fontaines D.C.”. The Evening Standard. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  180. ^ “Exclaim!'s 50 Best Albums of 2020”. Exclaim!. 2 tháng 12 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2020.
  181. ^ Hunter-Tilney, Ludovic (21 tháng 12 năm 2020). “Best albums of 2020 in a mixed year for pop”. Financial Times. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  182. ^ Tucker, Ken (15 tháng 12 năm 2020). “A Year Like No Other: Ken Tucker Picks 10 Albums That Made An Art Of Escapism”. NPR. Fresh Air. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2020.
  183. ^ “Her er årets 20 bedste udenlandske album”. Gaffa (bằng tiếng Đan Mạch). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2020.
  184. ^ “The Gigwise 51 Best Albums of 2020”. Gigwise. 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2020.
  185. ^ Rosa, Christopher (15 tháng 12 năm 2020). “The 30 Best Albums of 2020”. Glamour. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2020.
  186. ^ Raible, Allan (28 tháng 12 năm 2020). “The 30 Best Albums of 2020”. Good Morning America. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2020.
  187. ^ “Best albums of 2020 that made the year more tolerable”. GQ. United Kingdom. 17 tháng 12 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2020.
  188. ^ “The 50 Best Albums of 2020”. The Guardian. 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.
  189. ^ Adams, Cameron (22 tháng 12 năm 2020). “The best and worst albums of 2020: From Kylie Minogue's 'Disco' to Katy Perry's 'Smile'. Herald Sun. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2020. (cần đăng ký mua)
  190. ^ a b “Hot Press Albums of 2020: The Top 10”. Hot Press. 30 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2020.
  191. ^ “Dit zijn Humo's 20 beste platen van 2020!”. HUMO (bằng tiếng Hà Lan). 7 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2020.
  192. ^ Wass, Mike (28 tháng 12 năm 2020). “The 70 Best Pop Albums Of 2020”. Idolator. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2020.
  193. ^ “The 40 Best Albums of 2020, from Bob Dylan's Rough and Rowdy Ways to Taylor Swift's Folklore”. Independent. 19 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  194. ^ a b Ahlgrim, Callie (9 tháng 12 năm 2020). “The 20 Best Albums of 2020, Ranked”. Insider. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2020.
  195. ^ “The best Irish and international albums of 2020”. The Irish Times. 19 tháng 12 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2020.
  196. ^ Berkman, Seth (23 tháng 12 năm 2020). “100 Best Albums of 2020”. Journal Star. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2020.
  197. ^ Dragaš, Aleksandar (24 tháng 12 năm 2020). “Glazbeni Kritičar Jutarnjeg izabrao najbolje strane albume u 2020. godini!”. Jutarnji list (bằng tiếng Croatia). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2021.
  198. ^ “The Best Albums of 2020 Ranked”. The Line of Best Fit. 3 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2020.
  199. ^ Mikael, Wood (9 tháng 12 năm 2020). “The 10 Best Albums of 2020”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2020.
  200. ^ “Ranked! Mandatory Top 10 of 2020: Music Albums of the Year”. Mandatory. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2021.
  201. ^ Harrington, Jim (23 tháng 12 năm 2020). “Rising hip-hop star ranks No. 1 on our Top 10 albums of 2020 list”. The Mercury News. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  202. ^ Dietz, Jason (24 tháng 12 năm 2020). “The 40 Best Albums of 2020”. Metacritic. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
  203. ^ “Best Albums, by Year 2020”. Metacritic. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2020.
  204. ^ Dietz, Jason. “Best of 2020: Music Critic Top Ten Lists”. Metacritic. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  205. ^ Jordan, Jerilyn (30 tháng 12 năm 2020). “The best new music that got us through the worst fucking year ever”. Metro Times. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2020.
  206. ^ Pearis, Bill (17 tháng 11 năm 2020). “MOJO's Top 75 Albums of 2020”. Brooklyn Vegan. Mojo. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2020.
  207. ^ “Los mejores discos internacionales de 2020” [The best international albums of 2020]. Mondo Sonoro (bằng tiếng Tây Ban Nha). 13 tháng 12 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  208. ^ Hubbard, Michael (16 tháng 12 năm 2020). “Top 50 Albums Of 2020”. musicOMH. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  209. ^ Hajdu, David (18 tháng 12 năm 2020). “The Best Albums of 2020”. The Nation. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  210. ^ “NBHAP's 50 Best Albums Of 2020”. NBHAP. 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2020.
  211. ^ “Best Albums of 2020”. New York Times. 2 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2020.
  212. ^ Pearce, Sheldon (9 tháng 12 năm 2020). “My Thirty Favorite Albums of 2020”. The New Yorker. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2020.
  213. ^ Olivier, Bobby (20 tháng 12 năm 2020). “The 50 Albums That Saved Us From 2020”. NJ.com. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  214. ^ a b “The 50 Best Albums Of 2020”. NME. 11 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2020.
  215. ^ “Scene's Best Albums of 2020”. The Observer (Notre Dame). 14 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2020.
  216. ^ “Official Charts staff pick their favourite songs and albums of 2020”. Official Charts Company. 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2020.
  217. ^ “EINDLIJST 2020”. OOR (bằng tiếng Hà Lan). 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2020.
  218. ^ Pappis, Konstantinos (14 tháng 12 năm 2020). “The 50 Best Albums of 2020”. Our Culture. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2020.
  219. ^ “The 15 Best Pop Albums of 2020”. Paste. 31 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
  220. ^ Nelson, Jeff (14 tháng 12 năm 2020). “PEOPLE Picks the Top 10 Albums of 2020”. People. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2020.
  221. ^ DeLuca, Dan (18 tháng 12 năm 2020). “The best albums of 2020, from Sault and Swift to Lil Uzi Vert and Springsteen”. The Philadelphia Inquirer. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  222. ^ L. Smith, Troy (3 tháng 12 năm 2020). “Best Albums of 2020: Taylor Swift, The Weeknd, Springsteen & more”. The Plain Dealer. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2020.
  223. ^ Whyte, Woodrow (14 tháng 12 năm 2020). “The 20 Best Albums of 2020”. PopBuzz. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2020.
  224. ^ Horowitz, Steve; Woronzoff, Elisabeth; Frahm, Jonathan (4 tháng 12 năm 2020). “The 25 Best Americana Albums of 2020”. PopMatters. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2020.
  225. ^ Cubit, Brea (14 tháng 12 năm 2020). “Presenting 50 of the Best Albums to Drop in 2020”. PopSugar. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2020.
  226. ^ “BEST OF 2020: RNZ Music's top 20 albums”. RNZ. 5 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2020.
  227. ^ a b Bernstein, Jonathan; Blake, Emily; Jon Dolan, Jon Blistein; Doyle, Patrick; Ehlrich, Brenna; Freeman, Jon; Grow, Kory; Hoard, Christian; Hudak, Joseph; Leight, Elias; Martoccio, Angie; Shaffer, Claire; Sheffield, Rob; Shteamer, Hank; Vozick-Levinson, Simon (4 tháng 12 năm 2020). “The 50 Best Albums of 2020”. Rolling Stone. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2020.
  228. ^ Varga, George (27 tháng 12 năm 2020). “2020 year in review: Best albums came as COVID-19 made music more essential than ever in a year we'd all like to forget”. San Diego Union-Tribune. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  229. ^ Campbell, Gordon (8 tháng 12 năm 2020). “On Werewolf's Best Music Of 2020”. Scoop. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2020.
  230. ^ “The Best Music of 2020”. Shondaland. 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  231. ^ “The Best Albums of 2020”. Slant Magazine. 9 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2020.
  232. ^ Wilson, Carl (5 tháng 12 năm 2020). “The Best Albums of 2020”. Slate. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2020.
  233. ^ Molanphy, Chris (19 tháng 12 năm 2020). “The Music Club, 2020”. Slate. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2020.
  234. ^ “2020 års bästa album”. Sonic (bằng tiếng Thụy Điển). 7 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2020.
  235. ^ “The best albums of 2020, from Taylor Swift to BTS and Dua Lipa”. South China Morning Post. 15 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2021.
  236. ^ “Top 20 Albums of 2020”. Spectrum Culture. 17 tháng 12 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  237. ^ Bream, Jon. “Best music of the worst year: Our music critics' favorite albums and songs of 2020”. Star Tribune. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2020.
  238. ^ “The 50 Best Albums Of 2020”. Stereogum. 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  239. ^ Cridlin, Jay (21 tháng 12 năm 2020). “The 10 best albums of 2020: Taylor Swift, Fiona Apple, Waxahatchee, more”. Tampa Bay Times. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  240. ^ “The 15 best albums of 2020: new music that pulled us through”. Time Out (bằng tiếng Anh). 10 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  241. ^ “Top 100 Albums of 2020 Part 1”. Under the Radar. 15 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2021.
  242. ^ “Walla Walla record store owner rates Taylor Swift's new album top of Top-10 for 2020”. Walla Walla Union-Bulletin. 31 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2021.
  243. ^ a b “The Best Albums of 2020”. Uproxx. 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  244. ^ “The Best Pop Albums Of 2020”. Uproxx. 8 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2020.
  245. ^ Ryan, Patrick (14 tháng 12 năm 2020). “The 10 best albums of 2020, including Taylor Swift, Phoebe Bridgers and Ariana Grande”. USA Today. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2020.
  246. ^ “10 Best Albums of 2020: Taylor Swift, Bob Dylan, The Weeknd and More”. US Weekly. 24 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2020.
  247. ^ “The Best Albums of 2020”. Variety. 14 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2020.
  248. ^ Horvat, Hrvoje (22 tháng 12 năm 2020). “U top 10 stranih albuma ima i veterana i novih imena, ali lockdownom vladaju žene”. Večernji list (bằng tiếng Croatia). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2021.
  249. ^ “The 100 Best Albums of 2020”. Vice. 8 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2020.
  250. ^ Collins, Hattie (22 tháng 12 năm 2020). “The 20 Best Albums of 2020”. Vogue. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  251. ^ DeLuca, Dan (9 tháng 12 năm 2020). “The Best Albums of 2020”. Vulture. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  252. ^ “Our Favourite 50 Albums Of 2020”. Wales Arts Review. 18 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
  253. ^ Andrew, Murphy. “20 of the best albums of 2020”. What Hi-Fi?. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.
  254. ^ Slater, Bailey (18 tháng 12 năm 2020). “THE BEST ALBUMS”. Wonderland. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  255. ^ “The Weeknd, Fiona Apple, Run the Jewels and more: Yahoo Entertainment staff picks for best albums of 2020”. Yahoo. 22 tháng 12 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2020.
  256. ^ Ortiz, Tania (26 tháng 12 năm 2020). “The Best Albums of 2020”. Young Hollywood. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2021.
  257. ^ “Taylor Swift Wins Album of the Year For 'Folklore' at 2021 Grammy Awards”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  258. ^ “2021 GRAMMYs: Complete Nominees List”. GRAMMY.com (bằng tiếng Anh). 24 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  259. ^ Montgomery, Daniel (9 tháng 1 năm 2021). “Taylor Swift/s 'Cardigan' is Grammys front-runner for Song of the Year, but here's why that would be an unlikely feat”. GoldDerby (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  260. ^ a b Shafer, Ellise (22 tháng 11 năm 2020). “American Music Awards 2020: The Full Winners List”. Billboard. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2020.
  261. ^ France, Lisa Respers (23 tháng 11 năm 2020). “Taylor Swift broke her own AMAs record and explained why she couldn't be there”. CNN. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2020.
  262. ^ “Swift wins top prize at AMAs, says she's re-recording music”. NBC News (bằng tiếng Anh). 23 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  263. ^ a b Stephenson, Kristen (29 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift breaks 24-hour streaming record on Spotify for 8th album folklore”. Guinness World Records. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2020.
  264. ^ Cooper, Nathanael (13 tháng 10 năm 2020). “From the back of the room to centre stage: Lime Cordiale sweep ARIA nominations”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2020.
  265. ^ Malec, Brett (15 tháng 11 năm 2020). “People's Choice Awards 2020 Winners: The Complete List”. E! Online. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2020.
  266. ^ Mathiasen, Marie Holm (28 tháng 11 năm 2020). “Her er vinderne ved 'Danish Music Awards'. Nyheder (bằng tiếng Đan Mạch). Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  267. ^ “Apple announces second annual Apple Music Awards”. Apple Inc. 18 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2020.
  268. ^ “NetEase Cloud Music”. Weibo. 21 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2020.
  269. ^ “Hvem er dine favoritter? STEM NU!” (bằng tiếng Đan Mạch). 6 tháng 2 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  270. ^ “2021 GRAMMYs: Complete Nominees List”. GRAMMY.com (bằng tiếng Anh). 24 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  271. ^ “ベスト3アルバム”. Gold Disc (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  272. ^ “Billboard Music Awards”. Hollywood Reporter. 29 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2021.
  273. ^ Fields, Taylor (28 tháng 5 năm 2021). “2021 iHeartRadio Music Awards: See The Full List Of Winners”. iHeart.
  274. ^ Gordon, Holly (9 tháng 3 năm 2021). “The Weeknd, JP Saxe, Jessie Reyez and Justin Bieber lead 2021 Juno Award nominations”. CBC Music.
  275. ^ “BTS' 'Dynamite' beats Taylor Swift's 'Cardigan' to record biggest Spotify debut of 2020 - Times of India”. The Times of India. 24 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2020.
  276. ^ Alexandra Steigrad (27 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift album 'Folklore' breaks Spotify, Apple Music streaming records”. New York Post. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2020.
  277. ^ “Taylor Swift breaks first day streaming records with 'Folklore'. NME. 25 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2020.
  278. ^ Aswad, Jem (25 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore' Sells 1.3 Million Copies in 24 Hours”. Variety. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  279. ^ Countryman, Eli (31 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore' Sells Over 2 Million Copies in First Week”. Variety (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  280. ^ a b Hissong, Samantha (27 tháng 7 năm 2020). 'Folklore' Is Already Bigger Than 'Lover' By Streams”. Rolling Stone (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  281. ^ a b Aniftos, Rania (1 tháng 12 năm 2020). “Bad Bunny, The Weeknd, Billie Eilish Lead Spotify's 2020 Year-End List”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  282. ^ “Holiday music listening started earlier in 2020 than ever before on Amazon Music”. Amazon. 22 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2021.
  283. ^ Brandle, Lars (11 tháng 3 năm 2021). “BTS Bag 'Unprecedented' 1-2 on IFPI's Global Album Sales Chart For 2020”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  284. ^ “BTS Crowned IFPI Global Recording Artist of 2020”. Billboard (bằng tiếng Anh). 4 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  285. ^ Caulfield, Keith (27 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore' Off to Fast Start, Over Half-Million Units Earned in U.S. in First Three Days”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.
  286. ^ a b Caulfield, Keith (2 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift Achieves Seventh No. 1 Album on Billboard 200 Chart & Biggest Week of 2020 With 'Folklore'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
  287. ^ “Taylor Swift & Barbra Streisand Are the Only Women to Achieve This Billboard 200 Chart Feat”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2020.
  288. ^ a b “Taylor Swift's 'Folklore' Debuts at No. 1 on Alternative Albums, 'Cardigan' Starts Atop Hot Rock & Alternative Songs”. Billboard. 3 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.
  289. ^ Constantino, George (14 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift's "folklore" is now fastest selling album of 2020”. ABC News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  290. ^ Caulfield, Keith (16 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore' Makes It a Third Week at No. 1 on Billboard 200 Chart”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2020.
  291. ^ Caulfield, Keith (23 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore' Rules for Fourth Week at No. 1 on Billboard 200 Albums Chart”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2020.
  292. ^ Grein, Paul (25 tháng 8 năm 2020). 'Folklore' Is Taylor Swift's Sixth Album to Top the Billboard 200 For Four Weeks: Just Four Other Artists Have Done That”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2020.
  293. ^ Caulfield, Keith (30 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore' Ties for Most Weeks at No. 1 in 2020 on Billboard 200 Albums Chart”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2020.
  294. ^ Caulfield, Keith (6 tháng 9 năm 2020). “Taylor Swift Ties Whitney Houston for Most Weeks at No. 1 Among Women in Billboard 200's History”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
  295. ^ Unterberger, Andrew (11 tháng 9 năm 2020). “Taylor Swift's Surprise Set 'Folklore' Had 2020's Biggest Debut – Here's How It's Still on Top Five Weeks Later”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2020.
  296. ^ Caulfield, Keith (27 tháng 9 năm 2020). “Taylor Swift Surpasses Whitney Houston for Most Weeks at No. 1 Among Women in Billboard 200's History”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2020.
  297. ^ “Taylor Swift's 'Folklore' Back at No. 1 on Billboard 200 Chart for Eighth Week”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  298. ^ Caulfield, Keith (23 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift Takes Nos. 1 & 2 on Billboard's Top Album Sales Chart With 'Evermore' and 'Folklore'. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  299. ^ “Taylor Swift's 'Evermore' Arrives at No. 1 on Billboard 200 Albums Chart”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2020.
  300. ^ Trust, Gary (3 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift Debuts at No. 1 on Hot 100 With 'Cardigan,' Is 1st Artist to Open Atop Hot 100 & Billboard 200 in Same Week”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2020.
  301. ^ Trust, Gary (3 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift Charts 16 Songs From 'Folklore' on Billboard Hot 100”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.
  302. ^ Caulfield, Keith (3 tháng 12 năm 2020). “The Year in Charts 2020: Post Malone Is the Top Artist for the Second Year in a Row”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  303. ^ a b c d “2020 Year-End Billboard charts”. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2020.
  304. ^ Mayfield, Geoff (19 tháng 11 năm 2020). “Taylor Swift's Masters: What Shamrock Gets for $300 Million, Why It Matters, and What's Next”. Variety (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  305. ^ Blake, Emily (5 tháng 1 năm 2021). 'Folklore' Is Officially the Biggest Album of 2020”. Rolling Stone. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2021.
  306. ^ a b “MRC Data Year-End Report U.S. 2020” (PDF). Billboard. tr. 46, 47. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2021.
  307. ^ Caulfield, Keith (8 tháng 1 năm 2021). “Taylor Swift Has the Top-Selling Album of the Year in U.S. for Historic Fifth Time”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  308. ^ a b Caulfield, Keith (13 tháng 7 năm 2021). “Olivia Rodrigo & Morgan Wallen Lead MRC Data's 2021 Midyear Charts”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  309. ^ “Taylor Swift – Canadian Albums Chart History”. Billboard. 23 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2020.
  310. ^ “Taylor Swift – Canadian Hot 100 History”. Billboard. 17 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2020.
  311. ^ White, Jack (31 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift's Folklore debuts at UK Albums Number 1”. Official Charts (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  312. ^ Sutherland, Mark. “Inside Taylor Swift's all-conquering debut week for Folklore”. Music Week. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2020.
  313. ^ Ainsley, Helen (14 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift holds for a third week at Number 1 with Folklore”. Official Charts (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  314. ^ “Taylor Swift Set to Land Three 'Folklore' Tracks in U.K. Top 10”. Billboard. 27 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2020.
  315. ^ “Joel Corry & MNEK hold on to Number 1 with Head & Heart”. www.officialcharts.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  316. ^ @officialcharts (5 tháng 10 năm 2020). “#ChartFact: @taylorswift13's Folklore is the UK's most downloaded 2020 album release” (Tweet) – qua Twitter.
  317. ^ “Official Vinyl Albums Chart Top 40”. Official Charts Company (bằng tiếng Anh). 28 tháng 11 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  318. ^ White, Jack (31 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift breaks Irish Albums Chart record with Folklore”. Official Charts (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  319. ^ White, Jack (21 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift sees off Biffy Clyro to retain Ireland's Number 1 album”. Irish Recorded Music Association (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  320. ^ “Taylor Swift denies Metallica Irish Number 1”. IRMA (bằng tiếng Anh). 4 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  321. ^ “Ireland's Official Top 50 biggest albums of 2020 so far”. Official Charts Company. 7 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  322. ^ a b “Taylor Swift's "Folklore" Is Now Popular in China, QQ music is becoming this Euramerican star's first choice”. MarketWatch. 28 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2020.
  323. ^ Homewood, Ben (3 tháng 8 năm 2020). “Taylor Swift breaks US & global records with Folklore”. Music Week. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2020.
  324. ^ Stutz, Collin (19 tháng 12 năm 2020). “Lucian Grainge's Year-End Memo: An 'Incredibly Difficult' 2020, Label Successes & His COVID-19 Scare”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  325. ^ “Top 20 Singles”. Recording Industry Association of Malaysia. Recording Industry Association of Malaysia. 8 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  326. ^ “RIAS International Top Charts Week 31”. Recording Industry Association (Singapore). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2020.
  327. ^ “Taylor Swift claims sixth #1 album with folklore”. ARIA Charts. 1 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
  328. ^ “Cardigan lands Taylor Swift sixth #1 single”. ARIA Charts. 1 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
  329. ^ “Folklore gives Taylor Swift third week at #1”. ARIA charts. 15 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.
  330. ^ “Fourth week at #1 for Taylor Swift's Folklore”. ARIA. 22 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2020.
  331. ^ a b “ARIA Top 100 Albums for 2020”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2021.
  332. ^ “The Official New Zealand Music Chart (Week of August 3, 2020)”. The Official NZ Music Chart (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  333. ^ “The Official New Zealand Music Chart (Week of August 17, 2020)”. The Official NZ Music Chart (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  334. ^ “The Official New Zealand Music Chart”. The Official NZ Music Chart (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  335. ^ a b “Official Top 40 Albums”. Recorded Music NZ. 2020. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2020.
  336. ^ Sanchez, Alexandra (24 tháng 7 năm 2021). “AFS Explains "What is Folklore?" in Response to Taylor Swift's New Album Release”. American Folklore Society. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2021.
  337. ^ Hyden, Steven (14 tháng 12 năm 2020). “How Taylor Swift Reinvented Herself With 'Folklore' And Now 'Evermore'. Uproxx. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  338. ^ Fagen, Lucas (19 tháng 9 năm 2020). “Taylor Swift's Quarantine Folktales”. Hyperallergic. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2020.
  339. ^ Richards, Will (27 tháng 11 năm 2020). 'Folklore: The Long Pond Sessions' review: secrets, songs and self-isolation with Taylor Swift”. NME. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2020.
  340. ^ White, Caitlin (8 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift's 'Folklore' Changed The Tone Of Pop In 2020”. Uproxx. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  341. ^ Magan, Valerie (28 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift - Folklore”. Clash. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2020.
  342. ^ “The First (And Hopefully Last) Quarries In which we award the most scrappy, absurd, ingenious works that shaped our year in quarantine”. Vulture. 7 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2020.
  343. ^ Maitland, Hayley (1 tháng 9 năm 2020). “The Best, Worst & Downright Ugliest Moments Of Lockdown Culture”. Vogue. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2020.
  344. ^ Lange, Jeva (25 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift has made the first great pandemic art”. The Week (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  345. ^ “Who have been the most influential women of 2020? FT readers respond”. Financial Times. 6 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2020.
  346. ^ Hull, Tom (27 tháng 7 năm 2020). “Music Week”. Tom Hull – on the Web. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2020.
  347. ^ Havens, Lyndsey (29 tháng 12 năm 2020). “Taylor Swift, Dua Lipa and More Innovated In the Pandemic — But What Strategies Will Stick?”. Billboard. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
  348. ^ “Genius Year In Lyrics: The Top Albums Of 2020”. Genius. 30 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2020.
  349. ^ “Genius Year In Lyrics: The Top Artists Of 2020”. Genius. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
  350. ^ Christman, Ed (19 tháng 7 năm 2021). “Billboard's 2020 Global Money Makers: The 5 Top Highest Paid Musicians”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  351. ^ Christman, Ed (19 tháng 7 năm 2021). “Billboard's U.S. Money Makers: The Top Paid Musicians of 2020”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  352. ^ “Hayley Williams is releasing 'Flowers For Vases / Descansos' tomorrow”. NME. 5 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  353. ^ Rossignol, Derrick (8 tháng 8 năm 2020). “Phoebe Bridgers Hilariously Compared Taylor Swift's New Music And Hers”. UPROXX. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2021.
  354. ^ “What Will Be The Impact Of Olivia Rodrigo's "Drivers License" And Its Historically Massive Debut?”. Stereogum. 18 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2021.
  355. ^ Curto, Justin (11 tháng 1 năm 2021). “Olivia Rodrigo's 'drivers license' Is Nothing New — of Course It's a Hit”. Vulture. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2021.
  356. ^ “Zahara dedica a Taylor Swift el adelanto de su próximo disco” [Zahara dedicates the advancement of her next album to Taylor Swift]. Chicago Tribune (bằng tiếng Tây Ban Nha). 12 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  357. ^ a b Folklore (booklet). Taylor Swift. Hoa Kỳ: Republic Records. 2020. B003271102.Quản lý CS1: khác (liên kết)
  358. ^ a b “folklore on TIDAL”. Tidal (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  359. ^ a b “フォークロア [スペシャル・エディション][CD][+DVD]” (bằng tiếng Nhật). Universal Music Japan. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  360. ^ “folklore”. YouTube. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
  361. ^ a b “The Escapism Chapter EP”. Apple Music. 21 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2020.
  362. ^ a b “The Sleepless Nights Chapter EP”. Apple Music. 24 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
  363. ^ a b “The Saltbox House Chapter EP”. Apple Music. 27 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2020.
  364. ^ a b “The Yeah I Showed Up at Your Party Chapter EP”. Apple Music. 21 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2020.
  365. ^ “Los discos más vendidos de la semana”. Diario de Cultura (bằng tiếng Tây Ban Nha). Argentine Chamber of Phonograms and Videograms Producers. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  366. ^ "Australiancharts.com – Taylor Swift – Folklore". Hung Medien. Truy cập August 9, 2020.
  367. ^ "Austriancharts.at – Taylor Swift – Folklore" (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập August 5, 2020.
  368. ^ "Ultratop.be – Taylor Swift – Folklore" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập July 31, 2020.
  369. ^ "Ultratop.be – Taylor Swift – Folklore" (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập July 31, 2020.
  370. ^ "Taylor Swift Chart History (Canadian Albums)". Billboard. Truy cập August 4, 2020.
  371. ^ “Lista prodaje 37. tjedan 2020” (bằng tiếng Hungary). Top of the Shops. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  372. ^ "Czech Albums – Top 100". ČNS IFPI. Ghi chú: Trên trang biểu đồ này, chọn 202031 trên trường này ở bên cạnh từ "Zobrazit", và sau đó nhấp qua từ để truy xuất dữ liệu biểu đồ chính xác. Truy cập August 3, 2020.
  373. ^ "Danishcharts.dk – Taylor Swift – Folklore". Hung Medien. Truy cập August 16, 2020.
  374. ^ "Dutchcharts.nl – Taylor Swift – Folklore" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập July 31, 2020.
  375. ^ “EESTI TIPP-40 MUUSIKAS: Popmuusika võtab oma!”. Estonia. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.
  376. ^ "Taylor Swift: Folklore" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập August 16, 2020.
  377. ^ "Lescharts.com – Taylor Swift – Folklore". Hung Medien. Truy cập August 16, 2020.
  378. ^ "Offiziellecharts.de – Taylor Swift – Folklore" (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment Charts. Truy cập August 14, 2020.
  379. ^ “Top-75 Albums Sales Chart - Week 14/2021”. IFPI Greece. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2021.
  380. ^ "Album Top 40 slágerlista – 2020. 31. hét" (bằng tiếng Hungaria). MAHASZ. Truy cập August 8, 2020.
  381. ^ “TÓNLISTINN – PLÖTUR | Vika 31 – 2020” (bằng tiếng Iceland). Plötutíðindi. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  382. ^ "Official Irish Albums Chart Top 50". Official Charts Company. Truy cập July 31, 2020.
  383. ^ "Italiancharts.com – Taylor Swift – Folklore". Hung Medien. Truy cập August 16, 2020.
  384. ^ “Folklore on Billboard Japan Hot Albums”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  385. ^ “Taylor Swift”. Oricon. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2020.
  386. ^ “ALBUMŲ TOP100” (bằng tiếng Lithuania). AGATA. 31 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  387. ^ "Charts.nz – Taylor Swift – Folklore". Hung Medien. Truy cập August 16, 2020.
  388. ^ "Norwegiancharts.com – Taylor Swift – Folklore". Hung Medien. Truy cập August 16, 2020.
  389. ^ "Oficjalna lista sprzedaży :: OLiS - Official Retail Sales Chart". OLiS. Polish Society of the Phonographic Industry. Truy cập August 21, 2020.
  390. ^ "Portuguesecharts.com – Taylor Swift – Folklore". Hung Medien. Truy cập August 22, 2020.
  391. ^ "Official Scottish Albums Chart Top 100". Official Charts Company. Truy cập July 31, 2020.
  392. ^ “SK - Albums Top 100” (bằng tiếng Séc). International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  393. ^ “Gaon Album Chart – Week 36, 2020”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2019.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  394. ^ “Top 100 Albumes – Semana 31: del 24.7.2020 al 30.7.2020” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  395. ^ "Swedishcharts.com – Taylor Swift – Folklore". Hung Medien. Truy cập July 31, 2020.
  396. ^ "Swisscharts.com – Taylor Swift – Folklore". Hung Medien. Truy cập August 5, 2020.
  397. ^ "Official Albums Chart Top 100". Official Charts Company. Truy cập July 31, 2020.
  398. ^ “Rankings (Septiembre 2020)” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Cámara Uruguaya del Disco. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  399. ^ "Taylor Swift Chart History (Billboard 200)". Billboard. Truy cập August 4, 2020.
  400. ^ "Taylor Swift Chart History (Top Alternative Albums)". Billboard. Truy cập August 8, 2020.
  401. ^ “Ö3 Austria Top40 Longplay 2020”. Ö3 Austria Top 40. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
  402. ^ “Jaaroverzichten 2020”. Ultratop. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2020.
  403. ^ “Top Canadian Albums – Year-End 2020”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2020.
  404. ^ “Album Top-100 2020”. Hitlisten. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2021.
  405. ^ “Jaaroverzichten – Album 2020” (bằng tiếng Hà Lan). MegaCharts. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  406. ^ “Top 100 Album-Jahrescharts 2020” (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  407. ^ White, Jack (10 tháng 1 năm 2021). “Ireland's Official Top 50 biggest albums of 2020”. Official Charts Company. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2021.
  408. ^ “Top Vendas Acumuladas – 2020 (semana 1 a 53) – Top 100 Álbuns” [Top Accumulated Sales 2020 (Week 1 to 53) – Top 100 Albums] (PDF). Audiogest (bằng tiếng Bồ Đào Nha). tr. 1. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2021.
  409. ^ “Schweizer Jahreshitparade 2020”. hitparade.ch. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2020.
  410. ^ “End of Year Album Chart Top 100 - 2020”. Official Charts Company. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2021.
  411. ^ “ARIA Top 50 Albums Chart”. Australian Recording Industry Association. 21 tháng 12 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2020. Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  412. ^ “Canada certifications – Taylor Swift – Folklore”. Music Canada.
  413. ^ “TOP ALBUMS (Total sales)” (PDF). Billboard. tr. 39. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2021.
  414. ^ “Denmark album certifications – Taylor Swift – Folklore”. IFPI Đan Mạch.
  415. ^ “Japan certifications – Taylor Swift – Folklore” (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Nhật Bản.
  416. ^ “Monthly Albums Chart”. Oricon (bằng tiếng Nhật). 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  417. ^ “New Zealand album certifications – Taylor Swift – Folklore”. Recorded Music NZ.
  418. ^ “Britain album certifications – Taylor Swift – Folklore” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry.
  419. ^ “American album certifications – Taylor Swift – folklore” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  420. ^ Bailey, Alyssa (23 tháng 7 năm 2020). “Taylor Swift Announces She'll Be Dropping Her 8th Album 'Folklore' at Midnight and Shares Tracklist”. ELLE (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  421. ^ “Taylor Swift's Folklore gets early CD release in the UK”. www.officialcharts.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  422. ^ “フォークロア [CD]” (bằng tiếng Nhật). Universal Music Japan. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  423. ^ Hein, Emily. “How to watch Taylor Swift's 'Folklore' concert film on Disney Plus when it premieres on November 25”. Business Insider. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2020.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]