Found footage (thể loại)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Found footage là một thể loại làm phim, đặc biệt là về mảng phim kinh dị. Đặc trưng của thể loại này là trong hầu hết thời lượng của bộ phim, phần quay phim được trình chiếu dưới dạng các đoạn phim được tìm thấy hoặc là các đoạn video đang ghi hình bằng nhiều thiết bị khác nhau như máy quay cầm tay hoặc máy quay an ninh từ các nhân vật chính bị mất tích hoặc đã chết.[1][2][3] Các sự kiện diễn ra trên màn hình cũng được một trong các nhân vật có liên quan nhìn thấy, người thường xuyên chỉ được nghe giọng mà không xuất hiện. Việc ghi hình có thể được thực hiện bởi chính diễn viên khi họ vừa đọc lời thoại, cộng với việc sử dụng hiệu ứng rung máy quay và diễn xuất một cách tự nhiên. Trong khi thể loại này hiếm khi được sử dụng trong những thập niên trước, duy chỉ với bộ phim Cannibal Holocaust vào năm 1980 là có sử dụng, thì loại hình phim này chỉ mới thật sự phổ biến sau khi phát hành các bộ phim như The Blair Witch Project (1999), Paranormal Activity (2007), REC (2007), Quarantine (2008), Cloverfield (2008) và Chronicle (2012).[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Devin Faraci (2009). “Found footage is now officially a horror genre”. chud.com. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2009. 
  2. ^ “Defining the Found Footage Genre”. In It For The Kills: Horror Perspectives. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2009. 
  3. ^ “MAN ON WIRE helmer jumping on the found footage horror bandwagon with THE VATICAN TAPES!”. aintitcool.com. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2009. 
  4. ^ “Editorial: An Apologist's Rant: In Defense of Found Footage”. Dread Central. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2012.