François Marie d'Aboville

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
François Marie d'Aboville
Laroche - François Marie d'Aboville.jpg
Tiểu sử
Binh nghiệp

François-Marie d'Aboville, Đệ nhất Bá tước d'Aboville và Đế quốc, sinh ngày 23 tháng 1 năm 1730 tại Brest, mất ngày 1 tháng 11 năm 1817 tại Paris, là một vị Tướng và chính khách Pháp trong cuộc Cách mạng Pháp và Đệ nhất Đế quốc.

Các con trai của ông Augustin Gabriel d'AbovilleAugustin Marie d'Aboville đều nối nghiệp cha mình, là tướng pháo binh trong thời kỳ cách mạng và Đệ nhất Đế quốc[1].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế và gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Dòng họ d'Aboville

François-Marie d'Aboville là hậu duệ của một gia đình quý tộc cổ có nguồn gốc ở Normandie với truyền thống nối tiếp phục vụ với vai trò sĩ quan. Danh tiếng của dòng họ d'Aboville bắt nguồn thừ các nhân vật Guillaume, Gilles, Jacques, Thomas và Jean d'Aboville, giáo sĩ Gonneville, en la sergenterie Valognes ở thế kỷ XV[2] · [3] · [4] · [5].

Bernardin d'Aboville, cha của François-Marie, là một viên tỉnh trưởng và chỉ huy pháo binh đóng tại Brest, chính tại đây ông được sinh ra ngày 23 tháng 1 năm 1730. Cha ông quyết định năm đó sẽ hạ sinh François-Marie. Đứa trẻ này sau đó đã được chú của mình là Julien d'Aboville, trung tướng, chỉ huy pháo binh dưới quyền maréchal de Saxe nâng đỡ. Vào thời đó, đây là một việc hoàn toàn bình thường khi một người trẻ dòng họ d'Aboville chọn binh nghiệp thăng tiến nhanh chóng khi được chú mình bảo bọc với tư cách ngoại lệ đặc biệt.

Binh nghiệp dưới triều Louis XVI[sửa | sửa mã nguồn]

Nhờ vào người chú là Tướng Julien d'Aboville, ông được giữ chức sĩ quan tùy viên, tham gia vào nhiều trận đánh. Vào lúc gần 17 tuổi, ông tham gia trận Fontenoy vào ngày 11 tháng 5 năm 1745, tại trận Lauffeld vào ngày 2 tháng 7 năm 1747, cũng như nhiều trận bao vây vùng flamand trong chiến tranh kế thừa Áo.

Con đường binh nghiệp của ông tiếp tục trong Chiến tranh Bảy năm. Lúc này ông nằm dưới quyền Nguyên soái d'Armentières, nổi danh trong trận bao vây Munster vào năm 1759. Ông được thăng lên hàm đại tá và được tham gia vào cuộc viễn chinh ở Hoa Kỳ.

François Marie d'Aboville arborant la croix de Saint-Louis et l'ordre de Cincinnatus, estampe de 1790.

Ông làm nhiệm vụ tổ chức Pháo binh của lực lượng viễn chinh Pháp trong Chiến tranh Độc lập Hoa Kỳ. Năm 1781, ông dự trận Yorktown với vai trò trưởng lực lượng pháo binh dưới quyền Rochambeau. Ông góp công vào sự đầu hàng của Tướng người Anh Cornwallis, vốn được người Mỹ và vị tướng này xác nhận[6]. Tài năng của ông trong trận này giúp d'Aboville thăng làm lữ đoàn trưởng bộ binh và các huy hiệu Hiệp sĩ Saint-Louishuân chương Cincinnatus.

Cách mạng Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cách mạng Pháp 1789

Ông được thăng làm maréchal de camp vào ngày 9 tháng 3 năm 1788. Năm 1789, ông nằm trong ủy ban quân sự trong quốc hội lập hiến tái hợp ở Paris, tại đây ông nổi bật nhờ vào kiến thức thấu đáo về nghệ thuật chiến tranh. Ông đã đề xuất nhiều cải cách quan trọng, như việc hợp nhất pháo binh và công binh, và việc thành lập đơn vị pháo binh dùng ngựa kéo, tất cả các kiến nghị này đều được thông qua. Ông là người đưa ra đề xuất Pháp nên sử dụng ngựa để kéo pháo binh, và đặc biệt là dùng bánh xe có trục bằng kim loại[7]. Sáng kiến này được áp dụng trong quân đội Pháp đã đi trước quân đội Phổ ba mươi nay dưới thời Frédéric Đại Đế.

Kể từ tháng 6 năm 1791, vua Louis XVI tìm cách thoát khỏi sự giám sát của Quốc hội lập hiến và sau đó bị bắt ở Varennes, d'Aboville gia nhập quốc hội nhằm đảm bảo sự trung thành của ông đối với tinh thần của Cách mạng Pháp. Ông được giao chỉ huy pháo binh của Quân đoàn phía Bắc, dưới quyền Tướng Rochambeau. Ở vị trí này, ông đã dự vào trận Valmy, dưới quyền Tướng Kellermann, mà trong đó pháo binh là đơn vị quyết định chiến thắng.

Từ 29 tháng 3 năm 1793 đến 28 tháng 4 năm 1793, ông là chỉ huy tạm quyền của Quân đoàn la Moselle. Sau sự kiện Dumouriez đào ngũ, ông đã tuyên thệ tuyệt đối trung thành với quân đội tại Sarrelouis vào ngày 12 tháng 4 năm 1793 (Đệ nhị Cộng Hòa), nhằm khẳng định sự không liên hệ với hành động phản bội của người tiền nhiệm: Bản mẫu:Citation bloc Ông được Hội đồng quốc gia thăng làm tướng sư đoàn vào ngày 28 tháng 4 năm 1793.

Tuy vậy, ông vẫn bị tình nghi và bị bắt giữ tại Soissons, ông và gia đình bị tống giam cùng với những quý tộc khác. Sau cuộc đảo chính 9 Thermidor, ông được tự do.

Đại sứ và Đệ nhất Đế chế[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi được phóng thích vào năm 1794, ông được trọng dụng cho các công việc tổ chức pháo binh ở nhiều nơi như Valenciennes, Condé, LandreciesLe Quesnoy. Ông cũng kiểm tra lực lượng pháo binh ở BỉHà Lan và sau đó được giữ trọng trách tổng kho vũ khí Paris và trưởng hội đồng pháo binh trung ương.

Sau ngày 18 tháng 2, ông được bầu làm quan thanh tra pháo binh cao cấp, một chức vụ bị bãi bỏ từ khi M. de Gribeauval qua đời. Ngày 14 tháng 9 năm 1802, ông được bầu làm thành viên Sénat conservateur.

D'Aboville, với vai trò là phó chủ tịch Sénat conservateur, tồn tại từ năm 1803. Ngày 21 tháng 5 năm 1804, ông nhận nhiệm vụ đi sứ tới Alexandrie, thăm giáo hoàng Pie VII và sau đó tháp tùng ông tới Paris, cho lễ sacre de Napoléon Ier. Ông được nhận huân chương bắc đẩu bội tinh ngày 14 tháng 6 năm 1804.

Trong tháng 10 năm 1805, ông được giao chức vệ binh quốc gia tại Doubs và các tổng kế cận. Tỉnh trưởng Brest vào 26 tháng 3 năm 1807, ông được phong bá tước Đế chế ngày 26 tháng 5 năm 1808.

Năm 1809, ông được cử tới Bỉ để chỉ huy các đơn vị trừ bị để hỗ trợ cảng Anvers, vốn đang bị quân Anh bao vây (cuộc viễn chinh của Walcheren).

Các chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Entré au service en qualité de surnuméraire dans l'artillerie en 1744;
  • Aide de camp de son oncle, commandant en chef de l'artillerie du maréchal de Saxe en 1747;
  • Commandant en chef de l'artillerie du comte de Rochambeau en 1780;
  • Brigadier d'infanterie le 5 décembre 1781;
  • Maréchal de camp le 9 mars 1788;
  • Lieutenant-général le 7 septembre 1792;
  • Commandant en chef de l'artillerie des armées du Nord et des Ardennes (1792);
  • Directeur de l'arsenal de Paris;
  • Président du comité central d'artillerie;
  • Premier inspecteur général de l'artillerie;
  • Commandant des gardes nationales du Doubs et de deux départements voisins en octobre 1805;
  • Gouverneur de la place de Brest le 26 mars 1807;
  • Commandant d'une armée de réserve destinée à porter secours au port d'Anvers menacé par les Anglais (1809).

Các chiến dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Autres fonctions[sửa | sửa mã nguồn]

Titres[sửa | sửa mã nguồn]

Distinctions[sửa | sửa mã nguồn]

Armoiries[sửa | sửa mã nguồn]

Figure Blasonnement
100px|alt= Blason Armes de la famille d'Aboville

De sinople, au château d'argent, ouvert, ajouré et maçonné de sable, flanqué de deux tours couvertes de toits pointus et girouettées du second. Supports: deux lions, au naturel.[9] · [10] · [11] · [12] · [13]

Bản mẫu:Armoiries avec ornements communs Armes du comte d'Aboville et de l'Empire

De pourpre au château flanqué de deux tours, le tout maçonné et ajouré de sable, la tour à sénestre surmontée d'un mât d'or sur lequel est hissé un pavillon de sinople porteur de trois lettres Chú thích trống (trợ giúp)  de sable, franc-quartier des comtes sénateurs.[8] · [9] · [14] · [15] · [16] · [11]

Bản mẫu:Armoiries avec ornements communs Armes du comte d'Aboville et pair de France

De sinople, au château flanqué de deux tours, couvertes de girouettes d'argent, ouvertes et ajourées de sable: adextré en chef d'un franc-quartier d'azur, au miroir d'or en pal, après lequel se tortille et se mire un serpent d'argent.[11]

Annexes[sửa | sửa mã nguồn]

Bibliographie[sửa | sửa mã nguồn]

Notes et références[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Les noms qui ont fait l'histoire de Bretagne: au moins quatre rues portent son nom en Bretagne (1997).
  2. ^ Gustave Chaix d'Est-Ange, Dictionnaire des familles françaises anciennes ou notables à la fin du Bản mẫu:S-, tome Bản mẫu:1er, pages 22 à 24 Article Aboville (d').
  3. ^ Régis Valette, Catalogue de la noblesse française subsistante au Bản mẫu:S-, année 2002, page 27.
  4. ^ Jullien de Courcelles 1826, tr. 101
  5. ^ Lievyns, Verdot & Bégat 1842, tr. 223
  6. ^ Chú thích trống (trợ giúp) 
  7. ^ Les noms qui ont fait l'histoire de Bretagne. tr. 22.
  8. ^ a ă â “BB/29/974 page 110.”. Titre de comte accordé à François Marie d'Aboville. Bayonne (15 tháng 10). Centre historique des Archives nationales (France). Truy cập 4 juin 2011.  Đã định rõ hơn một tham số trong |website=|work= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  9. ^ a ă Chú thích trống (trợ giúp) , et ses Compléments sur www.euraldic.com
  10. ^ [https://books.google.fr/books?id=3x0-AAAAcAAJ&pg=PA8&dq=Histoire+g%C3%A9n%C3%A9alogique+et+h%C3%A9raldique+des+pairs+de+France+Aboville&hl=fr&ei=-eeWTM_IG8yK4gbY5bmFBA&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=2&ved=0CDAQ6AEwAQ#v=onepage&q&f=true “Armorial g�n�ral de la France”]. Google Books. Truy cập 12 tháng 1 năm 2018. 
  11. ^ a ă â “Tout sur l'héraldique: dessin de blasons et d'armoiries”. Noblesse impériale. Truy cập 24 juin 2011.  Đã định rõ hơn một tham số trong |website=|work= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  12. ^ Source: www.labanquedublason2.com
  13. ^ Source: Armory of the French Hereditary Peerage (1814-30) sur www.heraldica.org
  14. ^ ARMORIAL DU PREMIER EMPIRE, Par Philippe LAMARQUE, Index armorum: Michel POPOFF, Iconographie: Gregor JAKUBOWSKI – BARTHEL de WEYDENTHAL, Éditions du Gui, page 141
  15. ^ Source: Armorial du Premier Empire, Vicomte Albert Révérend, Comte E. Villeroy
  16. ^ La noblesse d'Empire sur http://thierry.pouliquen.free.fr

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Articles connexes[sửa | sửa mã nguồn]

Liens externes[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Autres projets