Găng tay y tế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nha sĩ đeo găng tay nitrile.

Găng tay y tếgăng tay được dùng một lần sử dụng trong khám bệnh, thủ tục để giúp ngăn ngừa lây nhiễm chéo giữa người chăm sóc và bệnh nhân.[1] Găng tay y tế được làm từ các loại polymer khác nhau bao gồm latex, cao su nitrile, polyvinyl cloruaneoprene; chúng không được trộn bột, hoặc trộn với bột ngô để bôi trơn găng tay, giúp chúng dễ dàng hơn khi đeo vào tay.[2]

Bột ngô thay thế bột Lycopodium và bột Talc gây kích ứng mô, nhưng ngay cả bột ngô cũng có thể cản trở sự chữa lành nếu nó xâm nhập vào các mô (như trong khi phẫu thuật). Như vậy, găng tay không hóa chất được sử dụng thường xuyên hơn trong quá trình phẫu thuật và các thủ tục nhạy cảm khác. Các quy trình sản xuất đặc biệt được sử dụng để bù đắp cho việc thiếu bột.

Có hai loại găng tay y tế chính: khám bệnh và phẫu thuật. Găng tay phẫu thuật có kích thước chính xác hơn với độ chính xác và độ nhạy tốt hơn và được chế tạo theo tiêu chuẩn cao hơn. Găng tay kiểm tra có sẵn là vô trùng hoặc không vô trùng, trong khi găng tay phẫu thuật thường là vô trùng.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Caroline Hampton trở thành y tá trưởng của phòng phẫu thuật khi Bệnh viện Johns Hopkins mở cửa vào năm 1889.[4] Khi "(i) n mùa đông năm 1889 hoặc 1890", cô đã phát triển phản ứng da với clorua thủy ngân được sử dụng để vô trùng, William Halsted, sắp trở thành chồng cô, yêu cầu Công ty Cao su Goodyear sản xuất găng tay cao su mỏng cho cô để bảo vệ.[4] Năm 1894 Halsted thực hiện việc sử dụng găng tay y tế tiệt trùng tại Johns Hopkins.[5][6]

Glove materials

Găng tay y tế dùng một lần đầu tiên được sản xuất vào năm 1964 bởi Ansell. Họ dựa trên việc sản xuất các kỹ thuật để làm bao cao su.[7] Những găng tay này có một loạt các ứng dụng lâm sàng khác nhau, từ việc xử lý phân người đến các ứng dụng nha khoa.

Tội phạm cũng đã được biết là đeo găng tay y tế trong khi thực hiện tội ác. Những găng tay này thường được chọn vì độ mỏng và vừa vặn của chúng cho phép khéo léo. Tuy nhiên do độ mỏng của những chiếc găng tay này, dấu vân tay thực sự có thể xuyên qua vật liệu dưới dạng bản in găng tay, do đó chuyển vân tay của người đeo lên bề mặt chạm vào hoặc xử lý.[8]

Những người tham gia vụ trộm Watergate đã đeo găng tay phẫu thuật cao su trong nỗ lực che giấu dấu vân tay của họ.[9]

Kích cỡ[sửa | sửa mã nguồn]

Nói chung, găng tay kiểm tra có kích thước XS, S, M và L. Một số thương hiệu có thể cung cấp kích thước XL. Găng tay phẫu thuật thường có kích thước chính xác hơn vì chúng được đeo trong một khoảng thời gian dài hơn nhiều và đòi hỏi sự khéo léo đặc biệt. Kích cỡ của găng tay phẫu thuật dựa trên chiều dài đo được trên lòng bàn tay tính bằng inch, ở mức hơi cao hơn ngón tay cái. Kích thước điển hình nằm trong khoảng từ 5,5 đến 9.0 với mức tăng 0,5. Một số thương hiệu cũng có thể cung cấp kích thước 5.0, đặc biệt phù hợp với các học viên nữ. Người dùng lần đầu sử dụng găng tay phẫu thuật có thể mất một thời gian để tìm đúng kích cỡ và nhãn hiệu phù hợp với hình dạng bàn tay của họ nhất [10]. Những người có lòng bàn tay dày hơn có thể cần một kích thước lớn hơn so với phép đo và ngược lại.

Nghiên cứu trên một nhóm các bác sĩ phẫu thuật người Mỹ cho thấy kích cỡ găng tay phẫu thuật phổ biến nhất đối với nam giới là 7,0, tiếp theo là 6,5; và đối với phụ nữ 6.0 sau đó là 5.5 [11].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Medical Gloves and Gowns”. FDA. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2010. Medical gloves are disposable gloves used during medical procedures. Medical gloves help prevent contamination between caregivers and patients. Some are designed to prevent contact with certain chemotherapy drugs. Medical gloves include examination gloves, surgical gloves, and medical gloves for handling chemotherapy agents (chemotherapy gloves). These gloves are regulated by the Food and Drug Administration (FDA). FDA makes sure that manufacturers of these devices meet performance criteria such as leak resistance, tear resistance, etc. 
  2. ^ “Glove manufacturing”. Ansell.eu. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2012. 
  3. ^ “Personal Protective Equipment FAQ”. Centers for Disease Control and Prevention. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2013. 
  4. ^ a ă S. Robert Lathan. “Caroline Hampton Halsted: the first to use rubber gloves in the operating room”. Proc (Bayl Univ Med Cent) 23 (4): 389–92. PMC 2943454. PMID 20944762. 
  5. ^ “Hopkins Ceases Use Of Latex Gloves During Surgery”. WJZ-TV. 15 tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2010. A surgeon at Johns Hopkins Hospital is credited with being the first to introduce the rubber surgical glove back in 1894. 
  6. ^ “Rubber Gloves”. Johns Hopkins Hospital. 14 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2010. William Stewart Halsted, The Johns Hopkins Hospital’s first surgeon in chief, is credited as the first to develop and introduce rubber surgical gloves in the United States. That was in 1894, five years after the institution opened. 
  7. ^ “100 Years of Australian Innovation - latex gloves”. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2010. In 1945, Ansell designed and built the first automatic dipping machine, which produced 300 dozen pairs of synthetic gloves in eight hours. Ansell introduced disposable surgical gloves in 1964, which won the company an Export Award in 1967. International expansion over the next two decades saw Ansell become the world's largest producer of latex gloves for household and medical use. 
  8. ^ Robert Ramotowski (18 tháng 10 năm 2012). Lee and Gaensslen's Advances in Fingerprint Technology, Third Edition. CRC Press. tr. 171–. ISBN 978-1-4200-8837-3. 
  9. ^ “Watergate”. Spartacus.Schoolnet.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2012. 
  10. ^ “Surgical Gloves Size Chart”. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2017. 
  11. ^ Berguer R, R; Hreljac, A (2004). “The relationship between hand size and difficulty using surgical instruments: a survey of 726 laparoscopic surgeons”. Surgical Endoscopy (18(3)): 508–512. PMID 15100896. doi:10.1007/s00464-003-8824-3.