Gương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một cái gương, phản chiếu một cái lọ.

Gương (hay kiếng) là một vật thể có bề mặt phản xạ tốt, có nghĩa là bề mặt nhẵn đủ để tạo thành ảnh. Loại gương quen thuộc nhất là gương phẳng, có bề mặt là dạng phẳng. Gương cong (thường là gương lồi hoặc gương lõm) cũng được sử dụng trong thực tế, dùng để phóng to hoặc thu nhỏ ảnh, hoặc tập trung ánh sáng hay chỉ đơn giản làm méo ảnh phản chiếu.

Gương thường được dùng để trang điểm (hay nói một cách khác là "soi gương"), trang trí, hoặc trong kiến trúc. Gương cũng được sử dụng trong các thiết bị khoa học như kính thiên văn, laser, máy ảnh, và trong các máy công nghiệp. Hầu hết gương được thiết kế cho ánh sáng khả kiến; tuy nhiên gương cũng được thiết kế cho các loại sóng khác hoặc các bước sóng khác của bức xạ điện từ, đặc biệt trong các thiết bị quang học.

Lịch sử [1][sửa | sửa mã nguồn]

Ra đời khoảng 600 năm trước Công Nguyên. Thế nhưng, mãi đến thế kỷ XIX, nhân loại mới có được những chiếc gương như ngày nay

Hình thái hết sức sơ khai của chiếc gương có lẽ là mặt hồ nước yên tĩnh, mặt đá bóng nhoáng hoặc nước trong các thùng chứa. Một điều thú vị là từ khoảng năm 722 trước công nguyên trở đi đã xuất hiện các ký tự Trung Quốc cổ mang ý nghĩa chiếc gương. Đó là jian hoặc jing, nghĩa là "một chiếc bồn lớn đựng đầy nước." Từ đó cho thấy, chính tự nhiên đã cho con người những chiếc gương soi đầu tiên nhất. Đây cũng chính là hình thái quan trọng khiến cho con người có ý tưởng dựa vào và chế tạo ra gương soi sau này.

Những vật dụng mang hình thái chiếc gương đầu tiên được tìm thấy trong các ngôi cổ mộ tại khu vực tiểu Á. Trong một vùng định cư có niên đại từ 6200 đến 6000 năm trước công nguyên, thuộc thời đồ đá mới tại vùng Çatal Hüyük, nhà khảo cổ Mellaart đã tìm thấy được những chiếc gương đầu tiên. Khu vực khai quật hiện nay thuộc nghĩa trang vùng Konya, phía nam Thổ Nhĩ Kỳ.

Những chiếc gương này được chế tạo bằng cách đánh bóng obsidian (thủy tinh núi lửa, đá vỏ chai) và có một bề mặt phản chiếu hình tròn hoặc hình nón. Tuy bề mặt phản chiếu hơi lồi lõm nhưng vẫn được đánh bóng một cách có chủ đích. Đường kính mỗi chiếc gương vào khoảng 9 cm và điều đáng chú ý là có thể phản chiếu hình ảnh khá tốt.

Các nhà khảo cổ đã khẳng định rằng: "Các vật này đã được dùng làm gương soi với đầy đủ chức năng của một bề mặt phản chiếu. Đó là một điều không thể nào tranh cãi được." Hơn nữa, các nhà khảo cổ tìm thấy chiếc gương được gắn cẩn thận trên vách của một ngôi mộ. Đồng thời, dựa trên nội dung điêu khắc trong mộ cho thấy đây là một ngôi mộ của nữ giới.

Tiểu Á là khu vực có nhiều khoáng sản corundum và thủy tinh núi lửa. Corundum (còn được gọi là bột mài) là một máy mài và đánh bóng vật liệu từ tự nhiên với độ cứng 9 trong thang đo độ cứng Mohs, nó có thể dễ dàng được dùng để đánh bóng các dạng khoáng sản khác.

Các vậy thể chế tạo từ thủy tinh núi lửa sau đó đã được mang đi từ Tiểu Á đến những nơi khác dùng làm mũi giáo, đầu tên, dao, trục, rìu và đồ trang sức. Do đó, hoàn toàn hợp lý khi suy luận rằng những chiếc gương làm bằng thủy tinh núi lửa cũng xuất phát từ vùng Tiểu Á này. Các nhà khảo cổ còn cho biết rằng những chiếc gương trên có 1 mặt thô ráp, một mặt kia được đánh bóng bằng bột mài và da.

Trong báo cáo mới đây của Colin Renfrew, giáo sư khảo cổ tại Đại học Cambridge, đã khẳng định rằng khoảng 6000 năm trước công nguyên, Çatalhöyük là một trong những khu vực có dân số lên tới 10.000 người. Đây chính là trung tâm của sự phát triển nông nghiệp và ngôn ngữ. Nếu dự đoán của giáo sư Colin là chính xác thì Çatalhöyük và rộng hơn là xứ Anatolia chính là nơi đầu tiên chế tạo ra chiếc gương của loài người.

Những chiếc gương có niên đại tiếp theo được tìm thấy tại Ai Cập. Nhà khảo cổ William M, Flinders Petrie (1853 - 1942) cho rằng những phiến đá tảng đã được sử dụng làm gương soi trong thời kỳ Tiền triều đại Ai Cập. Các ghi chép của nhà khảo cổ Lilyquist cũng cho biết rằng nước bốc hơi rất nhanh trên những phiến đá này. Lilyquist còn khẳng định ngoài ra, những chiếc bát gốm được thiết kế để chứa đầy nước rõ ràng được dùng làm gương soi cũng được phát hiện được tại vùng Badari với niêm đại khoảng 4500 năm trước công nguyên. Các vật dụng tìm thấy tại Badari cũng có dấu vết của gỗ bao xung quanh được dự đoán là dùng làm khung của chiếc gương.

Các nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy di tích của những chiếc gương đồng đánh bóng có niên đại vào khoảng 4000 đến 3000 năm trước công nguyên tại thung lũng Tigris-Euphrates (hiện nay là vùng thuộc Irag). Bắt đầu từ thời điểm này, các nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy sự xuất hiện của những chiếc gương trong các món đồ điêu khác, trong các văn bản giấy cói,... tại các khu vực cổ đại thuộc vùng Lưỡng Hà, Ai Cập, và Levant.

Khác với những chiếc gương bề mặt phẳng được tìm thấy ban đầu, những chiếc gương tiếp theo có bề mặt lồi hoặc lõm. Dạng gương lồi nên nhìn thấy hình ảnh to trong một khu vực nhỏ của chiếc gương. Bề mặt lõm được dùng để phóng lớn các hình ảnh cần nhìn.

Giai đoạn này gương được con người ghép với những khả năng huyền bí và thường được sử dụng trong các cuộc tế lễ, tế thần.

Gương tại khu vực Đông và Trung Á, bao gồm cả Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà khảo cổ học cho rằng những chiếc gương tại Trung Quốc được phát triển một cách độc lập và có hình thái khác so với gương ở phương Tây. Họ khẳng định rằng tiền thân những chiếc gương tại Trung Quốc có nguồn gốc từ Siberia tại các khu vực Andronovo, Karasuk, phía bắc dãy núi Kavkaz gần biển đen.

Tại Trung Quốc, 2 chiếc gương được phát hiện tại Tây An, Thanh Hải có niên đại khoảng 2000 năm trước công nguyên thuộc nền văn hóa nước Tề. Tiếp theo đó, những chiếc gương cũng được tìm thấy tại lăng mộ của Phụ Hảo, 1 trong 60 phi tần của vua Phụ Hiến thuộc nhà Thương, có niên đại vào khoảng 1300-1028 năm trước công nguyên. Sau đó, gương được sử dụng một cách giới hạn tại Trung Quốc dưới thời Đông Chu (khoảng năm 1045-771 trước công nguyên).

Những chiếc gương thời bấy giờ có đường kính từ 6 đến 12 cm, chưa có trang trí và được xỏ một lỗ nhô lên ở chính giữa nhằm treo tấm gương lên. Gương giai đoạn này thường được chế tạo bằng đồng hoặc hợp kim của đồng nên có kích thước mỏng và độ cứng khá cao. Bằng chứng của những chiếc gương tiếp theo cũng được tìm thấy trên di tích con đường tơ lụa, trong những ngôi mộ cổ đại và được nhắc tới trong các văn bản cổ.

Trong giai đoạn này, gương cũng được con người gán cho những khả năng huyền bí như thấy được quá khứ và tương lai, đưa ra các lời chiêm tinh và thậm chí là có thể nhìn thấu nội tâm của 1 người. Các đặc điểm này tương tự như cách nhìn của con người về gương soi tại Ai Cập và các khu vực cổ xưa khác thuộc cùng đương đại.

Trung và Nam Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Các di tích gương soi cũng được tìm thấy tại Nam Mỹ bởi các nhà khảo cổ học với niên đại vào khoảng năm 1925 trước công nguyên trở đi. Tại Mexico, người ta đã tìm thấy những chiếc gương được chế tạo và sử dụng bởi những người Olmec, Mayan, và Teotihuacan thuộc nền văn hóa Maya.

Tại Nam Colombia và Bắc Ecuador, các kỹ thuật tinh chế và đánh bóng đá quý đã được phát triển dưới nền văn hóa La Tolita (năm 600 -300 trước công nguyên). Tại Peru, người ta cũng đã tìm thấy những chiếc gương làm từ pha lê với dấu hiệu có khung đồng bao xung quanh. Nhiều nơi khác tại Nam Mỹ, các nhà khảo cổ cũng đã tìm được các di tích hình thái chiếc gương được chế tạo và sử dụng.

Vào những năm 1125 đến 130 trước công nguyên tại châu Mỹ, người Olmec đã biết dùng kim loại để chế tạo nên gương soi. Các loại vật liệu thường được dùng là pyrit sắt, obsidian, anthracite. Những cổ vật tìm thấy hiện vẫn đang được trưng bày tại viện bảo tàng tại Mexico City nước Mỹ.

Thời kỳ này, gương được đánh bóng, một số có bề mặt bằng phẳng, nhưng phần lớn gương được chế tạo lõm với độ dài tiêu cự từ 5 đến 80 cm. Theo phân tích cho thấy, những chiếc gương này có thành phần bao gồm: magnetit, hematit, sắt pyrite. Theo các ghi chép tìm được, gương được dùng để tạo ra lửa, y học, bói toán chiêm tinh và thiên văn học.

Người La Mã với chiếc gương thủy tinh đầu tiên và bị cấm trong thời Trung Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Vào khoảng thế kỷ thứ 1, những chiếc gương bằng thủy tinh đầu tiên đã được người La Mã phát minh. Đây là nhờ vào sự phát minh ra phương pháp thổi thủy tinh vào đầu thế kỷ thứ 1 bới các người làm kính Syria. Ngay từ lần đầu tiên được chế tạo, người ta đã trao cho gương nhiều phẩm chất đặc biệt mà không vật nào có được. Các nhà triết học Hy Lạp đã khuyên những người đàn ông trẻ nên nhìn vào trong gương để luôn giữ cho linh hồn mình trong sạch, tránh xa những cám dỗ trong cuộc sống có thể đưa họ đến con đường sai trái.

Trong thời kỳ Trung Cổ, gương đã hoàn toàn biến mất do các tôn giáo đã cho rằng người ta có thể sử dụng gương để tìm kiếm quỷ dữ và xem được thế giới bên kia. Bấy giờ, ngòi ta phải sử dụng những mảnh kim loại đánh bóng hoặc một mặt nước để thay thế cho gương soi. Lịch sử phát triển của gương đã có một bước lùi do những quan niệm mê tín của con người thời đại này.

Sự trở lại của chiếc gương từ thế kỷ 13[sửa | sửa mã nguồn]

Mãi tới thế kỷ 13, những chiếc gương bằng kính mới quay trở lại thế giới con người. Vào thời gian này, người ta đã tìm được cách tráng thiếc lên thủy tinh. Với công nghệ sẵn có, trong quá trình thổi thủy tinh, người thợ làm kính sẽ đổ thiếc nóng chảy vào một bồn bằng thủy tinh, sau khi thiếc nguội đi, người thợ sẽ tách tấm thiếc ra và đính vào một mặt của tấm thủy tinh. Thời gian này vẫn chưa tìm được cách tráng thiếc lên thủy tinh một cách hoàn chỉnh.

3 thế kỷ sau, vào thế kỷ 15 tại Venice, những bậc thầy làm kính đã phát minh ra một kỹ thuật mới nhằm chế tạo gương phẳng bằng cách dùng thủy ngân để tráng lên mặt sau của gương. Họ đã tìm ra được cách tráng thủy tinh lên bề mặt phẳng của gương với một thủ thuật đặc biệt. Bên cạnh đó, những người thợ đã nghĩ ra phương pháp trộn vàng và đồng vào thiếc tạo thành một hỗn hợp đặc biệt để tráng lên gương cho phép hiển thị hình ảnh trong gương đẹp hơn. Cũng chính vì sử dụng hỗn hợp "đặc biệt" như vậy nên chi phí để chế tạo ra một tấm gương thời bấy giờ có thể sánh với việc đóng một chiếc tàu hải quân lớn.

Đến năm 1675, người thợ làm kính George Ravenscroft đã phát minh ra một thế hệ gương mới bằng cách thêm oxit chì vào hỗn hợp thủy ngân tráng gương cho phép chế tạo với giá thành rẻ. Việc phát trưởng gương dừng lại ở phương pháp dùng thủy ngân trong giai đoạn này.

Sau đó, gương bắt đầu được đón nhận và đi vào cuộc sống của mọi người. Dù vậy, tới thế kỷ 16 thì gương vẫn còn bị một số người xem là vật dụng có liên quan tới phù thủy và các nghi lễ huyền bí. 200 năm sau vào thế kỷ 16, một số điệp viên Tây Ban Nha và Pháp đã dùng gương để mã hóa và giải mã các thông điệp bằng hệ thống mật mã bằng gương do Leonardo da Vinci phát minh hồi thế kỷ 15. Tiếp theo, gương lại trở thành một bộ phận quan trọng trong việc phát minh ra kính tiềm vọng. Loại kính được dùng trong các hoạt động gián điệp trong chiến tranh nhằm gởi thông tin mật về mà không cần dùng con người đưa tin.

Bấy giờ, gương đã trở nên phổ biến với việc sản xuất các khung sang trọng dùng làm vật trang trí cho khắp các cung điện tại Châu Âu. Thời gian này kỹ thuật làm gương vẫn được các thợ làm kính tại Venice nắm giữ và cung cấp chủ yếu cho tầng lớp quý tộc với giá bán cực kỳ đắt đỏ. Tuy nhiên, bí mật của việc dùng thủy ngân tráng gương cuối cùng đã bị các gián điệp công nghiệp phát hiện và lan truyền đén London và Paris vào thế kỷ 17. Cuối cùng, các xưởng làm gương tại Pháp đã công nghiệp hóa quy trình làm gương với giá rẻ phù hợp với mọi người. Dù vậy, độc tính của thủy ngân vẫn là một vấn đề lớn.

Chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các loại gương được chế tạo bằng cách áo một lớp phản chiếu lên một chất nền thích hợp. Chất nền phổ biến nhất là thủy tinh vì dễ chế tạo, cứng và có bề mặt nhẵn. Ngoài ra, thủy tinh cũng chống trầy tốt hơn các chất liệu khác. Lớp phủ phản chiếu thường được đặt vào mặt sau của kính, do đó nó được bảo vệ khỏi sự ăn mòn và hư hại.Thời điểm ra đời của loại Gương này ?

Gương đồng hình tròn của vua Quang Trung tặng cho võ quan Đinh Huy Đạo, hiện trưng bày tại Bảo tàng Quang Trung (Bình Định).

Trước đây, gương được làm bằng kim loại (bằng đồng, về sau làm bằng bạc) và nó quá đắt để sử dụng rộng rãi cũng như dễ bị ăn mòn. Bề mặt của kim loại có tính phản xạ thấp làm cho các gương ngày xưa cho hình ảnh tối hơn so với các loại gương hiện đại, và nó không thích hợp để sử dụng trong nhà với ánh sáng nhân tạo (như đèn cầy hoặc đèn lồng lúc đó).

Hiệu ứng[sửa | sửa mã nguồn]

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Quan sát dễ dàng và an toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Kính chiếu hậu được sử dụng cho các loại xe như xe môtô, xe ôtô và cả xe đạp, cho phép người lái nhìn thấy xe đến từ phía sau họ. Nhiều loại kính mát cũng có chức năng tương tự, khi nhìn vào phía sát bên trái hoặc bên phải sẽ thấy được phía sau.

Gương lồi cho ảnh với góc nhìn lớn hơn so với gương phẳng. Loại gương này thường được đặt ở các giao lộ, các góc như trong bãi giữ xe để quan sát được phía góc bên kia nhằm tránh tai nạn. Nó cũng được dùng trong hệ thống an ninh, giúp một máy quay phim có thể thấy nhiều hơn một góc tại một thời điểm.

Các nha sĩ thường dùng một gương để quan sát những góc khó nhìn bên trong miệng bệnh nhân. Loại gương này cũng được các kỹ sư dùng để kiểm tra nhưng nơi hẹp và những góc khuất của thiết bị.

Gương hai chiều[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Gương hai chiều

Đây là loại gương có một mặt thủy tinh được phủ một lớp vật liệu rất mỏng và phản xạ rất nhẹ. Khi những mặt này được xoay về phía được chiếu sáng, thì một số ánh sáng sẽ phản xạ đi còn số khác sẽ xuyên qua bề mặt bên kia. Điều này làm cho người đứng bên phía mặt bên tối thấy được phía bên sáng nhưng bên phía sáng lại không nhìn thấy được bên tối.

Loại gương này thường dùng trong các phòng thẩm vấn của cảnh sát, các cửa kính xe bảo vệ chuyên dụng...

Truyền tín hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tivi và máy chiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Các thiết bị[sửa | sửa mã nguồn]

Ứng dụng trong quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Giải trí, trang trí[sửa | sửa mã nguồn]

Trang điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Trang trí[sửa | sửa mã nguồn]

Giải trí[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Văn chương[sửa | sửa mã nguồn]

Gương cũng xuất hiện trong văn chương của các nền văn hóa. Thí dụ trong truyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, hoàng hậu độc ác hỏi gương:

Gương kia ngự ở trên tường
Thế gian ai đẹp được dường như ta?

Một số truyện khác cũng có sự xuất hiện của gương như Alice lạc vào xứ sở thần tiên, Harry Potter...

Gương và sự mê tín[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta thường không để gương vào trong quan tài vì một lí do gì đó. Người Nhật cho rằng nó là vật linh thiêng nên không cho vào cùng người chết.

Gương và động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Voi châu Á có thể nhận biết ảnh chính nó trong gương

Các thí nghiệm cho thấy chỉ có những loài động vật có não lớn mới có thể nhận biết chính nó trong gương.[2]

Một số loài thú có thể nhận biết chính nó:

Các loại gương đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Gương lõm hội tụ ánh sáng
  • Gương cầu lồi: có bề mặt là một phần của hình cầu và có lớp bạc hướng về mặt lồi
  • Gương cầu lõm: có bề mặt là một phần hình cầu và có lớp bạc hướng về phía lõm

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “nguồn gốc ra đời”. 
  2. ^ “Elephants see themselves in the mirror”. Peter Aldhous. New Scientist. Ngày 30 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2007. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]