Galaxy Express 999 (phim)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Galaxy Express 999

Galaxy-express-999-1979-poster.jpg
Áp phích phim Nhật Bản của Galaxy Express 999
Đạo diễnRintaro
Kịch bảnIshimori Shiro[1]
Dựa trênGalaxy Express 999
của Matsumoto Leiji
Âm nhạcAoki Nozomu[1]
Quay phim
  • Masatoshi Fukui
  • Toshio Katayama[2]
Hãng sản xuất
Phát hànhToei
Công chiếu
  • 4 tháng 8, 1979 (1979-08-04) (Nhật Bản)
Độ dài
129 phút[2]
Quốc giaNhật Bản
Ngôn ngữTiếng Nhật
Doanh thu JP¥1.65 tỉ[4] ($7.612 triệu).[5]

Galaxy Express 999 (銀河鉄道999 Ginga tetsudō 999?) là một bộ phim anime Nhật Bản năm 1979 do Rintaro đạo diễn, dựa trên manga cùng tên.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

[1]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim là một bản làm lại đặc biệt năm đầu tiên của các tập phổ biến nhất của sê-ri truyền hình Galaxy Express 999 của Toei Animation.[2]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Galaxy Express 999 được phát hành tại Nhật Bản vào ngày 4 tháng 8 năm 1979, do công ty Toei phân phối và phát triển.[2][3] Đây là bộ phim có doanh thu cao nhất năm 1979 tại Nhật Bản.[6] Bộ phim đã được New World Pictures của Roger Corman chọn để phân phối tại Hoa Kỳ vào năm 1980.[7] Bộ phim là bộ anime đầu tiên nhận được phân phối tại các sân khấu ở Hoa Kỳ sau khi nổi lên phong trào anime fandom ở các nước Phương Tây.[2] Bộ phim được công chiếu tại Mỹ vào ngày 8 tháng 8 năm 1981.[8] Phiên bản phim của Mỹ đã được chỉnh sửa từ 129 phút thành 91 phút và đổi tên nhân vật như Hoshino Tetsuro thành Joey "Hana-cana-boba-camanda" Smith.[2]

Một đĩa DVD tiếng Anh của Galaxy Express 999 được phát hành vào ngày 28 tháng 6 năm 2011.[9]

Văn phong[sửa | sửa mã nguồn]

Galaxy Express 999 là bộ phim có doanh thu cao thứ tư trong năm 1979 ở Nhật Bản, thu được JP¥1.65 tỷ[4] ($7.612 triệu).[5]

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần 3 vào năm 1980, Galaxy Express 999 đạt giải Nổi bật cho phim.[10]

Variety gọi bộ phim là một "tính năng khoa học viễn tưởng thu hút người xem của Nhật Bản", nhưng ghi chú rằng "hoạt động ở định dạng hoạt ảnh giới hạn, nhược điểm chính trong đó là chuyển động hạn chế [...], bộ phim mang theo một màu sắc tinh tú, thiết kế phức tạp. Một khi người ta quen với việc thiếu chất lỏng, hoạt ảnh đầy đủ, hình ảnh giàu trí tưởng tượng và "pic đó xứng đáng có một góc nhìn thứ hai".[7]

Hậu quả và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim tiếp theo Adieu Galaxy Express 999 được phát hành năm 1981.[11]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “スタッフ&キャスト” (bằng tiếng Japanese). Toei Animation. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2016. 
  2. ^ a ă â b c d Beck 2005, tr. 91.
  3. ^ a ă “銀河鉄道999” (bằng tiếng Japanese). Einren.org. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2016. 
  4. ^ a ă “年度別映画興行成績#1979年” (bằng tiếng Japanese). 
  5. ^ a ă “Currency converter in the past with official exchange rates from 1953”. fxtop. Ngày 4 tháng 8 năm 1979. 
  6. ^ Macias 2003, tr. 6.
  7. ^ a ă Willis 1985, tr. 407: "Review is of a 91 minute English language-version viewed in New York on ngày 27 tháng 7 năm 1982"
  8. ^ Beck 2005, tr. 90.
  9. ^ “The Galaxy Express 999”. AllMovie. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2016. 
  10. ^ “日本アカデミー賞公式サイト” (bằng tiếng Japanese). Japanese Academy Awards. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2016. 
  11. ^ Camp 2007, tr. 125.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Beck, Jerry (2005). The Animated Movie Guide. Chicago Review Press. ISBN 1569762228. 
  • Camp, Brian; Davis, Julie (2007). Anime Classics Zettai!: 100 Must-See Japanese Animation Masterpieces. Stone Bridge Press. ISBN 1933330228. 
  • Macias, Patrick (2003). Anime Poster Art: Japan's Movie House Masterpieces. DH Publishing Inc. ISBN 0972312447. 
  • Willis, Donald biên tập (1985). Variety's Complete Science Fiction Reviews. Garland Publishing Inc. ISBN 978-0-8240-6263-7. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]