Gambit Hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Gambit Hậu
abcdefgh
8
Chessboard480.svg
a8 black rook
b8 black knight
c8 black bishop
d8 black queen
e8 black king
f8 black bishop
g8 black knight
h8 black rook
a7 black pawn
b7 black pawn
c7 black pawn
e7 black pawn
f7 black pawn
g7 black pawn
h7 black pawn
d5 black pawn
c4 white pawn
d4 white pawn
a2 white pawn
b2 white pawn
e2 white pawn
f2 white pawn
g2 white pawn
h2 white pawn
a1 white rook
b1 white knight
c1 white bishop
d1 white queen
e1 white king
f1 white bishop
g1 white knight
h1 white rook
8
77
66
55
44
33
22
11
abcdefgh
Nước đi 1.d4 d5 2.c4
ECO D06–D69
Nguồn gốc before 1497
Một dạng của Closed Game

Gambit Hậu là một khai cuộc bắt đầu bằng các nước cờ:

1. d4 d5
2. c4

Gambit Hậu là một trong những khai cuộc cờ vua lâu đời nhất được biết đến. Nó đã được đề cập trong bản thảo của Gottech vào năm 1490 và sau đó được phân tích bởi các bậc thầy như Gioachino Greco trong thế kỷ 17. Vào thế kỷ 18, nó được đề xuất bởi Phillip Stamma và đôi khi được gọi là Aleppo Gambit để vinh danh ông.[1] Trong thời kỳ đầu của cờ vua hiện đại, khai cuộc chốt Hậu không phải là gu ưa thích của các kì thủ và Gambit Hậu đã không trở nên phổ biến cho đến giải đấu năm 1873 tại Vienna.

Khi Wilhelm SteinitzSiegbert Tarrasch phát triển lý thuyết cờ vua và đánh giá cao về thế trận ván cờ, Gambit Hậu ngày càng nổi tiếng, và đạt đến đỉnh cao vào những năm 1920 và 1930, và được chơi trong tất cả các trận trừ hai trong số 34 trận đấu trong Giải vô địch thế giới năm 1927 giữa José Raúl CapablancaAlexander Alekhine.

Sau khi các hoạt động cờ vua trên toàn thế giới được nối lại sau Thế chiến II, Gambit Hậu ít được thấy hơn, vì nhiều người chơi quân Đen tránh các khai cuộc đối xứng, và có xu hướng sử dụng Phòng thủ Ấn Độ để chống lại khai cuộc chốt Hậu.

Gambit Hậu vẫn thường xuyên được chơi và nó vẫn là một phần quan trọng trong khai cuộc của nhiều Đại kiện tướng.[2]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Với 2.c4, Trắng đe dọa sẽ trao đổi một con chốt cánh (chốt cột c) để lấy một con tốt ở trung tâm (chốt ở cột d của Đen) và kiểm soát trung tâm với e2 – e4. Đây không phải là một gambit thực sự, vì Đen không thể giữ chốt, ví dụ: 1.d4 d5 2.c4 dxc4 3.e3 b5? (Đen cố gắng bảo vệ con tốt của họ nhưng thực tế nên tiếp tục phát triển quân với 3... e5!) 4.a4 c6? 5.axb5 cxb5 ?? 6. Qf3!, lợi thế về chất.

Gambit Hậu được chia thành hai loại chính dựa trên phản ứng của Đen: Gambit Hậu chấp nhận (Queen's Gambit Accepted) và Gambit Hậu từ chối (Queen's Gambit Declined). Trong Gambit Hậu chấp nhận, Đen chơi 2... dxc4, tạm thời từ bỏ trung tâm để có được sự phát triển tự do hơn. Trong Gambit Hậu từ chối, Đen thường chơi để giữ d5. Thường thì Đen sẽ bị cô đọng, nhưng Đen nhằm mục đích trao đổi các quân cờ và sử dụng chốt để tấn công ở c5 và e5 để giải phóng thế trận của họ.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 1.d4 d5 2.c4:

Về mặt thực tiễn, bất kỳ đòn đáp trả nào của Đen ngoài 2... dxc4 (hoặc một biến khác có... dxc4 từ sớm và chuyển sang Gambit Hậu chấp nhận) đều bị Gambit Hậu từ chối, nhưng Phòng thủ Slav, Albin Countergambit và Phòng thủ Chigorin thường được xử lý riêng. Có rất nhiều biến Gambit Hậu từ chối sau 2... e6, nhiều trong số chúng đủ khác biệt để được nghiên cứu riêng biệt. Phòng thủ Chính thống và Phòng thủ Tarrasch là hai ví dụ quan trọng.

Có nhiều biến khác để đáp trả có thể xảy ra:

  • Phòng thủ Slav là một phòng thủ chắc chắn, mặc dù nhiều biến thể mang tính chiến thuật cao. Nếu Đen chơi cả... c6 và... e6 (theo một trong hai thứ tự), thì khai cuộc có các đặc điểm của cả Slav và Phòng thủ Chính thống và được phân loại là Phòng thủ Semi-Slav.
  • Albin Countergambit là một nỗ lực sắc bén để Đen giành được thế chủ động. Nó không phổ biến trong cờ vua đỉnh cao nhưng có thể là một vũ khí nguy hiểm trong những ván cờ đường phố.
  • Chigorin Defense đưa trò chơi ra khỏi các thế trận thông thường của Gambit Hậu từ chối, và được Alexander Morozevich ưa chuộng ở những ván cờ đỉnh cao; Nó dường như có thể dùng để chơi cho Đen.
  • Phòng thủ Baltic là khả dĩ và có thể chơi được.
  • Symmetric Defense rất hiếm khi được chơi. Mặc dù nó chưa được bác bỏ hoàn toàn, thế trận dường như thiên về Trắng.
  • Phòng thủ Marshall khá yếu. Được đặt theo tên Frank Marshall, người đầu tiên nghĩ ra nước đi này, ông đã chơi một thời gian ngắn vào những năm 1920 trước khi từ bỏ nó.
  • 2... g6?! 3.cxd5 Qxd5 (3... Nf6 4. Qa4 +/−) 4. Nc3 Qa5 5. Nf3 Bg7 6. Bd2 c6 7.e4 Qb6 8. Bc4 ! Bxd4 9. Nxd4 Qxd4 10. Qb3 Qg7 11,0-0 +/- (Minev).[4]

Nếu Trắng chơi fianchetto với tượng cánh vua, thì trò chơi sẽ chuyển sang khai cuộc Catalan.

Liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sarratt, J. H. (27 tháng 1 năm 2006). The Works of Damiano, Ruy-Lopez, and Salvio on the Game of Chess. T. Boosey, (the New York Public Library) (Digitized). ISBN 9781145601765. 
  2. ^ S., Tevis, Walter (2003). The Queen's gambit (ấn bản 1). New York: Vintage Contemporaries. ISBN 9781400030606. OCLC 51844969. 
  3. ^ Benjamin, Joel; Schiller, Eric (1987). Unorthodox Openings. Macmillan Publishing Company. tr. 97. ISBN 0-02-016590-0. Queen's Gambit Declined: Alekhine Idea 1 d4 d5 2 c4 g6 
  4. ^ Matanović, Aleksandar biên tập (1987). Encyclopaedia of Chess Openings D (ấn bản 2). Yugoslavia: Chess Informant. tr. 44. ISBN 86-7297-008-X. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]