Ganja, Azerbaijan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Ganca)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ganja
Gəncə
—  Thành phố  —
Montage of Ganja city 2016.jpg
Ấn chương chính thức của Ganja
Ấn chương
Tên hiệu: Thành phố đỏ
Ganja trên bản đồ Azerbaijan
Ganja
Ganja
Quốc gia  Azerbaijan
Chính quyền
 • Thị trưởng Elmar Valiyev
Diện tích
 • Tổng cộng 170 km2 (70 mi2)
Độ cao 408 m (1,339 ft)
Dân số (2015)
 • Tổng cộng 325.200
 • Mật độ 2.848/km2 (7,380/mi2)
 • Hạng dân số ở Azerbaijan Thứ hai
Tên cư dân Ağali,Lələ,Küçəli
Múi giờ GMT+4 (UTC+4)
Mã bưu chính AZ2000
Mã ISO 3166 AZ-GA sửa dữ liệu
Biển số xe 20 AZ
Thành phố kết nghĩa Moskva, Konya, Ordu, Kars, Newark, New Jersey, Rustavi, Dushanbe, Kutaisi sửa dữ liệu
Trang web www.ganca.net

Ganja (tiếng Azerbaijan: Gəncə, Ҝәнҹә [ˈgænd͡ʒæ]) là thành phố lớn thứ hai của Azerbaijan, với dân số khoảng 325.200 người.[1][2] Nó từng có cái tên Elisabethpol (tiếng Nga: Елизаветпо́ль, chuyển tự. Yelizavetpol, IPA [jɪlʲɪzəvʲɪtˈpolʲ]) vào thời kỳ thuộc Đế quốc Nga. Thành phố lấy lại tên cũ Ganja năm 1920 khi mới gia nhập Liên Xô. Tuy nhiên, năm 1935 nó lại được đổi tên thành Kirovabad (tiếng Nga: Кироваба́д, IPA [kʲɪrəvɐˈbat]) và giữ tên đó trong hầu hết thời kỳ Xô Viết còn lại. Năm 1989, trong cuộc Perestroika, cái tên "Ganja" lại được lấy ra sử dụng.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Ganja là thành phố lớn thứ nhì Azerbaijan sau Baku với khoảng 313.300 dân. Thành phố cũng là nơi cư ngụ của nhiều người Azerbaijan từ Armenia và Nagorno-Karabakh. Số lượng những người này được ước tính là 33.000 năm 2011.[3]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Ganja có khí hậu bán hoang mạc (phân loại khí hậu Köppen: BSk).

Dữ liệu khí hậu của Ganja (1981–2010, extremes 1890–2014)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 22.8 25.0 28.0 35.6 39.5 39.2 42.0 41.7 38.8 33.4 28.0 23.3 42,0
Trung bình cao °C (°F) 7.0 8.2 12.7 18.7 23.4 28.7 31.6 31.1 26.3 19.5 12.9 8.4 19,0
Trung bình ngày, °C (°F) 3.2 3.9 7.8 13.4 18.1 23.2 26.2 25.6 21.1 15.0 8.9 4.7 14,3
Trung bình thấp, °C (°F) 0.5 1.0 4.3 9.4 13.8 18.6 21.4 21.0 16.8 11.6 6.2 2.1 10,6
Thấp kỉ lục, °C (°F) −17.8 −15.2 −12 −4.4 1.5 5.8 10.1 10.5 2.8 −1.3 −7.9 −13 −17,8
Giáng thủy mm (inch) 8
(0.31)
12
(0.47)
24
(0.94)
31
(1.22)
40
(1.57)
32
(1.26)
17
(0.67)
15
(0.59)
15
(0.59)
24
(0.94)
16
(0.63)
7
(0.28)
241
(9,49)
độ ẩm 71 71 68 70 68 61 59 61 65 74 76 74 68
Số ngày giáng thủy TB (≥ 0.1 mm) 7.0 7.0 8.0 8.2 9.0 7.0 4.0 3.0 4.0 6.3 6.5 6.0 76,0
Số ngày mưa TB 3 4 6 8 9 6 4 3 4 6 6 4 63
Số ngày tuyết rơi TB 3 5 2 0.2 0 0 0 0 0 0.4 1 2 14
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 120 113 141 182 229 267 278 252 212 168 123 115 2.200
Nguồn #1: Deutscher Wetterdienst (sun, 1961–1990)[4][5][a]
Nguồn #2: Pogoda.ru.net[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Station ID for Gandja is 37735 Use this station ID to locate the sunshine duration
  1. ^ Azərbaycan Respublikası. — 2. Azərbaycan Respublikasının iqtisadi və inzibati rayonları. — 2.4. Azərbaycan Respublikasının iqtisadi və inzibati rayonlarının ərazisi, əhalisinin sayı və sıxlığı, səhifə 66. // Azərbaycanın əhalisi (statistik bülleten). Müəllifi: Azərbaycan Respublikasının Dövlət Statistika Komitəsi. Buraxılışa məsul şəxs: Rza Allahverdiyev. Bakı — 2015, 134 səhifə.
  2. ^ Bölmə 2: Demoqrafik göstəricilər, səhifə 89. // Azərbaycanın Statistik Göstəriciləri 2015 (statistik məcmuə). Müəllifi: Azərbaycan Respublikası Dövlət Statistika Komitəsi. Məcmuənin ümumi rəhbəri: Həmid Bağırov; Məcmuənin hazırlanması üçün məsul şəxs: Rafael Süleymanov. Bakı — 2015, 814 səhifə.
  3. ^ Ganja City Executive Power official web page, retrieved 9 March 2012
  4. ^ “Klimatafel von Gjandscha (Kirowabad/Elisawetpol) / Aserbaidschan” (PDF). Baseline climate means (1961-1990) from stations all over the world (bằng tiếng German). Deutscher Wetterdienst. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2016. 
  5. ^ “Station 37735 Gandja”. Global station data 1961–1990—Sunshine Duration. Deutscher Wetterdienst. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2016. 
  6. ^ “Weather and Climate- The Climate of Ganja” (bằng tiếng Russian). Weather and Climate (Погода и климат). Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2016.